User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 4 của 4

Chủ đề: Tìm hiểu OSS

  1. #1
    Quân Nhân Danh Dự
    Tham gia ngày
    Jan 2004
    Bài gửi
    1.404

    Mặc định Tìm hiểu OSS

    Phần mềm mã nguồn mở (Open Source Software), viết tắt là OSS, đang được sử dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới, trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng đối với các công ty phần mềm thương mại nói chung và đối với túi tiền của bác Bill Gates nói riêng :p . Ở các nước kém phát triển như Việt Nam, OSS là giải pháp có thể giúp các kĩ sư CNTT nhanh chóng bắt kịp trình độ của các kĩ sư trên thế giới, nhờ đó thu hẹp được khoảng cách phát triển về mặt công nghệ.

    Tuy vậy các tài liệu tiếng Việt về OSS là rất ít, bởi vậy rất nhiều người, kể cảc các kĩ sư IT, còn "lơ mơ" về khái niệm này.

    Dưới đây là một số bài viết lấy từ Trang thông tin của Ban chỉ Đạo Phần mềm nguồn mở Quốc gia (do đó chắc là tin được :p ). Địa chỉ www.oss.gov.vn Trang này có một số bài viết khác khá hay, tuy nhiên tớ không đọc được vì không thể đăng nhập được

  2. #2
    Quân Nhân Danh Dự
    Tham gia ngày
    Jan 2004
    Bài gửi
    1.404

    Mặc định

    OSS là gì?

    PMNM là những phần mềm được cung cấp dưới cả dạng mã và nguồn, không chỉ là miễn phí về giá mua mà chủ yếu là miễn phí về bản quyền: người dùng có quyền sửa đổi, cải tiến, phát triển, nâng cấp theo một số nguyên tắc chung qui định trong giấy phép PMNM (ví dụ General Public Licence – GPL) mà không cần xin phép ai, điều mà họ không được phép làm đối với các phần mềm nguồn đóng (tức là phần mềm thương mại).

    Nhà cung cấp phần mềm nguồn mở có quyền yêu cầu người dùng trả một số chi phí về các dịch vụ bảo hành, huấn luyện, nâng cấp, tư vấn, vv... tức là những dịch vụ thực sự đã thực hiện để phục vụ người dùng, nhưng không được bán các sản phẩm nguồn mở vì nó là tài sản của trí tuệ chung, không phải là tài sản riêng của một nhà cung cấp nào.

    Trên thị trường phần mềm, có nhiều loại giấy phép. Có thể chia các giấy phép này đại khái như sau [1]:

    ▪ Phần mềm thương mại (Commercial Software)
    Là phần mềm thuộc bản quyền của tác giả hoặc nhà sản xuất, chỉ được cung cấp ở dạng mã nhị phân, người dùng phải mua và không có quyền phân phối lại.

    ▪ Phần mềm thử nghiệm giới hạn (Limited Trial Software)
    Là những phiên bản giới hạn của các phần mềm thương mại được cung cấp miễn phí nhằm mục đích thử nghiệm, giới thiệu sản phẩm và kích thích người dùng quyết định mua. Loại sản phấm này không chỉ giới hạn về tính năng mà còn giới hạn về thời gian dùng thử (thường là 60 ngày).

    ▪ Phần mềm “chia sẻ” (Shareware)
    Loại phần mềm này có đủ các tính năng và được phân phối tự do, nhưng có một giấy phép khuyến cáo các cá nhân hoặc tổ chức mua, tùy tình hình cụ thể. Nhiều tiện ích Internet (như “WinZip” dùng các thuận lợi của Shareware như một hệ thống phân phối).

    ▪ Phần mềm sử dụng phi thương mại (Non-commercial Use)
    Loại phần mềm này được sử dụng tự do và có thể phân phối lại bởi các tổ chức phi lợi nhuận. Nhưng các tổ chức kinh tế, thí dụ các doanh nghiệp, ... muốn dùng phải mua. Netscape Navigator là một thí dụ của loại phần mềm này.

    ▪ Phần mềm không phải trả phần trăm cho nhà sản xuất (Royalties Free Binaries Software)
    Phần mềm được cung cấp dưới dạng nhị phân và được dùng tự do. Thí dụ: bản nhị phân của các phần mềm Internet Explorer và NetMeeting.

    ▪ Thư viện phần mềm không phải trả phần trăm (Royalties Free Software Libraries)
    Là những phần mềm mà mã nhị phân cũng như mã nguồn được dùng và phân phối tự do, nhưng người dùng không được phép sửa đổi. Thí dụ: các thư viện lớp học, các tệp “header”, vv ...

    ▪ Phần mềm mã nguồn mở kiểu BSD - (Open Source BSD-style)
    Một nhóm nhỏ khép kín (closed team) đã phát triển các PMNM theo giấy phép phân phối Berkely (BSD – Berkely Software Distribution) cho phép sử dụng và phân phối lại các phần mềm này dưới dạng mã nhị phân và mã nguồn. Tuy người dùng có quyền sửa đổi mã, nhưng về nguyên tắc nhóm phát triển không cho phép người dùng tự do lấy mã nguồn từ kho mã ra sửa (gọi là check-out) và đưa mã đã sửa vào lại kho mã mà không được họ kiểm tra trước (gọi là các “check-in”) [2].

    ▪ PMNM kiểu Apache (Open Source Apache-style)
    Chấp nhận nguồn mở kiểu BSD nhưng cho phép những người ngoài nhóm phát triển xâm nhập vào lõi của mã nền (core codebase), tức là được phép thực hiện các “check-in”.


    ▪ PMNM kiểu CopyLeft hay kiểu Linux (Open Source CopyLeft, Linux-style)
    PMNM kiểu CopyLeft (trò chơi chữ của Free Software Foundation – FSF – và GNU – Gnu’s Not Unix, để đối nghịch hoàn toàn với CopyRight !) hay còn gọi là giấy phép GPL (General Public Licence) là một bước tiến quan trọng theo hướng tự do hóa của các giấy phép phần mềm. Giấy phép GPL yêu cầu không những mã nguồn gốc phải được phân phối theo các qui định của GPL mà mọi sản phẩm dẫn xuất cũng phải tuân thủ GPL.

    GPL cho người dùng tối đa quyền hạn và tự do đối với các PMNM theo GPL, cụ thể người dùng có quyền không những sao chép, sửa đổi, mua bán các PMNM dưới CopyLeft mà còn được quyền tự do như vậy đối với các phần mềm dẫn xuất. Tóm lại nếu PMNM gốc đã theo CopyLeft thì mọi PMNM dẫn xuất của nó cũng đương nhiên theo CopyLeft.
    Xem chi tiết nội dung GPL tại đây




    Chú thích:
    [1]- Eric S. Raymond, Open Source Software, A (New) Development Methodology, xem trong
    http://www.opensource.org/hallowen
    [2]- "Check-in" và “check-out” là những lệnh trong chương trình quản lý mã [code] có tên là CVS, có đặc điểm là mỗi lần sửa mã, thì mã này được tự động ghi một phiên bản (version) mới -- để khi chạy một phiên bản nào đó có bị trục trặc thì có thể quay về bất cứ phiên bản nào trước đó một cách dễ dàng. Quy trình đối với CVS như sau:
    Kho mã nguồn [code repository] – checkout =>(mã nguồn) -- sửa thử -- =>(mã nguồn đã sửa/thử) – checkin =>kho mã nguồn.
    "checkout" là lấy mã nguồn từ kho ra để sửa, và "checkin" là đưa mã nguồn đã sửa vào kho. CVS cho version mới khi người dùng checkin. Ý của đoạn viết là những người phụ trách BSD không cho người dùng tự động làm khâu cuối cùng, mà họ phải kiểm tra mọi sửa đổi trước.
    Lần sửa cuối bởi Nistelrooy; 11-12-2005 lúc 10:22 PM

  3. #3
    Quân Nhân Danh Dự
    Tham gia ngày
    Jan 2004
    Bài gửi
    1.404

    Mặc định

    Lịch sử phần mềm nguồn mở

    Tuy khái niệm về mã nguồn mở được Richard Stallman nêu ra từ những năm 1970, nhưng thực sự thành một khuynh hướng rõ rệt trong lĩnh vực phần mềm khoảng từ năm 1991, sau khi hệ điều hành nguồn mở Linux ra đời.

    Richard Stallman, làm việc ở phòng thí nghiệm Trí tuệ nhân tạo của MIT, là người đầu tiên thấy được sức mạnh của các phần mềm “tự do”, tự do ở đây hiểu theo nghĩa tự do “thay đổi mã nguồn” không hẳn theo nghĩa tự do về giá cả (hay miễn phí). Công lao chính của ông là tạo ra giấy phép nguồn mở GNU General Public Licence (viết tắt là GPL), chủ yếu nhằm bảo vệ quyền cho phép bất kỳ ai cũng có thể sử dụng, sửa đổi và phân phối lại mã nguồn của chương trình gốc và các chương trình dẫn xuất.



    Richard Stallman

    Từ 1984, dự án GNU và Tổ chức Phần mểm Tự do (FSF - Free Software Foundation) đã thực hiện một loạt chương trình PMNM. Thông qua dự án GNU của FSF, những công cụ lập trình như Emacs, GCC, GNU C++, GNU Ada, GNU Pascal, G77, F2C v.v. và nhiều phần mềm khác đã gặt hái thành công. Cũng tại MIT, tập đoàn X Consortium đã được thành lập với nhiệm vụ phát triển và bảo trì phần mềm giao diện đồ họa đa cửa sổ X-Window.[1]



    Biểu tượng của GNU

    Những PMNM nói trên không những phổ biến trong giới khoa học và giáo dục mà còn được các công ty công nghệ cao như DEC, NCD, Netscape, Novell, SGI, Sun, Wyse v.v. sử dụng trong rất nhiều thiết bị và phần mềm thương phẩm (PMTP) của họ, đặc biệt khi làm việc với các server mạng máy tính.

    Năm 1991, Linus Torwalds xây dựng một hệ điều hành (HĐH) nguồn mở tựa Unix, trong đó có nhiều thành phần là kết quả của dự án GNU theo giấy phép GPL. Hệ điều hành này là một HĐH đầy đủ, nguồn mở, thường quen gọi là Linux hay chính xác hơn GNU/Linux và đã được nhiều nhà thương mại tổ chức phân phối, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ và sản phẩm đóng gói dạng CD giá thấp.



    Linus Torvalds (trái) và biểu tượng của hệ điều hành Linux (phải)

    Một đóng góp lớn khác cho PMNM là của Eric S.Raymond, đồng sáng lập và giám đốc kỹ thuật của Chester County InterLink ở Pensylvania, Mỹ. Trong bài “Nhà thờ và cửa hàng tạp hóa” [2], ông đã giải thích chi tiết tại sao một đội ngũ lỏng lẻo hàng ngàn người tình nguyện làm việc miễn phí (như một “cửa hàng tạp hóa”) lại có thể làm ra những phần mềm tốt hơn những tài năng chuyên nghiệp đắt tiền của các hãng phần mềm khổng lồ (“Nhà Thờ”).



    Eric S.Raymond

    Quan điểm của Raymond cuối cùng đã giúp một số hãng CNTT khổng lồ (IBM, Intel Netscape, Sun, ...) soát lại quan điểm của mình về PMNM và cung cấp cho cộng đồng PMNM một số đóng góp có ích.

    Bước tiến bộ tiếp sau giúp PMNM cạnh tranh bình đẳng về công nghệ với chuẩn sở hữu thương mại là sự ra đời và đưa vào ứng dụng năm 1998 của các giao diện đồ họa nguồn mở KDE, GNOME.



    Màn hình GNOME (trái) và KDE (phải)


    Những thành công của PMNM (với các sản phẩm như Gnu/Linux, Apache, Bind, Perl, ...) đã tạo điều kiện để chống lại hoặc giảm bớt áp lực độc quyền của các nhà sản xuất phần mềm “nguồn đóng”. Trong khoảng từ 1995 đến nay, nhiều tổ chức và quốc gia đã sử dụng ngày càng rộng rãi các PMNM và đã có những kết quả nhất định.

    Theo [3] , PMNM được dùng trong:

    - 90% máy chủ tên miền ở Hoa kỳ, 70% máy chủ thư tín điện tử và 60% máy chủ web trên thế giới đã dùng PMNM.
    - Thị trường Linux đã phát triển nhanh hơn dự báo, đã lên hàng thứ nhì vào năm 1999, trước đó người ta cho rằng đến 2002 hoặc 2003 mới đạt được vị trí này.

    - Đến giữa năm 2001, đã có 56% số doanh nghiệp toàn cầu sử dụng PMNM.

    Trong các cơ quan nhà nước: đến tháng 6-2001, ở Pháp bộ Văn hóa đã chuyển 400 máy chủ sang GNU/Linux, Tổng Cục Thuế quốc gia, một cơ quan mà vấn đề an toàn và bảo mật dữ liệu được coi là quan trọng hàng đầu, cũng đã chuyển 950 máy chủ sang hệ điều hành NM. Trung quốc và Mê-hi-cô đã chuẩn y các biện pháp để chuyển hệ thống máy tính của tất cả các cơ quan hành chính sang Linux Hồng Kỳ.

    Chính phủ Đức đã cấm dùng các sản phẩm Microsoft trong các hệ thống máy tính “nhạy cảm” [4 ] . Nhằm giám sát và bảo vệ các mạng máy tính của các quốc gia thành viên, Cộng đồng châu Âu đã khuyến cáo các tổ chức của Cộng đồng và các cơ quan công quyền của các quốc gia thành viên “khuyến khích các dự án dùng phần mềm có mã nguồn công khai, vì đó là cách duy nhất bảo đảm trong phần mềm không có các “cửa sau” (back doors)” [5 ].


    Trong bài trên
    [1] : nam: Hiện tại, Tương lai và Thách thức. Tuyển tập báo cáo Hội nghị lần thứ nhất về “Linux và PMNM ở Việt nam”, ngày 7-8/12/2000, Hà Nội
    [2] :Eric S. Raymond, The Cathedral and The Bazaar, http://www.firstmonday.org/issues/issue3_3/ raymond/index.html, 1997
    [3] Gilbert Robert và Frédéric Schutz, Should Business Adopt Free Software, trong tạp chí trên mạng “The European Online Magazine for the IT Professional”, Tập II, Số 6, tháng 12-2001, trang 16-17.
    [4] The German Federal Armed Forces ban Microsoft programs, trong Der Spiegel, ngày 17-03-2001
    [5] European Community report on the Echelon Surveillance network, trong đó khuyến cáo các quốc gia thành viên EU sử dụng PMNM, http://www.europarl.eu.int/tempcom/e...echelon_fr.pdf, 116 trang.
    Lần sửa cuối bởi Nistelrooy; 11-12-2005 lúc 10:53 PM

  4. #4
    Quân Nhân Danh Dự
    Tham gia ngày
    Jan 2004
    Bài gửi
    1.404
    Lần sửa cuối bởi Nistelrooy; 11-12-2005 lúc 10:57 PM

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube