Năm 1966, khi đất nước ta đang còn chiến tranh ác liệt, Hội Toán học Việt Nam đã được Chính phủ chính thức ra quyết định thành lập. Từ đó đến nay, Hội đã trải qua một chặng đường 40 năm - một quãng thời gian không nhỏ trong sự phát triển đầy biến động của đất nước. Có lẽ cũng cần nhìn lại một cách khái quát về những gì chúng ta đã có, đang có với hy vọng hình dung được những gì cần có trong chặng đường trước mặt. Phải nói rằng, cộng đồng toán học Việt Nam là một cộng đồng giàu trí tuệ, đã có ít nhiều truyền thống, nhưng cũng đang đứng trước không ít khó khăn và thách thức. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả phác hoạ vài nét về thực trạng tình hình toán học nước ta, từ đó gợi lên đôi điều đáng suy nghĩ.

Chưa bao giờ toán học có vai trò quan trọng như ngày nay

VÀI SUY NGHĨ VỀ TOÁN HỌC VÀ CỘNG ĐỒNG TOÁN HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY

GS.TSKH Phạm Thế Long - GS.TSKH Đỗ Long Vân

Sự phát triển của tất cả các ngành khoa học, kể cả khoa học cơ bản cũng như khoa học ứng dụng, và tất cả các ngành công nghiệp then chốt như dầu khí, viễn thông, hàng không... đều không thể thiếu toán học, và ngày càng gắn bó mật thiết hơn với toán học. Ngay sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT), một lĩnh vực đang đưa lại những hiệu quả cực kỳ to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng khởi nguồn và chủ yếu dựa trên toán học. Cũng chính CNTT đã làm cho nhiều ứng dụng kỳ diệu của toán học thật sự bùng nổ, mà ví dụ tiêu biểu có thể thấy đó là việc thay thế có hệ thống phần lớn các thử nghiệm tốn kém và mất thời gian trong thiết kế bằng phương pháp mô hình hoá toán học vừa tiết kiệm, nhanh chóng, vừa cho phép rút ra những thông tin ẩn khuất nhờ những phép toán tinh vi từ những khối dữ kiện khổng lồ. CNTT cũng đã đưa toán học thâm nhập ngày càng sâu vào kinh tế và quản lý hiện đại. Việc kết hợp chặt chẽ quản lý+công nghệ+tổ chức+toán học nhằm nâng cao khả năng quản lý chiến lược trong môi trường biến động nhanh là nét chuyển hướng mới trong đào tạo các nhà quản lý cao cấp ở các nước. Ngày nay, toán học không đơn thuần chỉ là công cụ như nó đã từng như vậy trong nhiều năm trước đây, mà đã thực sự trở thành một bộ phận không tách rời của những phát minh mới nhất, giá trị nhất. Chẳng phải ngẫu nhiên mà phần lớn các giải Nobel về kinh tế từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây đều được trao cho các nhà nghiên cứu toán kinh tế hoặc các nhà toán học trong lĩnh vực này.

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, sự phát triển kinh tế của một đất nước không phải bao giờ cũng do tài nguyên thiên nhiên quyết định, mà nhiều khi lại phụ thuộc chủ yếu vào trình độ dân trí. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore... đã trở thành những nước công nghiệp phát triển sau một thời gian ngắn, mặc dù các nước này khá nghèo về tài nguyên. Toán học có vị trí đặc biệt trong việc nâng cao và phát triển dân trí, góp phần tạo nên nguồn tài nguyên chất xám - nguồn tài nguyên quý nhất cho đất nước. Có lẽ không có ngành khoa học nào, tự nhiên cũng như xã hội, có thể so sánh được với toán học về mật độ xuất hiện của nó trong chương trình đào tạo ở mọi ngành và mọi bậc học. Đó là bởi vì toán học không chỉ cung cấp cho con người những kỹ năng tính toán cần thiết, mà còn (và đây là điều chủ yếu) rèn luyện cho con người khả năng tư duy logic, một phương pháp luận khoa học. Xã hội ngày nay đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ suy luận, biết so sánh, phân tích, ước lượng, tính toán, hiểu và vận dụng được những mối quan hệ định lượng hoặc lôgic, xây dựng và kiểm định các giả thuyết và mô hình để rút ra những kết luận có tính lôgic. Nói cách khác, trong thế giới hiện đại ngày nay, năng suất lao động phụ thuộc không nhỏ vào vốn hiểu biết định lượng, tức là vốn văn hoá tính toán của đội ngũ những người lao động, cái văn hoá do giáo dục toán học cung cấp. Thế nhưng vai trò quan trọng này của toán học lại thường ít được nhận biết, vì tuy nó thể hiện ở mọi nơi, mọi lúc, ở mỗi con người, nhưng lại không phải là một cái gì đó cụ thể, có thể nắm bắt, cân đong đo đếm!

Việt Nam ngày nay được đánh giá là có một nền giáo dục và nghiên cứu toán học tương đối tốt...
Xét trên bình diện quốc tế thì đây là hiện tượng “quý hiếm”, vì nước ta vốn là một nước nghèo, chậm phát triển, trải qua chiến tranh kéo dài và không có truyền thống toán học lâu đời.

Những ai đã từng chứng kiến thực trạng toán học Việt Nam những năm 60, khi đất nước mới ra khỏi cuộc chiến tranh chống Pháp, chắc sẽ thấy rõ sự phát triển và trưởng thành nhanh chóng của lĩnh vực này. Từ một tập thể với 10-15 cán bộ giảng dạy trong mỗi khoa toán của vài trường đại học thuở ấy như Sư phạm, Bách khoa, Tổng hợp, mà hầu hết chỉ mới tốt nghiệp đại học, chúng ta đã tiến dần lên có được hàng trăm nhà toán học, trong đó nhiều người được quốc tế tôn trọng và thừa nhận. Các nhà toán học này đã đào tạo nên hàng chục ngàn giáo viên giảng dạy toán từ bậc phổ thông đến đại học trên khắp mọi miền đất nước. Cũng các nhà toán học ấy đã góp phần đào tạo nên hàng vạn kỹ sư hoạt động trên tất cả các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, an ninh và quốc phòng. Từ chỗ chủ yếu phải gửi sinh viên và cán bộ trẻ ra nước ngoài học tập, ngày nay chúng ta đã có được một đội ngũ cán bộ nghiên cứu toán học trình độ cao, đủ sức cập nhật những tri thức toán học mới nhất, sáng tạo hàng ngàn công trình khoa học công bố trên các tạp chí toán học thế giới, hợp tác một cách bình đẳng với đồng nghiệp quốc tế. Chính thông qua nghiên cứu khoa học, chúng ta đã đủ sức tự đào tạo hàng trăm TS, hàng chục TSKH đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nhờ những đóng góp vào những nghiên cứu mang tính đột phá trong nhiều lĩnh vực toán học khác nhau, năm 1995 Viện Toán học đã được công nhận là một trong 10 viện xuất sắc (Institute of Excellence) của Viện hàn lâm khoa học thế giới thứ ba.

Ngay từ buổi đầu phát triển, những nhà toán học Việt Nam đã rất quan tâm đến việc đưa toán học phục vụ trực tiếp cho đời sống. Có thể kể ra ở đây những ứng dụng “vang bóng một thời” của vận trù học, việc giải quyết các bài toán nước thấm, nổ mìn định hướng trong thời chiến, cũng như những ứng dụng của toán kinh tế, lý thuyết hệ thống, điều khiển học, thống kê toán học, các phương pháp ngẫu nhiên và giải tích số... trong thời bình. Những ứng dụng khác nhau của toán học vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, một mặt, đã góp phần nâng cao năng suất lao động, cải tiến công tác quản lý, hỗ trợ việc sử dụng hợp lý các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển, mặt khác, cần phải đặc biệt nhấn mạnh, các ứng dụng ấy đã từng bước góp phần không nhỏ tạo nên những cách tư duy mới trong xã hội.

Như vậy, toán học có đóng góp quan trọng trong việc nâng cao dân trí, tạo nguồn tài nguyên chất xám cho đất nước, tạo tiền đề phát huy nội lực, tiếp thu công nghệ mới trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện tượng nước ta có trình độ dân trí và một nền giáo dục cao hơn thực trạng nền kinh tế chính là một trong những nguyên nhân khuyến khích sự đầu tư của nước ngoài.

Có thể thấy, sở dĩ toán học nước ta có được một số thành quả như trên là do những nguyên nhân chính sau đây:

Trước tiên là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội đến sự phát triển toán học trong một thời gian dài. Ngay trong kháng chiến chống Pháp, Nhà nước đã cho tập hợp những giáo viên ưu tú nhất mở Trường khoa học cơ bản, trong đó chủ yếu là dạy và học toán. Hoà bình lập lại, Nhà nước đã sớm quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng toán học như cho mở các lớp phổ thông chuyên toán, trong đó học sinh được cấp học bổng và hưởng tem phiếu như cán bộ nhà nước. Với tầm nhìn chiến lược, ngay trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Đảng và Nhà nước ta đã mạnh dạn tuyển chọn hàng vạn thanh niên ưu tú gửi đi đào tạo ở nước ngoài, trong đó ưu tiên một số đáng kể cho khoa học cơ bản và toán học. Việc đào tạo toán học ở trong nước cũng được sự quan tâm và ủng hộ của toàn xã hội.

Nguyên nhân thứ hai là sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũ. Các sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh Việt Nam thời đó đã có may mắn được làm việc với những giáo sư, viện sỹ giỏi nhất trong các trung tâm khoa học tầm cỡ thế giới. Sự đầu tư của các nước XHCN anh em cho ta thật đáng kể. Riêng ngành toán, bạn đã đào tạo cho ta khoảng hơn 200 TS và TSKH, phần lớn trong số đó vẫn đang là những cán bộ khoa học chủ chốt tại các viện nghiên cứu và các trường đại học trong cả nước. Hiện nay, ở các nước như Syri, Liban... để đào tạo được một TS toán học tại Anh phải chi khoảng 60.000 USD. Như vậy, để có được 200 người đào tạo ở nước ngoài phải chi khoảng 12 triệu USD.

Tuy nhiên, nền toán học của ta vẫn còn rất thấp kém so với các nước phát triển
Trong khoảng 15-20 năm trở lại đây, tức là từ khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, khoa học cơ bản nói chung và toán học nói riêng gặp nhiều khó khăn, xuống cấp rõ rệt và có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu toán học ở các trường đại học và các viện giảm thiểu về số lượng, lão hoá về tuổi đời và năng lực. Một bộ phận lớn cán bộ trình độ cao có độ tuổi 50 trở lên. Số người giỏi, có triển vọng ở độ tuổi 30-40 rất hiếm. Đã thế, những người này cũng không thể tập trung hoàn toàn thời gian, sức lực cho công việc chuyên môn vì phải lo kiếm sống bằng dạy thêm hoặc làm các việc khác. Một số có học hàm học vị, được đào tạo công phu đi ra nước ngoài kiếm việc làm, hoặc bỏ hẳn nghề. Một số thanh niên giỏi tốt nghiệp ở nước ngoài thì ở lại đó xin việc làm, chưa trở về nước. Trên phương diện quốc gia thì đó là hiện tượng chảy máu chất xám, là sự lãng phí nhân tài, là tổn thất nặng nề mà cuối cùng thì nền kinh tế sẽ phải gánh chịu hậu quả. Khoa học cơ bản nói chung và toán học nói riêng không còn đủ sức hấp dẫn đối với tuổi trẻ nữa. Số sinh viên theo học chuyên ngành toán không nhiều (đã có năm, chuyên ngành toán của Khoa Toán - Đại học Tổng hợp Hà Nội chỉ có 4 sinh viên ghi tên theo học!), cũng không hẳn là những người giỏi, vì phần lớn học sinh giỏi thi vào các ngành hứa hẹn cho họ một tương lai dễ dàng hơn. Sau khi tốt nghiệp ngành toán học, những sinh viên giỏi cũng không tha thiết ở lại trường giảng dạy. Phần lớn sinh viên cao học và nghiên cứu sinh toán hiện nay có tuổi đời cao và trình độ còn hạn chế. Do đó có rất ít cơ may đào tạo họ trở thành lực lượng thay thế cho những nhà toán học giỏi nhưng tuối mỗi ngày một cao.

Từ cuối năm 1997, với sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, với tinh thần trách nhiệm và sự năng động của các tập thể khoa học, tình hình có được cải thiện đôi chút, nhưng những khó khăn cơ bản vẫn còn đó. Nếu không sớm có được những biện pháp hữu hiệu thì chỉ mươi năm nữa chúng ta sẽ không có đủ cán bộ thực sự có trình độ để dạy toán từ phổ thông đến đại học chứ đừng nói gì đến nghiên cứu! Sự suy thoái về toán học sẽ kéo theo sự suy thoái của các ngành khác. Hậu quả xa hơn sẽ là: Chúng ta sẽ thiếu những chuyên gia giỏi để phát triển các công nghệ mũi nhọn, sẽ không có độc lập tự chủ về công nghệ, và do đó kinh tế không phát triển nhanh được. Như vậy cũng có nghĩa là, như ai đó đã nói, trong sự phân công quốc tế, con em chúng ta - một dân tộc nghìn năm văn hiến - đành phải chịu nhận những phần việc ít đòi hỏi trí tuệ nhất giữa một thời đại mà trí tuệ mới là sức mạnh chủ yếu.

Những điểm sáng hy vọng
Trong số 41 nhà khoa học được công nhận chức danh Giáo sư năm 2005, nhà toán học trẻ 34 tuổi Ngô Bảo Châu là một trường hợp đặc biệt. Anh được đặc cách phong chức danh Giáo sư mà không cần qua Phó giáo sư và cũng không câu nệ một số tiêu chí trong quy trình xét duyệt thông thường. Đây có thể được coi là một sự đột phá đáng khích lệ trong cách đánh giá và khuyến khích tài năng khoa học. Vấn đề đáng suy nghĩ là ở chỗ chúng ta cần tạo ra một môi trường khoa học thuận lợi ở ngay trong nước để từ đó có được không chỉ một Ngô Bảo Châu, bởi chúng ta đã từng có hàng trăm học sinh đoạt giải trong các kỳ thi Olympic toán học quốc tế kia mà! Phát hiện và đào tạo được các học sinh giỏi mới chỉ là bước đầu, cái chính là phải tạo được môi trường thuận lợi cho các mầm non ấy phát triển trở thành những tài năng thật sự.

Trên đây chỉ là một vài suy nghĩ bước đầu về thực trạng cộng đồng toán học đất nước. Hy vọng sẽ có dịp trở lại với vấn đề này trong tương lai gần.