Bệnh nhân người Việt hải ngoại bây giờ rất tự nhiên khi bàn luận hay tham khảo trong phòng mạch về vấn đề bất lực hay liệt dương.
Hiện nay ở Mỹ, 52% đàn ông từ 40 tới 70 tuổi, bị bất lực. Bệnh bất lực trầm trọng nhất chiếm 10%. Bệnh trung bình 25% và bất lực loại nhẹ 17%. Ở tuổi 40, bất lực hoàn hoàn chiếm 5% và ở 70 tuổi, bất lực hoàn toàn lên tới 15%.
Bệnh bất lực vì liệt dương khác với những nguyên nhân bất lực khác như tình dục hết ham muốn, xuất tinh sớm hay bệnh Peyronie.
Nghiên cứu bệnh lý liệt dương cho thấy bình thường dương vật là bộ phận kết hợp nhiều mạch máụ. Dương vật gồm thể xốp niệu đạo (corpus spongiosum) và thể hang dương vật (corposa cavernosa). Thể hang dương vật gồm nhiều mô soắn bao bọc bởi những mô đàn hồi. Động mạch từ ngoài tới thẳng mô soắn rồi sau đó máu sẽ chảy ra ngoài từ tĩnh mạch nằm dưới mô đàn hồi.
Khi bị liệt dương, bắp thịt xung quanh động mạch hay mô soắn co mạnh. Chất nitric oxide tiết ra từ 1) hệ thần kinh không tiết kích thích tố adrenaline và hệ thần kinh không tiết kích thích tố acetylcholine (nonadrenergic-noncholinergic), và từ 2) biểu mô (endothelium) quanh mạch máu.
Chất nitric oxide sẽ vào thể hang dương vật (corpora cavernosa) kích thích phân hóa tố guanylate cyclase để sinh hóa chất cyclic guanosine monophosphate (cGMC). Đây là một hợp chất quan trọng làm bắp thịt bao quanh động mạch và mô soắn mềm nhũn. Nhờ hiện tượng kể trên, máu sẽ dồn vào dương vật dễ dàng hơn. Hiện tượng xảy ra giống như miếng éponge chứa đày nước. Đồng thời máu căng ép tĩnh mạch làm máu từ tĩnh mạch không thoát khỏi và làm dương vật cứng lại.
Sau khi tinh trùng thoát ra ngoài, kích thích tố catecholamines và phân hóa tố phosphodiesterase sẽ tiết ra và phân hóa cGMP. Bị bất lực do liệt dương là bởi thiếu chất cGMC. Thuốc ****** (sildenafil) có nhiệm vụ chống tiêu hủy cGMC nghĩa là giúp cho cường dương.
Tuy nhiên, bất lực vì liệt dương có thể do một số bệnh liên quan mạch máu. Chẳng hạn bệnh xơ cứng động mạch (atherosclerotic occlusion) thường thấy ở bệnh nhân tiểu đường. Bệnh co mạch máu làm liệt dương cũng thấy trong bệnh co mạch máu, cứng thành mạch máu, hoặc vì hút thuốc lá hay do biến chứng của một số thuốc như thuốc điều trị cao huyết áp loại Beta-blockers, Clonidine, MethylDopa hay thuốc lợi tiểu Diuretics. Ngoài ra, những thuốc trị bao tử như Cimetadine, thuốc trị suy tim như Digoxin cũng làm liệt dương.
Bệnh liệt dương có thể do bệnh thần kinh gây ra, hoặc bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis) tủy sống, hay bệnh giây thần kinh ngoại biên do tiểu đường (diabetic neuropathy). Bệnh liệt dương do thương tích tủy sống, thương tích hậu giải phẫu vùng xương chậu, thí dụ sau khi giải phẫu tuyến nhiếp hộ tuyến , mổ bắp thịt hậu môn, cắt ruột già, hay xương chậu bị gẫy bể.
Liệt dương có thể do bệnh làm suy giảm kích thích tố sinh dục, như khi testosterone bị xuống thấp hay do bệnh tuyến giáp trạng và ngay cả vì lý do tuổi già.
Bệnh liệt dương do vấn đề tâm ly’ thường thấy ở những người còn trẻ mà đã bi bất lực, hay do tình trạng cảm súc đặc biệt chi phối. Có nhiều người bất lực vì lo nghĩ, lo lắng quá nhiều trong công việc làm ăn, hay bị bệnh tâm thần. Khi bị ưu trầm, bệnh nhân không thiết gì trong công việc làm, không nghĩ gì đến những diễn biến xung quanh, không thấy đời vui thú, mất cân lượng, và ăn uống không thấy ngon miệng. Bệnh nhân mất ngủ, hay đôi khi ngủ quá độ. Bệnh nhân không còn chú ý đến công việc, mệt mỏi, hết năng lực. Bệnh nhân không thiết gì đến chuyện xung quanh, không chú ý đến công việc, không nghĩ ngợi và hay quên. Đôi khi có tư tưởng chán đời…
Bệnh nhân thường phải khám nghiệm để tìm hiểu độ nhậy cảm của dương vật hay bị hư hại thần kinh nơi dương vật. Khám bệnh có thể phát giác hiện tượng lưu thông trong động mạch cổ tay hay khủyu chân. Hoặc hình dáng dương vật trong bệnh Peyronie. Thử nghiệm gồm đếm máu phân tích nước tiểu, đo mỡ trong máu, hay đo creatinine và xác định chức năng gan. Cũng nên đo mức testosterone trong máu hay nếu cần đo chức năng nội tiết.
Đôi khi còn phải dùng phương pháp thử nghiệm tâm lý nữa. Điều trị bất lực gồm nhiều cách khác nhau như
1.) Tâm lý trị liệu,
2) Thuốc ****** (Sidenafil), nhưng thuốc có thể gây nguy cơ cho bệnh nhân tim mạch nhất là trường hợp đang hay sẽ dùng nitroglycerinẹ. Có thể tử vong.
3) Đặt Alprostadil trong ống tiểu, do bác sĩ niệu khoa hướng dẫn và
4) Dùng máy hút hay giải phẫu cũng do bác sĩ niệu khoa thực hiện.

Riêng về bệnh tim mạch, bác sĩ sẽ hướng dẫn bệnh nhân tập thể dục hay cần hoạt động nhẹ để tăng cường sinh lý. Tập thể dục hay hoạt động thường xuyên công việc trong nhà sẽ giúp dưỡng khi’ tăng cao và kích thích tim mạch mạnh mẽ hơn. Đặc biệt những bệnh nhân bị bệnh tim mạch lâu năm mà không bao giờ chịu hoạt động hay tập thể dục.

Khi luyến ái, nhịp tim sẽ tăng nhanh khoảng 120-130 mỗi phút và áp xuất máu tâm thu khoảng 180, áp xuất tâm trương cao 10. Cho nên bệnh nhân bị cao huyết áp máu nên gặp bác sĩ chuyên môn tim mạch thử nghiệm, phải an toàn trước khi dùng thuốc ******. Thuốc ****** giúp cường dương với xác xuất cao khoảng 74%. Bệnh nhân bị cao huyết áp hay bệnh tim mạch có hiệu quả 70% khi dùng ******. Còn những người bị bệnh tiểu đường hay vừa mổ nhiếp hộ tuyến có hiệu quả tương đối thấp hơn nữa.

Công phạt của ****** gồm những triệu chứng như nhức đầu, mặt đỏ phầng, nghẹt mũị Đôi khi bị đầy hơi trong bụng, mắt hoa và chóng mặt. Áp xuất máu cũng bị hạ thấp khoảng 8-10 mm thuỷ ngân. Phản ứng ****** với thuốc trị tim mạch nitroglycerine có thể gây tử vong. Hiện có hai thuốc mới điều trị liệt dương sắp được FDA chấp thuận. Thuốc thứ nhất tên là Tadalafil do hãng Lily vừa được Âu Châụ cho dùng. Thuốc thứ hai tên là Levitra (vardenavil) cũng sắp tung ra thị trường. Hai thuốc mới kể trên tắc dụng lâu dài hơn ******. Cả 3 thuốc Tadalafil, Levitra và ****** đều giảm phân hóa tố phosphodiesterase 5 (PDE-5), tức là đều tác dụng vào cơ trơn trong dương vật, gây thư dãn, làm rộng cơ trơn và giu’p máu dồn vào nhiều hơn.

Còn vài thuốc khác nữa hiện đang trong vòng nghiên cứu điều trị liệt dương như: thuốc uống phentolamine, thuốc Apomorphine đặt dưới lưỡi, thuốc Potassium channel modulators, chất kìm hãm biểu mô (endothelin antagonists), yếu tố gene growth factor, sản phẩm prostaglandin, PD hay kìm hãm dopaminergic, kích thích tố đồng dạng melanocyte (MSH) hoặc VIPs (Vasoactive intestinal polypeptides).

1)R.Shabsigh, Postgraduate Medicine May 2000
2) TA Miller, Am Fam Physicians, 61: 95, 2000
3) RW Lewis, Patient Care, January 2000
4) Healthdays News, 2003