User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 8 của 8

Chủ đề: Power Line Communication

  1. #1
    Quân nhân danh dự Avatar của Mr.vulh_bk
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    3.493

    Mặc định Power Line Communication

    Trong CLB NCKH cũng có một nhóm chuyên đề về cái này.Tớ up lên đây để mọi người có một cái nhìn khái quát !

    TỔNG QUAN KỸ THUẬT POWERLINE COMMUNICATION

    1.Định nghĩa

    Powerline communication (PLC) là kỹ thuật truyền tin sử dụng mạng điện sẵn có làm môi trường truyền dẫn.
    PLC còn được gọi là Broadband over Powerline (BPL), nó cung cấp dịch vụ truy cập internet băng rộng đến tận nhà bằng việc sử dụng các phương pháp điều chế số trên dải tần còn lại của đường dây điện.
    Dữ liệu trên đường dây điện sẽ được đưa tới các công tơ tại đây sẽ có một môdem để tách dữ liệu ra và muốn gửi thông tin thì ngược lại. Các kỹ thuật dùng để xử lý dữ liệu sẽ được đề cập ở phần sau.

    2.Lý do sử dụng PLC

    Một ưu điểm nổi bật của PLC là tính kinh tế ( sử dụng mạng điện lưới sẵn có dải tần trên đường dây điện chưa được sử dụng hết) và mang ý nghĩa khoa học (tìm giải pháp mới có thể bứt phá được các giới hạn kỹ thuật). Hơn nữa nhu cầu truy cập internet băng rộng trở nên rất bức thiết, trong khi các công nghệ truy nhập băng rộng khác vì các lý do khác nhau chưa được cung cấp. Ở Việt Nam hiện nay đa số người sử dụng internet gia đình đều kết nối thông qua đường dây điện thoại với tốc độ 56Kbps, một tốc độ khó có thể chấp nhận cho các ứng dụng multimedia ngày càng phổ biến như hội thảo truyền hình, thoại chất lượng cao, các ứng dụng yêu cầu khắt khe yếu tố thời gian thực… Một giải pháp kỹ thuật được đưa ra là ADSL, tuy nhiên người dùng lại phải trả một khoản chi phí không phải là nhỏ.
    Ưu điểm của PLC
    -Cung cấp khả năng kết nối tới mạng truy nhập, đây là một tính năng rất hấp dẫn của PLC.
    -Cung cấp tốc độ truy cập dữ liệu cao (10- 45Mbps) trong dải tần (1,7- 30Mhz).
    Tuy nhiên đứng về mặt đường truyền thì đường dây điện không phải được thiết kế để truyền tải thông tin vì vậy kỹ thuật PLC ra đời chính là để giải quyết vấn đề này. Các kỹ thuật dùng để xử lý dữ liệu sẽ được đề cập ở các phần sau.

    3. Phân lớp PLC

    Hiện nay PLC chia làm hai lớp chính PLIC và PLOC
    PLIC ( Powerline Indoor Telecoms)
    Đây chính là công nghệ PLC để sử dụng trong nhà, tức là chúng ta có thể sử dụng mạng điện lưới trong nhà để thiết lập một mạng trao đổi thông tin giữa các thiết bị dùng trong nhà với nhau.

    PLOC ( Powerline Ourdoor Telecoms)
    Đây là kỹ thuật PLC sử dụng để trao đổi thông tin giữa các trạm điện với nhau và với mạng gia đình. BPL chính là ứng dụng của PLOC có khả năng cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập Internet băng rộng với tốc độ vượt trội so với ADSL (40Mbps).

    4.Phân chia tần số

    Theo tiêu chuẩn của châu Âu năm 1991 (EN 50065-1 standard) xác định chuẩn tín hiệu trên đường hạ thế nằm trong khoảng từ 3Khz tới 148,5Khz ( băng tần không cần đăng ký). Trong băng tần này được chia thành 5 băng con.
    Trong đó, hai băng đầu 3-9 và 9-95Khz là dành cho nhà cung cấp điện lực và ba băng còn lại dành cho khách hàng. Băng A, sóng mang có thể từ 9Khz tới 95Khz dùng cho việc trao đổi thông tin giữa khách hàng và nhà cung cấp. Băng C được dùng cho khách hàng sử dụng các giao thức truy nhập, băng B cũng được dùng cho khách hàng tuy nhiên không có giao thức truy nhập nên có thể coi băng này là băng thông tin tự do.
    Hiện nay người ta chia dải tần ra như sau: 9- 525KHz cho băng hẹp và cho các mục đích đo đạc từ xa. 1,6- 30 MHz dành cho truyền dữ liệu băng rộng trong đó 1.6- 10MHz dành cho kỹ thuật ourdoor PLC và 10-30MHz cho kỹ thuật indoor PLC. Trong đó nó chia thành các băng con 9-95 KHz, 9- 148,5KHz, 100- 148,5KHz, 148,5- 525KHz, 526,5KHz- 1,6MHz, 1,6- 10 MHz, 1,9- 25MHz, 10- 30MHz.
    Các hệ thống PLC hoạt động ở dải tần đến 30MHz được xem xét như là hệ thống PLC băng rộng.

    5.Kỹ thuật điều chế và mã hoá kênh
    Với kỹ thuật PLC, vấn đề ta quan tâm là làm thế nào có thể truyền dữ liệu trong môi trường nhiễu cao, trong khi mức tín hiệu nhỏ và với tấn số dòng xoay chiều là 50- 60 Hz.
    Các kỹ thuật điều chế và mã hoá khuyến nghị sử dụng trong PLC:
    OFDM (Orthogonal Frequency Division Multiplexing) Ghép kênh phân chia theo tần số trực giao.
    SS- FFH ( Spread Spectrum- Fast Frequency Hopping) Trải phổ nhảy tần nhanh.
    DS- SS (Direct Sequence Spread Spectrum) Trải phổ trực tiếp.
    Công nghệ PLC cũng phải đối mặt với một số vấn đề kỹ thuật và đã có cách giải quyết nhờ sự thành công của công nghệ chế tạo vi mạch tích hợp giá rẻ cho từng ứng dụng đặc biệt (ASIC- Application Specific Intergrated Circuits), việc đưa vào sử dụng những chíp này cho phép kết nối tốc độ cao từ 2 đến 50 Mbps và sử dụng phương thức ghép kênh phân chia theo tần số trực giao OFDM cho phép truyền dữ liệu tốc độ cao chỉ ở dải tần số thấp. Luồng bít tốc độ cao được truyền đi bằng các tốc độ bít thấp hơn và truyền đi song song đồng thời với nhau, mỗi luồng bít tốc độ thấp được điều chế riêng rẽ và được chở trên một sóng mang.
    Tương tự như các hệ thống truyền tin ngày nay, kỹ thuật PLC cũng đóng gói dữ liệu của mình thành các Packet để truyền (powerpack). Trong đó phương thức truy nhập đường truyền dùng phương thức CSMA/CD. Có khả năng phát hiện lỗi, có các tín hiệu xác nhận ACK. Hiện nay người ta cũng quan tâm tới vấn đề PLC và IP ver. 6 để có thể phát triển PLC thành một mạng toàn cầu ( Powerline Networking), như vậy tại công tơ của mỗi hộ gia đình ta gắn thêm một thiết bị gọi là Powerline Modem (PLM) và mỗi PLM sẽ có một địa chỉ duy nhất. Tuy nhiên đây là vấn đề của tương lai.

    6.Đặc tính kênh truyền PLC

    Đường dây truyền tải điện không phải được thiết kế để dành cho truyền dữ liệu, do đó có rất nhiều vấn đề cần được khắc phục.
    Các thiết bị gắn vào mạng điện rất đa dạng với trở kháng khác nhau, ngay cả dây dẫn cũng không đồng nhất, đây chính là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới việc truyền tin trên mạng. Để giải quyết vấn đề này chúng ta phải đo đạc sự ảnh hưởng của các loại tải này đến kênh truyền, từ đó chủ động được việc xử lý dữ liệu sao cho đạt được hiệu quả tốt nhất.
    Tin tức truyền đi trên mạng, sóng mang có tần số lớn trong khi dây điện lại không được bảo vệ khỏi tác động của các loại hình thông tin khác, đây cũng chính là nguyên nhân ảnh hưởng tới độ tin cậy của đường truyền để giải quyết vấn đề này thông tin trên mạng cần được điều chế và mã hoá tốt để chống nhiễu. Ví dụ như chúng ta sẽ làm tăng độ dư thừa của thông tin để chống lỗi, nếu bít thông tin là 0 chúng ta có thể mã hoá thành 000, khi phía thu nhận được có thể dịch chuyển thành 100 hay 001 thì với lý thuyết xác suất chúng ta vẫn có thể thu được giá trị là 0.
    Lần sửa cuối bởi Mr.vulh_bk; 02-11-2005 lúc 02:01 AM

    The end is just the beginning

  2. #2
    Quân nhân danh dự Avatar của Mr.vulh_bk
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    3.493

    Mặc định

    7.Ứng dụng PLC

    Khả năng đáp ứng đa dịch vụ

    Mạng phải thiết kế cho phép PLC có khả năng truy cập Internet tốc độ cao, Voice Over IP, và tương lai có khả năng cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng như community portals, unified messaging, SIP, VLAN, IP-PBX….

    Khả năng mở rộng
    Mạng phải có khả năng phát triển và mở rộng trên cơ sở khách hang, kết quả đánh giá đầu tư và nhằm giảm rủi ro trong quá trình nâng cấp mạng.

    Dễ dàng mở rộng lên băng thông cao hơn

    Mạng phải có khả năng cho phép mở rộng từ băng thông hiện tại lên băng thông cao hơn trong tương lai mà không cần nâng cấp mạng.

    Tương thích với các công nghệ mạng khác

    Mạng phải có khả năng cho phép triển khai song song với các công nghệ mạng khác như Wireless Local Loop, cáp quang, xDSL….

    Triển khai ở các vùng đô thị và các vùng nông thôn

    Mạng được thiết kế phải có khả năng hỗ trợ triển khai PLC ở cả vùng đô thị lẫn các vùng nông thôn với giá thành hợp lý và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.

  3. #3
    Quân nhân danh dự Avatar của Mr.vulh_bk
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    3.493

    Mặc định

    NHIỄU TRONG TRUYỀN THỒNG TIN TRÊN ĐƯỜNG DÂY ĐIỆN
    (Interference in Powerline Communication)

    1.Các loại nhiễu và các quá trình nảy sinh nhiễu trong hệ thống PLC

    Ta đã biết đường dây điện được ra đời phục vụ cho việc truyền năng lượng điện chứ không nhằm mục đích truyền thông tin, nay ta đưa thông tin truyền trên đó, ta sẽ gặp phải rất nhiều yếu tố gây nhiễu cho tín hiệu.

    Nhiễu trên đường dây điện có thể quy về 4 loại sau:
    Nhiễu nền (Background noise), Tạp nhiễu ( Impulse noise), Nhiễu băng hẹp (Narrow band noise), Nhiễu hoạ âm (Harmonic noise).

    Nhiễu nền:
    • Luôn có trên đường dây điện, do biến áp phân phối, hệ thống chiếu sáng công cộng, các tải xa gây ra.
    • Các phép đo chỉ ra rằng, nhiễu này giảm khi tần số tăng, nhiễu này thường gặp phải ở tần số dưới 5MHz so với phần còn lại của phổ tần.

    Tạp nhiễu:
    • Xảy ra chủ yếu do việc bật tắt công tắc các tải hay đèn chiếu sang.
    • Tạp nhiễu sinh ra do thời gian thay đổi trạng thái trên mạng ( từ vài micro giây tới vài miligiây), và điện áp được kích thêm 1- 10 vôn là hiện tượng phổ biến.

    Nhiễu băng hẹp:

    • Xày ra tuỳ thuộc truyền trên đường dây điện là MW (300KHz- 3MHz) hay SW (3MHz- 30MHz), cũng phụ thuộc vào ngắt nguồn điện cung cấp. Thông thường, nhiễu loại này lớn hơn so với nhiễu nền trong cùng một băng tần là 10-30dB.
    • Đường dây điện được thiết kế để truyền năng lượng điện chứ không để truyền tín hiệu quảng bá (ở dải Radio Frequency – RF). Nay đưa tín hiệu đó lên đường dây điện, nhiều năng lượng RF thoát ra ngoài ( như anten) và gây nhiễu cho các dịch vụ và thiết bị dùng sóng RF ở tần số lân cận, mà hầu hết các ứng dụng thông tin quảng bá ngày nay dùng dải tần số Radio như: Đài phát thanh, truyền hình.

    Nhiễu hoạ âm:

    • Sinh ra phụ thuộc vào việc đồng bộ giữa nguồn điện cung cấp cho việc đồng bộ và nguồn điện lưới (cung cấp cho các thiết bị điện).
    • Nhiễu này khác nhau ở cùng quốc gia ( vì mạng điện lưới ở các quốc gia khác nhau là có sự khác nhau), giá trị phổ biến của nhiễu loại này là 15-25dB đối với các loại tải thông thường.

    2. Các giải pháp khắc phục và giảm thiểu nhiễu.

    2.1 Các kỹ thuật khắc phục nhiễu của Intellisence
    Nhiễu trên đường dây điện.

    1.Nhiễu ở phía thu

    -Nhiễu điện có thể khiến cho module nhận không làm việc chính xác.
    -Các thiết bị có thể gây nhiễu: TV…
    -Chú ý: trong tín hiệu điều khiển mang trên đường dây điện bao giờ cũng có những cửa sổ tín hiệu trống trong 1 chuỗi mã.

    2.Làm thế nào nhiễu có thể phá vỡ hệ thống vận chuyển thông tin trên đường dây điện.


    Hệ thống vận chuyển thông tin này truyền và nhận thông tin ở những thời điểm điện áp xoay chiều có giá trị 0, vì tại thời điểm này nhiễu điện gặp phải là bé nhất. Tại thời điểm cắt 0 của đường điện xoay chiều này, module phía thu sẽ nghe ngóng dòng mã lệnh. Nếu nó nhận được một dòng mã lệnh đều đặn trong mọi cửa sổ tín hiệu thì nó hiểu rằng đó là nhiễu ngẫu nhiên chứ không phải là lệnh và nó không thực hiện những mã lệnh đó.( Vì tín hiệu đúng bao giờ cũng có những cửa sổ tín hiệu trống).

    3.Khuyếch đại tín hiệu lệnh cũng không khắc phục được nhiễu.

    Vấn đề nhiễu liên quan đến độ nhậy của thiết bị module nhận hơn là độ mạnh yếu của tín hiệu. Độ nhạy của module nhận phải đạt tới cỡ milivolt, hệ thống vận chuyển thông tin phía nhận phải đạt độ nhạy cỡ miliVolt. Nay ta không có được module có độ nhậy như vậy, mà thực hiện cách khuyếch đại tín hiệu lệnh, cách này không làm tăng độ nhậy của module lên được. Mặc dù tín hiệu lệnh đã mạnh lên nhưng module vẫn nhạy với nhiễu vì nhiễu điện cũng phải đạt tới hàng Volt.

    4.Tự động điều chỉnh hệ số khuyếch đại (Automatic Gain Control- AGC) là cần thiết, nhưng không phải mọi loại AGC đều có thể dùng được.


    AGC là một mạch điện có khả năng hiệu chỉnh độ nhạy của module nhận để hạn chế ảnh hưởng của nhiễu. Thiết bị này đã tỏ ra có hiệu quả. Tuy nhiên, để sử dụng với hệ thống vận chuyển thông tin phía nhận ( powerline carrier receivers) thì chỉ có loại Non- gated AGC, nhưng 1 hạn chế của loại AGC này là nó không đồng bộ được với cửa sổ tín hiệu. Non- gated AGC điều chỉnh độ nhạy của module phía nhận để chống lại nhiễu mức cao trong suốt chu kỳ của điện áp xoay chiều, nhưng hệ thống vận chuyển thông tin lại chỉ bị ảnh hưởng bởi nhiễu tại thời điểm điện áp xoay chiều=0 do đó lãng phí và không cần thiết.
    Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng Non- gated AGC đã hoạt động khá hiệu quả trong việc giảm ảnh hưởng của nhiễu.

    5.Leviton’s Intellisense gated AGC- Sự lựa chọn hoàn hảo.
    Đây là hệ thống AGC phù hợp với hệ thống vận chuyển tin tức trên đường dây điện, nó chỉ hoạt động trong thời gian của sổ tín hiệu, lúc module nhận nghe ngóng tín hiệu điều khiển. Thiết bị này có tác dụng giảm nhỏ mức nhạy cảm đối với nhiễu, nhưng không làm giảm đáng kể độ nhạy đối với tín hiệu lệnh.
    Kết quả là ảnh hưởng của nhiễu đã được loại bỏ đáng kể, mà làm giảm hiệu quả của hệ thống vận chuyển thông tin.
    Minh hoạ so sánh hoạt động va hiệu quả của thiết bị tự động điều chỉnh hệ số khuyếch đại ( Automatic Gain Control – AGC).

    2.2 Các giải pháp kỹ thuật khác.
    • Kỹ thuật trải phổ
    - Tính chỗng nhiễu: Kỹ thuật trải phổ cho phép truyền nhiều kênh thông tin trên cùng một tần số mà không gây ra mức độ nhiễu đáng kể. Như vậy nhiễu băng hẹp sẽ được giảm thiểu tối đa.
    - Tính bảo mật: Kỹ thuật trải phổ còn cho phép đảm bảo mức độ tư hữu bảo mật nhất định nhờ sử dụng các mã trải phổ ngẫu nhiên nên khó bắt trộm tín hiệu.
    - Trong tương lai: Kỹ thuật trải phổ sẽ có nhiều ứng dụng rộng rãi và đắc lực.
    • Chống nhiễu bên trong trạm biến áp (Distribution Transformer)
    • Mã hoá bảo đảm độ an toàn thông tin
    Về độ chính xác của thông tin: Một khi tốc độ đường truyền lên cao và nếu dòng điện không ổn định (do dùng các loại gia dụng ăn điện mạnh như bếp điện, bàn ủi…) thì lỗi thông tin rất có thể xảy ra. Để tránh tình trạng này các nhà thiết kế cũng nghĩ ra các giảm lỗi bằng các kỹ thuật phụ trợ như mã hoá và chuyển đổi thông tin. Chẳng hạn như các nhà thiết kế sẽ nghĩ ra các hàm số hoán chuyển như biểu diễn một giá trị “0” bằng một dãy số “000”, nếu chẳng may thông tin sai lạc ra 100 hay 010… thì họ sẽ tính xác suất và sửa nó lại thành 000 đúng như giá trị thực sự trong data cần truyền. Tuy nhiên sẽ có bất lợi khác là thông tin truyền sẽ nhiều hơn gấp 3 lần thông tin thực sự, sẽ làm đường truyền chậm lại.

  4. #4
    Quân nhân danh dự Avatar của Mr.vulh_bk
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    3.493

    Mặc định

    ĐIỀU CHẾ VÀ MÃ HOÁ TRONG PLC

    Nội dung:
    Giới thiệu
    Phương pháp truy nhập CDMA
    Kỹ thuật trải phổ
    Giới thiệu về công nghệ ghép kênh phân chia theo tần số trực giao.


    1.Giới thiệu

    Môi trường truyền thông trên đường dây điện lực tương tự như môi trường truyền thông vô tuyến, đây là một môi trường truyền thông rất khắt khe. Kỹ thuật trải phổ và kỹ thuật ghép kênh phân chia theo tấn số trực giao (OFDM) được sử dụng để tăng dung lượng và tăng số kênh truyền dẫn.
    Công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA) được dựa trên kỹ thuật trải phổ. CDMA được sử dụng trong công nghệ không dây cho phép nhiều người dùng cùng truy nhập vào cùng một băng tần trong cùng một thời gian. Trong công nghệ CDMA mỗi thuê bao được gán cho một mã trải phổ duy nhất. Và người dùng sử dụng mã trải phổ này để truy nhập vào mạng. Vì vậy sự đa truy nhập phụ thuộc vào số lượng mã trải phổ. Để giảm nhiễu giữa các người dùng với nhau người ta sử dụng các mã có tương quan chéo thấp nhất. Kỹ thuật OFDM truyền các bít dữ liệu trên một tập các tần số, các tần số này trực giao với nhau. OFDM là một kỹ thuật rất tốt để chống nhiễu fading và nhiễu lan truyền đa đường. Các mã sửa lỗi như mã xoắn và mã Reed- Solomon có thể kết hợp với nhau trong hệ thống để cải thiện tỉ lệ lỗi bít BER.

    2.Phương thức truy nhập CDMA.

    Trong các hệ thống đa truy nhập phân chia theo mã CDMA, trước khi tín hiệu được phát đi, người ta thực hiện chuyển đổi tín hiệu có băng tần hẹp thành tín hiệu có băng tần rộng. Việc chuyển đổi trên được thực hiện bằng hai cách đó là trải phổ trực tiếp (DS) hoặc nhảy tần (FH). Trong hệ thống trải phổ trực tiếp DS- SS tín hiệu có băng tần hẹp sẽ được nhân với tín hiệu giả ngẫu nhiên băng tần rộng hay là mã giả ngẫu nhiên và kết quả là ta được tín hiệu băng rộng mật độ phổ có công suất thấp. Mỗi người dùng được cung cấp cho một mã ngẫu nhiên (PN) duy nhất. Điều đó cho phép nhiều người dùng cùng truyền và nhận tín hiệu cùng một thời điểm trong cùng một băng tần. Các mã ngẫu nhiên này có sự tương quan chéo rất bé để giảm tối đa nhiễu giữa các người dùng trong cùng một hệ thống. Trong các hệ thống trải phổ nhảy tần FH-SS thực hiện chuyển đổi tần số sóng mang thành tập hợp các tần số được xác định theo mẫu bởi chuỗi giả ngẫu nhiên PN, chuỗi giả ngẫu nhiên này xác định mẫu nhảy tần. Vì các hệ thống DS-SS có nhiều ưu điểm hơn các hệ thống FH-SS, do vậy ngưởi ta thường sử dụng các hệ thống DS-SS.

    3.Kỹ thuật trải phổ

    Trải phổ sóng mang phân loại theo tốc độ truyền lan số liệu, bao gồm: DS (trải phổ trực tiếp), dịch tần (FH), dịch thời gian (TH) và loại hybrid.
    Ở hệ thống DS, tất cả những người sử dụng cùng dùng chung một băng tần và đồng thời phát đi tín hiệu của họ. Máy thu sử dụng tín hiệu giả ngẫu nhiên chính xác để lấy ra tín hiệu mong muốn bằng cách giải trải phổ. Các tín hiệu còn lại xuất hiện ở dạng các nhiễu phổ rộng công suất thấp như tạp âm. Còn trong hệ thống FH và TH, mỗi người dùng được ấn định một mã giả ngẫu nhiên sao cho không có cặp máy phát nào sử dụng cùng tần số hay cùng khe thời gian, như vậy các máy phát sẽ tránh được xung đột. Do đó, FH và TH là kiểu hệ thống tránh xung đột còn DS là kiểu hệ thống lấy trung bình. Hệ thống CDMA chỉ sử dụng DS nên sau đây ta chủ yếu xét đến kỹ thuật DS.
    Giới thiệu hệ thống trải phổ trực tiếp(DS)
    Hệ thống DS ( nói chính xác là sự điều chế các dãy mã đã được điều chế thành dạng sóng điều chế trực tiếp) là hệ thống được biết đến nhiều nhất trong các hệ thống thông tin trải phổ. Chúng có dạng tương đối đơn giản vì chúng không yêu cầu tính ổn định nhanh hoặc tốc độ tổng hợp tần số cao. Hệ thống DS đã được áp dụng đối với cosmetic space đa dạng như đo khoảng cách JPL bởi Golomb ( thông tin số ứng dụng khoảng cách). Ngày nay kỹ thuật này được áp dụng cho các thiết bị đo có nhiều sự lựa chọn và nhiều phép tính của dãy mã trong hệ thống thông tin, trong đo lường hoặc trong phòng thí nghiệm.
    DS thực hiện trải phổ bằng cách nhân tín hiệu nguồn với một tín hiệu giả ngẫu nhiên có tốc độ chip (Rc = 1/Tc ) cao hơn nhiều tốc độ bít dữ liệu (Ro= 1/To).

    Dãy tạp âm giả ngẫu nhiên PN
    Trong hệ thống CDMA, các dãy PN được sử dụng để:
    • Trải rộng dải băng của tín hiệu được điều chế thành dải truyền dẫn rộng hơn.
    • Phân biệt giữa các tín hiệu của những người sử dụng khác nhau băng việc sử dụng cùng một dải băng truyền dẫn trong kế hoạch đa truy cập.
    Các dãy PN không phải là ngẫu nhiên, chúng là các dãy có chu kỳ xác định. Ba tính chất chính của dãy PN lý tưởng:
    • Tần suất xuất hiện tương ứng của 0 và 1 đều là 0,5.
    • Độ dài của bước chạy ( dãy các bít cùng loại “0” hoặc “1”) là : một nửa trong tổng số bước chạy có độ dài là 1, 1/4 có độ dài bước chạy là 2, 1/8 có độ dài bước chạy là 3,…, 1/2n có độ dài là n với n hữu hạn.
    • Nếu một dãy PN được dịch bởi bất kỳ phần tử khác 0 nào thì dãy kết quả sẽ có số sự giống nhau bằng số sự khác nhau so với dãy gốc.
    Dãy PN được tạo ra bằng việc kết hợp các đầu ra của các thanh ghi dịch hồi tiếp. Một thanh ghi dịch hồi tiếp bao gồm bộ nhớ 2 khâu liên tiếp hoặc các khâu lưu trữ và mạch logic hồi tiếp. Các dãy nhị phân được dịch qua thanh ghi dịch theo nhịp xung đồng hồ. Giá trị của các khâu được kết hợp một mạch logic để tạo ra đầu vào cho khâu đầu tiên. Giá trị ban đầu của các khâu và mạch logic hồi tiếp xác định giá trị tiếp theo của các khâu. Một thanh ghi hồi tiếp và đầu ra của nó được gọi là tuyến tính khi mạch logic hồi tiếp chỉ chứa toàn các bộ cộng môđun 2.

    4.Giới thiệu về công nghệ ghép kênh phân chia tần số trực giao

    OFDM còn có tên gọi khác là “Điều chế đa sóng mang trực giao” OMCM (Orthogonal Multi- Carrier Modulation). Phương pháp điều chế này dựa trên nguyên tắc phân chia luồng dữ liệu tốc độ cao thành các luồng có tốc độ thấp truyền trên nhiều sóng mang trực giao với nhau. Công nghệ này được trung tâm nghiên cứu CCETT ( Centre Commun d ‘ Etudes en Télédiffusion ét Té lécommunication) của Pháp phát minh và nghiên cứu từ đầu thập niên 80.
    Phương pháp đa sóng mang dùng công nghệ OFDM sẽ trải dữ liệu cần truyền trên rất nhiều sóng mang, mỗi sóng mang được điều chế riêng biệt với tốc độ bít thấp. Trong kiểu FDM truyền thống những sóng mang được lọc ra riêng biệt để bảo đảm rằng không có chồng phổ, bởi vậy không có hiện tượng giao thoa ký hiệu ISI giữa những sóng mang nhưng phổ lại chưa được sử dụng với hiệu quả lớn nhất. Với OFDM, nếu khoảng cách sóng mang được chọn sao cho những sóng mang trực giao trong chu kỳ ký hiệu thì những ký hiệu có thể được khôi phục mà không có giao thoa hay chồng phổ.
    Hình 1 biểu diễn phổ đa sóng mang, các sóng mang này trực giao với nhau tức là đỉnh của sóng mang này sẽ đi qua điểm 0 của các sóng khác. Về mặt toán học, trực giao có nghĩa là các sóng mang sẽ được lấy ra từ nhóm trực chuẩn (Orthonormal basic sets) {(i(t)/ i=0,1,…) } có tính chất sau:
    Công thức
    Như vậy { (i(t) }= { sin(n2(t/Tu), cos (m2(t/Tu) } với Tu= T2-T1
    Ngoài ra có thể biểu diễn trực giao theo hàm phức:
    Công thức
    Khoảng cách giữa 2 sóng mang trực giao cạnh nhau sẽ là ( f= 1/Tu)

    Nguyên lý điều chế OFDM
    Luồng dữ liệu tốc độ cao được chia thành N luồng tốc độ thấp hơn, mỗi luồng tốc độ thấp sẽ điều chế riêng biệt, thường là điều chế QAM, sau đó chúng được mang ( nhân ) bởi các sóng mang có tần số khác nhau rồi hợp lại tạo nên phổ tần cơ bản của tín hiệu.

    Trong thực tế số lượng sóng mang là rất lớn ( có thể lên tới hàng nghìn) nên việc tạo ra nhiều bộ dao động nội là không khả thi vì vậy cần một phương pháp khác để tiến hành điều chế. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra phương pháp biến đổi Fourier rời rạc ngược (IDFT), quá trình này chuyển đổi các tín hiệu rời rạc trong miền tần số sang miền thời gian.
    Mỗi luồng tốc độ thấp được điều chế QAM có cùng tốc độ ký hiệu T ( T=b. Tb với Tb là tốc độ bít của luồng và b là số bít trong 1 symbol điều chế QAM). Sau khi điều chế QAM, mỗi symbol mang tin của luồng dữ liệu con được ánh xạ (Mapping) lên các điểm tín hiệu phức mà ta ký hiệu là X(k) ( với k= 0,1,…,N-1).
    Dùng biến đổi IDFT với N điểm phức này ( tại miền tần số rời rạc) sẽ cho ta N mẫu tại miền thời gian rời rạc x(n):

    Nếu ta đặt:
    Tu là chu kỳ một symbol OFDM ( gồm N symbol QAM ) thì Tu=N.T;
    f=1/Tu là khoảng cách sóng mang trực giao thì fn=n ( f là tần số sóng mang thứ n ( tại băng tần cơ bản).
    Các mẫu rời rạc này được chuyển thành nối tiếp, biến đổi D/A và lọc cho tín hiệu x(t) liên tục trong miền thời gian. Tín hiệu x(t) nhận được chính là tín hiệu tổng hợp OFDM, sau đó có thể được điều chế cao tần.

  5. #5
    Quân nhân danh dự Avatar của Mr.vulh_bk
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    3.493

    Mặc định

    Có một số công thức + hình ảnh chưa up lên được.Cáo lỗi cùng anh em !

  6. #6
    svBK's Member Avatar của ryan_mu
    Tham gia ngày
    Sep 2005
    Bài gửi
    93

    Mặc định

    Em thấy kĩ thuật PLC này khá mới mẻ ngay cả với các nước tiên tiến.Nhưng sao anh vulh_bk không post cụ thể một số tiêu chuẩn để bọn em có thể nghiên cứu chế tạo mạch tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế như Mỹ là Home Plug 2.x hay 3.x hoặc Châu Âu hoặc IEEE ...

    Thế giới quả là rộng lớn...


  7. #7
    svBK's Newbie
    Tham gia ngày
    Mar 2008
    Bài gửi
    1

    Mặc định

    Bạn vui lòng cho hỏi có biện pháp nào chống nhiễu cho TV khi đặt gần CPU của computer không? Cảm ơn

  8. #8
    HUT's Student Avatar của nhomuathu_hanoi
    Tham gia ngày
    Apr 2007
    Bài gửi
    110

    Mặc định

    Quote Nguyên văn bởi a2znha
    Bạn vui lòng cho hỏi có biện pháp nào chống nhiễu cho TV khi đặt gần CPU của computer không? Cảm ơn
    1. Cắm chắc cái jack antenna của TV nhà bạn vào, và cũng đừng dùng loại cáp antenna rẻ tiền, nên dùng cáp đồng trục
    2. Đừng bắt cái computer của bạn nó phải "ở trần". Cái vỏ kim loại của nó là hộp chống nhiễu điện từ ra xung quanh cực kỳ hiệu quả đấy.
    3. Nếu ko ăn thua thì cách tốt nhất là mua một tấm lưới kim loại có lỗ nhỏ bọc lấy cái computer của bạn hoặc thì là.... để xa cái TV ra
    ..mùa hoa Sữa về, thơm từng con gió, mùa Cốm Xanh về, thơm bàn tay nhỏ, Cốm Sữa vỉa hè thơm bước chân qua..

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Command Line for windows ( Vista - 2003 - XP and 2000 )
    Gửi bởi benq trong mục Tài liệu CNTT
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 07-08-2007, 10:28 AM
  2. Tìm tài liệu về PLC (power line communication)
    Gửi bởi mr_online trong mục Giảng đường khoa ĐTVT
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 22-03-2007, 07:24 AM
  3. Power sleep : 1 cuốn sách rất hay !
    Gửi bởi eagleking trong mục Địa chỉ, tài liệu, phần mềm hữu ích
    Trả lời: 9
    Bài cuối: 22-10-2006, 09:02 PM
  4. _ Communication _
    Gửi bởi fatcat trong mục Jazz - Soul - Other
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 06-08-2005, 03:10 AM
  5. Austin Power is back!
    Gửi bởi austin power trong mục Kết bạn bốn phương
    Trả lời: 51
    Bài cuối: 24-09-2004, 09:18 AM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube