User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/7 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 63

Chủ đề: Các nghi án lịch sử

  1. #1
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định Các nghi án lịch sử

    1. Ai giết Lê Lai
    Giặc Minh hay Lê Lợi ?

    Tại sao "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư "
    không chép chuyện "Lê Lai liều mình "?

    Chuyện Lê Lai liều mình cứu chúa là một hành động hy sinh vì đại nghiã rất đáng cho người đời sau ghi nhớ . Ở Thành Phố H.C.M ,đại lộ Lê Lợi chạy từ Nhà Hát Thành Phố đến Chợ Bến Thành, nối liền là đường Lê Lai chạy cho đến Nhà Thờ Huyện Sĩ. Trong nhân gian cụm từ " Hăm mốt Lê Lai,hăm hai Lê Lợi " cũng nói lên lòng kính trọng đối với ngày giỗ của hai vị anh hùng này. Những vị cao tuổi bây giờ , ngày xưa học tiểu học cũng đã từng học chuyện" Lê Lai liều mình cứu chúa" .Trong "sử ký lớp ba" do sử gia Trần Trọng Kim soạn, Nha Học Chính Bắc Kỳ ấn hành đã được dùng làm sách giáo khoa dạy trong các trường . Nếu không nghiên cứu thêm các sách sử khác mà cứ một mực tin theo như thế và lòng tin ấy vẫn kéo dài hằng mấy mươi năm ,có thể cho đến khi chết vẫn yên trí như vậy, không biết điều đó có thật đúng như vậy hay không?
    Với những người yêu môn sử học,có nghiên cứu thì thấy chuyện này lại khác. Nhiều nghi vấn được đặt ra:

    * Lê Lai cứu chúa ở trận nào, thời gian nào ?

    * Ông có bị quân Minh bắt không ?

    * Hay ông còn sống và sau đó chết vì tay Lê Lợi ?

    Về việc này mỗi nhà viết sử viết một khác.

    a. Theo Dực Tông Anh Hoàng Đế (vua Tự Đức ) trong Ngự Chế Vịnh Sử Tổng Luận cuốn 5 trang 49 ".....Có lần vua Lê Thái Tổ tiến đóng ở Lạc Thủy bị quân nhà Minh vây sát, vua yếu thế, lén rút về ở núi Chí Linh, giặc Minh rút lui để trở lại tấn công xứ Mỹ-Lộng, sách Hà Đã.

    Trong tình cảnh nguy khốn, quân ít thế cô lại nhiều lần bị quân Minh vây hiếp, vua ban hỏi các tướng lãnh"trong các tướng có ai bằng lòng đem mình thay ta ra đánh ở Tây Đô để làm mồi nhử cho giặc bắt, trường hợp đó ta sẽ rảnh tay chiêu tập quân sĩ để sau này mưu đồ đại sự."

    Lê Lai liền tình nguyện đảm đương việc này bèn xuất binh đến thành Tây Đô khiêu chiến và mặc áo Ngự bào, tự xưng Bình Định Vương. Quân giặc trông thấy người mặc áo vàng tưởng là Bình Định Vương thật, bèn đem hết quân đến vây và bắt sống; đem về rồi giết ... Nhờ thế Bình Định Vương được nghỉ ngơi vài năm để lo tích dưỡng binh đội mà quân Minh không hề để ý đến.

    b. Theo Ngô Thì Sỹ trong Việt Sử Tiêu Aùn trang 298 thì " ... Trước Vương khởi binh ở Lam Sơn, thế quân kém và ít, người Minh lùng bắt mãi, bèn mưu cùng tướng tá rằng ai có thể đem thân ra thay ta, để cho ta đi ẩn nấp, giấu tông tích mà cho quân nghĩ để mưu đồ cử binh lần sau. Lê Lai xin đem thân nhận lấy việc ấy, Vương lạy khấn trời nói ; "Lê Lai đem thân mà thay chúa, nếu sau này không nhớ đến công, nguyện cung điện hóa thành rừng núi, bảo ấn hóa thành đồng, thần kiếm hóa thành dao cùn". Lê Lai liền tự xưng là Bình Định Vương, khiêu chiến với quân Minh rồi chết. Đâu cũng truyền đi là Bình Định Vương đã chết. Người Minh cũng tin là thật không lưu ý. Đến lúc này Vương rời đồn đến Mang Thôi, .... Lý Bân Phương Chính (tướng Minh) đem 10 vạn quân đến vây .Vương phục binh ở Thị Lang tập kích địch....".

    c. Theo Phan Huy Chú, trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí trang 332, chỉ nói Lê Lai vì nước bỏ mình... cho nên không riêng chép ra mà chỉ nhân thể chú phụ vào sau thôi - trong phần chú thích có ghi "Lê Lai là người làng Dụng Tú huyện Lương Giang. Lúc mới khởi binh bị tướng Minh vây chặt, vua hỏi các tướng bàn xem đổi áo đánh lừa giặc như việc Kỷ Tín ngày xưa, Lê Lai xin đi bèn mặc áo bào đem quân xông vaò hàng trận của giặc, đánh đuối sức và bị bắt , vua nhân dịp này trốn thoát.

    d. Theo Lê Quý Đôn trong Đại Việt Thông Sử "... Đóng ở Mang Cốc trong núi Linh Sơn hơn 10 ngày, phải dùng mật ong trộn với vũ dư lương làm bữa ăn rất là khốn đốn. Hoàng Đế bèn hỏi các Tướng: "có ai dám bắt chước Kỷ Tín thời xưa không ?". Người ở thôn Dụng Tú là Lê Lai khẳng khái vâng mệnh, tự nguyện thay đổi mặc áo bào nhà vua,xưng là vua Lê Lam Sơn, dẫn quân ra đánh quân Minh, quân Minh mừng rỡ liền dồn cả lực lượng vây chặt Lê Lai, ông chống cự đến kiệt sức rối bị bắt, quân Minh dẫn ông về thành Đông Quan giết chết, chúng liền lui binh, ta thoát nạn...

    e. Trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thấy viết " ... về Chí Linh lần thứ hai tháng tư năm Kỷ Hợi (1419) quan nhà Minh biết rằng Chí Linh là chỗ Bình Định Vương lui tới bèn đem binh đến vây đánh, Vương bị vây nguy cấp lắm bèn hỏi các tướng rằng có ai làm được như Kỷ Tín ngày trước chịu chết cho vua Hán Cao không? Bấy giờ Lê Lai liều mình vì nước xin mặc áo bào cưỡi voi ra trận đánh nhau với giặc. Quân nhà Minh tưởng là Bình Định Vương thật xúm nhau lại vây đánh, bắt được giết đi rồi rút quân về Tây Đô.

    f. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí lại viết " ... Lê Lai người thôn Dựng Tú huyện Thụy Nguyên, Thái tổ khởi nghĩa bị quân Minh vây hãm, các tướng bàn mưu cho một người mặc áo bào giả làm Bình Định Vương để đánh lừa giặc theo như việc cũ của Kỷ Tín nhà Hán, Lê Lai xin làm việc ấy vì vậy Thái tổ mới lén ra đi năm Thuận Thiên thứ nhất được tặng thái ký..."

    g.Trong Đaiï Việt Sử Ký Toàn Thư, cuốn thứ X có lẽ do Phan Phu Tiên viết là chính sau này các sử quan khác như Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Lê Tung, Phạm Công Trứ, Lê Hy nhuận sắc thêm thì chỉ có ghi theo biên niên các trận đánh mà ở đó Lê Lợi khốn đốn vì bị vây hãm và hết lương.

    1. Mùa xuân tháng giêng ngày Canh thân, vua khởi binh ở Lam Sơn (1418) , ngày mồng 9 tháng ấy bọn nội quan nhà Minh là Mã Kỳ đem đại binh tới uy hiếp vua ở Lam Sơn, vua bèn lui quân đến đóng ở Lạc Thủy, ngày 13 dời quân đến núi Chí Linh. Ngày 16 giặc đi lối tắt đánh úp đằng sau vua bắt mất gia thuộc của vua và rất nhiều vợ con của quân dân. Tháng 2 vua hết lương, không còn gì để nổi lửa gặp khi giặc lui quân bèn về đắp thành ở đất Lam Sơn.

    2. Tháng 4 năm Kỷ Hợi (1419) vua đánh đồn Nga Lạc, tháng 5 đóng ở sách Đà Sơn, quân Minh tiến đánh vua phục kích ở Mường Chách... ít lâu sau dời sang Mường Thôi rồi lại về Vu Sơn.

    3. Tháng 10, năm Canh Tý (1420) quân ta đánh nhau với quân Minh ở Mường Nanh.

    4. Từ năm 1420 - 1422 lúc nào cũng có giao tranh với quân Minh.

    5." Mùa đông tháng 12 năm Nhâm Dần (1422) quân ta bị giặc Minh vây ở Sách Khôi, vua bảo các tướng sĩ " giặc vây ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào thoát. Đây chính là tử địa mà binh pháp đã nói, đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết. Vua nói xong chảy nước mắt, các tướng sĩ đều xúc động tranh nhau liều chết quyết chiến....Vua đem quân về đóng ở núi Chí Linh, quân lính hết lương, hơn 2 tháng chỉ ăn rau củ và măng tre mà thôi, vua giết 4 con voi và cả ngựa của mình cưởi để nuôi quân sĩ...."

    Từ trận đó cho đến khi toàng thắng giặc Minh vào năm 1428 không có trận nào mà Lê Lợi bị vây khốn nữa.

    Theo như lời của vua Tự Đức có lẽ việc Lê Lai đổi áo bào cho Lê Lợi là trong trận ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418) hoặc tháng hai năm đó - xứ Mỹ công sách Hà Đã có lẽ là vùng thượng lưu sông Chu, phía trên Lam Sơn.

    Theo Ngô Thời sĩ thì có lẽ hành động của Lê Lai được thực hiện trong trận tháng 5 năm Kỷ Hợi (1419) khi quân Minh tiến đánh Lê Lợi ở sách Đà Sơn.

    Còn Phan Huy Chú thì không ghi rõ địa điểm cũng như thời gian của việc này.

    Lê Qúy Đôn thì ghi "đóng quân ở Mang Cốc trong núi Chí Linh hơn 10 ngày hết lương..." và hành động mặc áo bào của nhà vua xưng là Lê Lam Sơn có thể vào mùa đông tháng 12 năm1422 trong khi đó Trần Trọng Kim thì ghi rõ là tháng 4 năm1419.

    Một điều đáng ngạc nhiên là sử gia các đời về sau đều chép truyện Lê Lai liều mình cứu chúa .Trong khi nhóm sử thần đời Lê lại không ghi chuyện này.Trong Đại Việt Sử Ký Tòan Thư phần bản kỷ , quyển số 10, trang 27b chỉ thấy chép : "Ngày 13 tháng giêng năm Đinh Mùi (1427) giết Tư Mã Lê Lai , tịch thu gia sản vì Lai cậy có chiến công nói năng khinh mạn "

    Điều này cho phép ta hiểu rằng chuyện Lê Lai đổi áo giả làm Lê Lợi là có thật nhưng ông đã may mắn thoát khỏi tay quân giặc để trở lại hàng ngũ kháng chiến .Nghĩa là ông vẫn còn sống cho đến năm 1427 tức là 8 năm sau mới bị Lê Lợi ra lệnh giết chết

    " Điểu tận cùng tàng" chim hết thì cung tên xếp xó; thỏ hết thì chó săn bị bắt ra làm thịt, việc giết công thần sau khi đã làm nên nghiệp lớn là việc thường xảy ra dưới thời đại phong kiến.Hán Cao Tổ giết Hàn Tín, Việt Vương Câu Tiễn giết Văn Chủng , Phạm Lãi nhờ trốn sang nươc Tề rồi vào đất Đào, cải tên là Đào Chu Công mới may còn sống sót.

    Theo nhận xét của các tác giả Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ,quyễn X ,trang 75b viết : "Thái Tổ từ khi lên ngôi đến nay,thi hành chính sự thực rất khả quan....song đa nghi hiếu sát là chổ kém ". Khi thành công trong việc giành lại độc lập - Lê Lợi đã giết chết nhiều công thần đã sát cánh cùng mình trong gian khổ chiến đấu. Ngày 10 tháng giêng Mậu thân ( 1428 ) giết Trần Cảo,Năm 1429 giết Trần Nguyên Hãn , Năm 1431 giết Phạm Văn Xảo ... vì lo rằng sau này họ có chí khác nên bên ngoài thì đối xử theo lẽ tiết hậu nhưng trong lòng lại rất ngờ vực.

    Lê Lợi đã ra lệnh giết chết Lê Lai cũng nằm trong ý đồ này

    Thêm một yếu tố xác định việc thanh toán này là trong danh sách ban biển ngạch công thần cho 93 người vào ngày 3 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1429 ) không có tên của Lê Lai và suốt các đời vua Lê về sau trong các lần phục hồi công trạng cho các công thần bị hàm oan cũng không thấy có tên Lê Lai mà chỉ nói đến tên của Lê Lâm và Lê NIệm là con và cháu nội của Lê Lai mà thôi.Mãi cho đến năm Nhâm Tý (1672) Lê Gia Tông niên hiệu Dương Đức năm thứ nhất mới thấy phục hồi cho Lê Lai hạ .Lê Gia Tông hạ chiếu giảm bớt ruộng thế nghiệp của các công thần thời Lê sơ, ngoại trừ Lê Lai (sách Biên Niên Lịch Sứ Cổ Trung Đại Việt Nam trang 320 )

    Giết một người đã chết thay cho mình ,để mình được sống mà bảo tòan lực lực lượng,đổi nguy thành an, sau này lên ngôi Hòang Đế ; giết mà còn tịch thu gia sản sau khi đã thề thốt nặng lời " Lê Lai đem thân mà thay chúa , nếu sau này không nhớ đến công, nguyện cung điện hóa thành rừng núi , bảo ấn hóa thành đồng, thần kiếm hóa thành dao cùn " quả Lê Lợi đã làm một việc thật là......... Nếu các tác giả Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chuyện" Lê Lai liều mình" và sau đó còn ghi việc Lê Lai bị giết thì khác nào bêu xấu Lê Lợi ,điều mà các vua Lê không lấy gì thích thú .Có thể các sử gia có chép chuyện "Lê Lai đổi áo" vì rằng đó là một sự kiện đáng tự hào, không thể không ghi, nhưng khi dâng vua xem thì e rằng vua hạ lệnh "biên tập " đi chăng !

    Còn tại sao các sử gia như Lê Qúy Đôn, Trần Trọng Kim và ngay cả vua Tự Đức không ghi việc Lê Lợi giết Lê Lai vào năm 1427 là vì họ đã cho giặc Minh bắt và giết Lê Lai ngay lần cứu chúa vào năm 1419 rồi còn đâu nữa ! Chỉ có Ngô Thì Sĩ là không ghi ai đã giết Lê Lai , còn Phan Huy Chú thì chỉ nói khaí quát là "Lê Lai vì nước bỏ mình"...

    Trong sách Lịch Sử lớp 7 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ấn bản lần thứ 9 tháng 7/1996 đang được dạy tại các trường Phổ Thông, trang 69 viết: " Trước tình thế hết sức nguy hiễm,Lê Lai liền cải trang làm Lê Lợi chỉ huy một đội quân cảm tử xưng là chúa Lam Sơn, xông thẳng vào vòng vây của địch.Quân Minh dồn hết sức hướng về phía Lê Lai . Chúng bắt được Lê Lai và đội quân cảm tử đem giết hết."

    Vậy lịch sử nằm trong sách, hay sách nằm trong lịch sử???
    ~ ~ ~ ' ' ' " " " " " ' ' ' ~ ~ ~
    T ố n h â n b ấ t k h ả h ữ u k h i n h n g ạ o t h á i

    N h i ê n b ấ t k h ả v ô k h i n h n g ạ o c ố t

    ---+++---




    ---+++---
    BLOG, BLOG...

  2. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  3. #2
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    2. Bệnh án của Ngọa Triều Hoàng Đế

    . Có phải Lê Long Đĩnh là một vị vua của tàn ác và dâm đãng ?
    . Tại sao người ta gọi ông là Ngọa Triều Hoàng Đế ?
    . Long Đĩnh có mắc bệnh tâm thần và bệnh trĩ ?

    Đại Việt Sử Lược là bộ sách viết về sử xưa nhất của nước ta , được lưu giữ trong " Tứ Khố Toàn Thư " của triều Mãn Thanh Trung Quốc , nó có trước bộ Đại Viêt Sử Ký của Lê Văn Hưu , trang 107 chép về cái chết của Ngọa triều Hoàng Đế như sau :

    " Mùa đông tháng 10 ngày Tân Hợi năm Mậu Thân (1008), vua qua đời tại phòng ngủ trong điện, Hiệu là Ngọa Triều , vì vua có bệnh trĩ phải nằm để thị triều "
    Đại Việt Sử Ký Tòan Thư , Bản kỷ , Quyễn I , trang 235 chép :
    Ngoạ Triều Hoàng Đế tên húy là Long Đĩnh , lại có tên là Chí Trung, con thứ năm của Đại Hành ở ngôi 4 năm , thọ 24 tuổi , băng ở tẩm điện. Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi ,thích dâm đãng tàn bạo??"
    Hay ở trang 236 viết "Vua tính hiếu sát , phàm người bị hành hình , hoặc sai lấy cỏ gianh quân vào ngừơi mà đốt, đề cho lửa cháy gần hết, hoặc sai kép hát ngừơi nước Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn dao cùn xèo từng mảnh, để cho không được chết chóng. Ngừơi ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: "Nó không quen chịu chết" Vua cả cừơi . Đi đánh dẹp bắt đựơc tù binh thì đến bờ sông, khi nứơc triều rút, sai ngừơi làm lao dứơi nứoc , dồn cả vào trong ấy, đến khi nứớc triều lên, ngập nứơc mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, ngừơi rơi xuống chết Vua thân đến xem , lấy làm vui .Có lầnVua đi đến sông Ninh, sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạng thuyền,đi lại giữa giòng muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước , rồi mới đưa vào nhà bếp sau . Có lần vua róc mía trên đầu sư Quách Ngang , giả vờ lỡ tay làm đầu sư chảy máu rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc , giết mèo cho các vương ăn, ăn xong, lấy đầu mèo dâng lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên; Vua có nói câu gì thì bọn ấy nhao nhao pha trò cười để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính. Lại lấy thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn ."
    Chuyện tranh giành ngôi báu , anh em giết nhau để không phải là việc hiếm thấy , cũng như Đinh Liễn giết Hạng Lang năm 979 hay Nghi Dân giết Bang Cơ năm 1459.
    Cái tội của Khai Minh Vương rõ ràng nhưng "Vua làm việc càn dỡ giết vua cướp ngôi , thích dâm đãng tàn bạo " liệu có thật như thế không hay là đây là chuyện dời sau thêm vào , ngay cái danh hiệu là Ngọa Triều cũng còn nghi ngờ. Có phải Long Đĩnh tự mình đặt cho mình cái thụy quái gở này hay là đơì sau gán cho ông ta.
    Ngô sĩ Liên cho rằng " Ngoạ Triều không những thích giết ngừơi . mà còn oán vua cha.."

    Chỉ có những người mắc bệnh tâm thần , với một đầu óc bệnh hoạn mới tưởng tượng ra các trò chơi giết người phong phú như đoạn văn trên mô tả những hành vi độc ác mất hết tính người

    LONG ĐĨNH CÓ DẤU HIỆU BỆNH TÂM THẦN VÀ MẮC BỆNH TRĨ KHÔNG ?

    Một bệnh án và chẩn đoán phân biệt được mô phỏng theo các tài liệu lịch sử đáng tin cậy có thể được biện luận như sau :

    Về phương diện tâm thần xét hành vi của Long Đĩnh trong vai trò lảnh đạo đất nước hoàn toàn đối nghịch với một số hành vi tàn bạo hung ác như trích dẫn sau đây làm thí dụ như :

    Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục , Chính biên , quyễn 1 trang 274 chép: " Đinh Mùi (1007 ) Mùa xuân Long Đĩnh sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống , dâng biểu xin cửu kinh và kinh sách Đại Tạng "

    Đại Việt Sử Ký Tòan Thư trang 235 chép " Nhà vua đi Ái Châu , đến sông Vũ Lung . Tục truyền : người lội qua sông này phần nhiều bị hại , nhân thể vua sai ngươì bơi lội qua lại đến ba lần , không hề gì , xuống chiếu đóng thuyền để ở (các bến sông ) Vũ Lung , Bạt Cừ , Động Lung bốn chổ để chở người qua lại "

    Trong Đại Việt Sử Lược trang 107 chép " Năm Định Vị ( Mùi) tức năm 1007 Vua sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống"

    Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, trang 274 chép : " Vuaxin với nhà Tống cho ta sang "hồ thị" ở Ung Châu, mua bán đổi chác với người Tông , nhưng vua Tống không nghe , chỉ cho mua bán đổi chác ở Liêm Châu và Trấn Như Hồng thôi " ( Ung Châu thuộc Tỉnh Quảng Tây nằm sâu trong nội địa Trung Quốc )

    Hoặc Trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sỉ , Bản kỷ , Quyển I , trang 39a chép: "Khai Minh Vương sai dân Ái Châu đào kênh , đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng.."

    Long Đĩnh trong 4 năm cầm quyền cho đến trước khi chết , ông vua trẻ này đã 5 lần tự tay cầm quân đánh giặc.

    Lần thứ nhất ( năm 1005) dẹp tan bạo loạn giữa các anh em thu phục mọi người ĐVSKTT trang 233 chép "?Từ đấy về sau các Vương và giặc cướp đều hàng phục ".

    Lần thứ hai ( 1005 ) Khi quan quân đang đánh nhau với ngưới ở trại Phù Lan chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biễn Thần Đầu ( Ninh Bình ) Vua về đến sông Tham , đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.

    Lần thứ ba ( 1008 ) Đánh người Man ở hai châu Đô Lương và Vị Long.

    Lần thứ tư ( 1008) Đánh giặc ở Hoan châu và châu Thiên Liêu.

    Lần thứ năm (1009) Tháng 7 vua đi đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.

    Và đến tháng 10 năm năm Mậu Thân (1008), vua qua đời tại phòng ngủ trong điện.

    Một cái chết mà Ngô Thì Sỉ đã nêu ra một nghi vấn , ông cho rằng Long Đĩnh bị thanh toán trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, trang 185, ông viết như sau :"? Lý Thái tổ rất căm phẫm trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai minh Vương , nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật , sai người vào đầu độc giết đi rồi dấu kín việc đó , nên sử không được chép ?"

    Qua những hành vi nêu trên thật khó tưởng tượng và xác định Long Đĩnh là một vị vua chuyên làm việc càn dở như sử ký đã ghi.

    Long Đĩnh lại có thể là một người lai Chiêm Thành vì trong Đại Việt Sử Lược Quyễn I trang 21 chép và Đại Việt Sử Ký Tòan Thư trang 232 chú giải như sau : Mẹ của Lê Long Việt và Lê Long Đĩnh là Hầu Di Nữ( Con người hầu gái người Chiêm Thành ).

    Như vậy cái chết của Ngọa Triều Hoàng Đế có thể vẫn còn là một bí ần mà nguyên nhân sâu xa hơn ngoài Tội Ác Giết Anh Cướp Ngôi , còn cái gì nữa hay không ? Có lẽ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Lý Công Uẩn ,Hửu Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Nguyễn Đê , Chi hậu Đào Cam Mộc vàKhuôn Việt Thái Sư, Vạn Hạnh Thiền sư và những Đại thần từng giúp cho Lê đại Hành là những người biết rõ điều này cho nên lời bàn của Ngô thì Si không phải là không có căn cứ ( Xem thêm ĐVSKTT trang 238 , hoặc tham khảo tài liệu qua Tòa soạn SK&Đ ).

    Không biết Ngô Thì Sĩ khi nói nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật , sai người vào đầu độc giết đi là có ý gì ? bởi vì trước khi vua chết một hoặc hai tháng ông ta vẫn còn cầm quân đi đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà.

    Nhiều quyển sử ghi là vua bị bệnh Trĩ , đam mê tửu sắc thích dâm đãng tàn bạo , điều này quả thật có như vậy không ?

    Bệnh trĩ là bệnh thế nào ?

    Bệnh Trĩ là bệnh có liên quan đến cấu tạo củathành tỉnh mạch và huyết động học vùng chậu , các tỉnh mạch ở vùng hậu môn phồng lớn ra tạo thành bứu trĩ , nếu các bứu trĩ chiếm trên 180 độ thì được xếp vào loại 4 , nguyên nhân chưa rõ nhưng người ta ghi nhận những người bị viêm đại tràng mãn tính , táo bón , viêm gan , các nghề ngiệp mà phải đứng lâu ngồi lâu như ,thư ký tài xế..thì dễ bị bệnh trĩ hơn các người.

    Theo quan niệm của đông y thì là do Khí hư hạ lãm là khí hư bị hãm , bị chận lại ở dưới không lưu thông được.

    Người ta hay nói đau khổ vì bệnh trĩ , điều đó rất đúng , người nào có mắc phải bệnh này mới hiểu được nổi khổ của họ , nhất lại là bệnh nhân phải nằm để thị triều kiểu như người ta mô tả cho Lê Long Đĩnh với thụy hiệu Ngọa Triều.

    Bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm thì thường ở giai đoạn 4 , là giai đoạn nặng mà biện pháp điều trị là giải phẩu , mà giải phẩu hay tiêm thuốc để cho teo bứu trĩ thì 1000 năm trước làm gì có , nếu không được giải phẩu kịp thời thì bứu trĩ sẽ lan rộng ra , sưng tấy đau nhức , chảy máu , sa bít hậu môn làm bệnh nhân không dám đi cầu . Vì đau đớn và cấn ở hậu môn làm cho bệnh nhân phải nằm , không thể đi đứng , di chuyển , nhất là bệnh trĩ trong giai đoạn diễn tiến cấp tính

    Khó mà tin Long Đĩnh là " ngọa triều " được vì trong suốt thời gian ngắn ngũi 4 năm ông cầm quyền ông ta đã tự mình làm tướng đi chinh phạt đến 5 lần và trận chiến cuối cùng mà Long Đĩnh tham dự trước khi ông chết là 2 tháng , đó là trận vua đem quân đi đánh châu Hoan Đường , Thạch Hà vào mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu ( 1009 ) .Thử hỏi một " ngọa triều " làmsao mà đi đánh giặc được

    Nếu Lê Long Đĩnh mắc bệnh trĩ mà phải nằm để thiết triều thì e rằng khó mà giải thích được những cuộc chinh chiến liên miên của ông ta

    Để thực hiện được những cuộc chinh chiến liên miên , lâu dài và thành công như vậy chắc chắn vua phải có một sức khỏe thật tốtû cho nên nói là vua là kẻ ham mê tửu sắc , đau bệnh trỉ , lâm triều phải nằm là chuyện cần phải xét lại

    Người gọi là đam mê tửu sắc thì suốt ngày chè chén say sưa , hoan lạc liên tục thì đầu óc trống rỗng , sức khỏe lụn bại làm gì có những quyết định sáng suốt cấp tiến như Cho nguờì sang Tống xin chín bộ sách vĩ đại nhất của Trung Quốc là Dịch , Thi , Thư , Lễ , Xuân thu , Hiếu kinh , Luận ngữ , Mạnh Tử , Chu lễ và kinh sách Đại Tạng , xuống chiếu đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung , Bạt Cừ , Động Lung bốn chổ để chở người qua lại , sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống , xin cho ta sang "hồ thị" ở Ung Châu, mua bán đổi chác với người Tông , sai dân Ái Châu đào kênh , đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng..v.v?vì có lần Ngô Thì Sỉ nói như thế này : " Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi , cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp , mà cái tên Ngọa Triều cũng không đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho , mà không biết rằng từ xưa những đế vương nào không đáng làm vua thì gọi là phế đế , mạt đế hoặc lấy cái tên khi bị phế mà chép. Còn như cái hiệu "Ngoạ Triều" thì thô bỉ không căn cứ ?." cho nên lý luận của Ngô thì Sĩ không phải là không có căn cứ về phương diện Y Khoa.

  4. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  5. #3
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    3. TÌM KHO BÁU CỦA QUÂN MÔNG CỔ
    Ở ĐÁY BIỂN VỊNH HẠ LONG


    ĐVSKTT tr.60 chép :

    Ngày 30-12-1287, thái tử Nguyên A Thai cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn quân đánh Vạn Kiếp rồi thuận dòng xuôi về đông. Người các hướng Ba Điểm, Bàng Hà đều đầu hàng chúng.

    Khi ấy, thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Hưng Đạo Vương giao hết công việc biên thùy cho phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi, thượng hoàng được tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói :

    -"Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn".

    Trung sứ theo lời xin đó.

    Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều .....

    Trong khi đó Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chb. VIII,4 trang 532 chép :

    "Khánh Dư đoán chắc thuyền của giặc đã đi qua rồi, thì thuyền tải lương tất đi theo sau, liền thu thập tàn quân, sẵn sàng chờ đợi. Một lát sau, quả nhiên thuyền tải lương của Văn Hổ đến, Khánh Dư đón đánh, quân Nguyên bị thua to. Khi đi đến biển Lục thủy, thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển. Khánh Dư bắt được khí giới, quân nhu rất nhiều. Văn Hổ chỉ thoát được một mình, vội vàng chạy về Quỳnh Châu....."

    Trong Nguyên Sử q 209 An Nam Truyện trang 9b- 10a chép : " Thuyền lương của Trương Văn Hổ tháng 12 năm ngoái đến Đồn Sơn gặp 30 chiếc thuyền của Giao Chỉ. Văn Hổ đánh , số giết được tương đương nhau. Đến biển LụcThủy thuyền giăc thêm nhiều , liệu không thể địch nổi mà thuyền lại nặng không thể đi được nên đổ thóc xuống biển rôi đi Quỳnh Châu "

    Trong sách CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG XÂM LƯƠÏC NGUYÊN MÔNG THẾ KỶ XIII của Hà văn Tấn & Phạm thị Tâm, tr.267

    Sau khi tách khỏi đoàn quân Thoát Hoan ở Lai Tân ngày 28-10 Âm lịch (4-12-1287), Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đi Khâm châu. Từ đây, đoàn thuyền của chúng xuất phát, Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp đem 1 vạn 8 nghìn quân, bọn Ô Vỵ, Trương Ngọc, Lưu Khuê đem vài vạn quân. Trương văn Hổ đi với thuyền lương.....

    ......Ô Mã Nhi sau khi qua được cửa An bang, đã theo sông Bạch Đằng tiến về phía Vạn Kiếp. Hắn tưởng rằng quân ta không thể ngăn trở đoàn thuyền lương đi sau được nữa nên cứ tiến thẳng, không chú ý đến Trương văn Hổ....

    .....Khánh Dư đã củng cố lực lượng đón địch. Quả nhiên, mọi việc xẩy ra đúng như dự đoán của người tướng mưu trí đó. Tháng 12 âm lịch (5-1 _ 2-2-1288), đoàn thuyền lương nặng nề của Trương văn Hổ không có lực lượng chiến đâu mạnh mẽ yểm hộ, đã chậm chạp tiến vào Hạ long, lọt vào trận địa của Nhân Huệ Vương. Thủy quân ta đã tập kích thuyền giặc ở Vân đồn (Vân hải). Trương văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến biển Lục thủy (cửa Lục, Hòn gai) thì thuyền quân ta đổ ra đánh càng đông. Trương văn Hổ đại bại, đổ cả thóc xuống biển, trốn chạy về Quỳnh châu (Hải nam). Thyền lương của Phi Củng Thìn thì tháng 11 âm lịch (6-12-1287) _ 4-1-1288) mới đến Huệ châu (huyện Huệ dương, Quảng đông)., gặp gió bão trôi giạt đến Quỳnh châu. Thuyền lương của Từ Khánh thì trôi giạt đến tận Chiêm Thành rồi cũng về Quỳnh châu.. Quân ta chiến thắng, "bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất đông".

    Còn Trần Trọng Kim,trong Việt Nam Sử Lược trang 151 ông viết " Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Dồn ( Vân Hải , Quảng Yên ) gặp quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi , Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận , quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương.... Được mấy hôm Ô Mã Nhi ra bể gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ , lại đem quân trở vào đi trước dẹp đường, Trương văn Hổ đem thuyền lương theo vào sau... Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương( phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh cửa Lục bây giờ ) Khánh Dư đổ quân ra đánh , Văn Hổ địch không nổi , bao nhiêu thuyền lương bị quân Khánh Dư phá cướp mất cà , và bắt được khí giới rất nhiều ... "

    Trong Việt Sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn , Nhà Xuất bản Văn Hửu Á Châu SG 1958 quyến II, trang 216 lại viết " Trương Văn Hổ cho thuyền lương từ từ tiến vào của Lục (Lục thủy dương là cửa biển gần Hòn Gai , tỉnh Quảng Yên ) Tại đây thuyền lương mắc cạn . Quân ta phục sẳn ùa ra đánh ,thuyền của địch bị đắm gần hết ... "

    Trong một cuốn sách thường được bán trong khi di du lịch Hạ Long - Cát Bà ?Quảng Ninh là "Hạ Long Đá và Nước? của Nguyễn Ngọc , Nhà xuất bản Thế Giới ?Hà Nội 1999 trang 66 viết " Đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ ... qua khỏi đảo Ba Mùn vì sóng gió lớn chúngbuột phải chọn con đường vào cửa Đối , rồi men theo luồn nước hẹp gọi là sông Mang và sông Cái giữa hai đảo Cái Bàn và Vân Hải ......rồi tưng bước dụ chúng vào vịnh cửa Lục ... Khánh Dư một mặt thắt chặt miệng túi của Lục lại , một mặt cho quân từ sông Bạch Đằng bốn mặt đổ ra tập kích..."

    Có thể tóm tắt theo ĐVSKTT

    Thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng,

    Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

    Khi đi đến biển Lục thủy, thuyền của quân Nguyên bị mắc cạn, sa lầy, không chở đi được, lương thực chìm cả xuống biển. Khánh Dư bắt được khí giới, quân nhu rất nhiều.

    Hà văn Tấn & Phạm thị Tâm, tr.267

    thuyền lương chậm chạp tiến vào Hạ long,. Thủy quân ta đã tập kích thuyền giặc ở Vân đồn (Vân hải). Trương văn Hổ cố gắng tiến về phía đất liền nhưng đến biển Lục thủy (cửa Lục, Hòn gai) thì thuyền quân ta đổ ra đánh càng đông.

    Trần Trọng Kim,trong Việt Nam Sử Lược trang 151

    Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Dồn ( Vân Hải , Quảng Yên ) gặp quân của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi , Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận , quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương.... Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương( phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh cửa Lục bây giờ ) Khánh Dư đổ quân ra đánh ,

    Việt Sử Tân Biên thuyền lương từ từ tiến vào của Lục (Lục thủy dương là cửa biển gần Hòn Gai , tỉnh Quảng Yên ) Tại đây thuyền lương mắc cạn . Quân ta phục sẳn ùa ra đánh

    "Hạ Long Đá và Nước? qua khỏi đảo Ba Mùn vào cửa Đối qua giữa hai đảo Cái Bàn và Vân Hải vào vịnh cửa Lục ... thắt chặt miệng túi của Lục lại , quân ta từ sông Bạch Đằng bốn mặt đổ ra tập kích..."

    Vậy đâu là hải trình thật của thuyền lương do Giao chỉ Hải Thuyền Vạn Hộ Trương Văn Hồ chỉ huy và tọa độ của trận dánh tiêu diệt chúng của danh tướngTrần Khánh Dư ? Giải được câu hỏi này đồng nghĩa với chúng ta sẽ tìm ra....!!

    Trước hết cần phải xác định một số địa danh củ và đánh dấu nó trên bản dồ hiện tại

    Theo thứ tự các sách đã dẩn thì gồm có Vân Đồn , biển Lục Thủy, Vân Đồn (Vân hải )Cửa Lục ?Hòn Gai , đến ải Vân Dồn ( Vân Hải , Quảng Yên ) cửa bể Lục Thủy Dương( phía đông nam huyện Hoành Bồ tức là vịnh cửa Lục bây giờ ) đảo Ba Mùn , cửa Đối , đảo Cái Bàn và Vân Hải , Bạch Đằng . Thật sự ra chúng ta chỉ tìm hiểu một số địa danh là Vân Dồn , của Lục , biển Lục thủy ,đảo Ba mùn , cửa Đối , Cái Bàn , Vần Hải và Bạch Đằng , mũi Ngọc là có thể hình dung khu vực của trận hải chiến này

    Biển Lục Thủy theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chb. VIII,4 trang 533 Biển Lục Thủy ở phía đông nam huyện Hoành Bồ cách huyện 17 dăm ( hiện tại là vùng phìa tây nam Đảo Cát Bà ( Phù Long ) và thị trấn Cát Hải )

    Goi là Lục Thủy vì nước biển có màu xanh lục (màu vert) giống như có biển gọi là Biển Đen , Hồng Hải... Màu sắc đặt biệt nước biển trong vịnh Ha Long, Vịnh Bái Tử Long , vịnh Vân Đồn , Lan Hạ , Cát Bà đều có màu xanh lục vi do kết cấu của các đảo dá vôi và phiến thạch hình thành cho nên người Trung Hoa goi vùng biển này là Lục Thủy Dương

    Vân Đồn : Tháng năm Kỷ Tỵ (1149) dưới thời vua Lý Anh Tông cho lập phố xá ở Vân Đồn, bấy giờ các nước Qua Oa ( Java) Tiêm La ( Thái Lan) có nhiều thuyền buôn đóng ở Hải Đông (Hoành bồ Cẫm Phả). nên vua cho lập khu riêng biệt trên cù lao để cho họ ở , gọi là Vân Đồn trang

    Vân Đồn thuộc Hải đông

    Ở Vân Đồn cũng ghi dấu những sự kiện lich sử như năm 1413 Đặng Dung ra Vân Đổn đễ chiêu mộ người và lương thực đánh quân Minh , năm 1418 quân Minh cho lập sở để coi gửi việc mò tìm ngọc trai , năm 1469 Vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đổ thì gọiï là châu Vân Đồn , năm 1743 Thời Trịnh Doanh ,Nguyễn Hửu Cầu lập căn cứ tại Vân Đồn đánh nhau với chúa Trịnh , ... đến thời Tự Đức gọi là tổng Vân Hải huyện Nghiêu phong , Tỉnh Quảng Yên nay là huyện đảo Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh

    Thương cảng cổ Vân Đồn có thể được tập trung ờ đảo Cái Bàn và Quan Lạn , dân trên đảo đa số là người Việt Nam , thương nhân Trung quốc và và một số người gốc Thái Lan , Nam dương , Mã lai..

    Hiện tại quần đảo Vân Đồn nằm cách Hạ Long 50Km về phía đông nam , gồm có trên 600 đảo lớn nhỏ , ở đây có những hòn đảo lớn như đảo Ba mùn , đảo Cái Bàn ( Trà Bản) , đảo Phượng Hoàng , Ngọc Vừng , đảo Vạn Cảnh , đảo Quan Lạn (Cảnh Cước) đảo Cao Lô , Cô Tô.... nhỏ như đảo Thượng Mai , Hạ mai , Nấc Đất , đảo Vân Đồn ,

    Cửa Lụchiện nay là cửa khẩu ra vào vịnh Cửa Lục nằm giửa Bải Cháy và núi Bài Thơ , vịnh này có 6 nhánh sông đổ vào , và các con sông này không có nhánh nào ăn thông với sông Bạch Đằng

    Mũi Ngọc mũi dất ở địa đầu Trà cổ ? Mông Cái

    Vịnh Hạ Long : Nằm ở đông bắc Việt Nam , là một phần của vịnh Bắc Bộ , bao gồm vùng biển của thành phố Hải Phòng , thị xã Cẫm Phả và một phần của huyện đảo Vân đồn , phìa tây nam giáp đảo Cát Bà , bờ biển dài 120 Km , được giới hạn từ 106 độ 58 phút đến 107 độ 22 phút kinh đôngvà 20 độ 45 phút đến 20 độ 50 phút vĩ bắc , tổng diện tích 1553 Km vuông , gồm 1969 hòn đảo

    Đảo của Vinh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch , tập trung ở hai vùng chính là vùng phìa đông nam thuộc vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam thuộc vinh Hạ Longcó tuổi kiến tạo địa chất từ 250 triệu đến 280 triệu năm

    Toàn thể vùng đảo đều mang đặt tính của một miển núi đá vôi cổ ( tuồi cabon-Pecmi ) nguyên phát tiến triễn trên đất liền , rồi sau bị nước biển dâng lên làm chìm ngập , người ta có thể nhận thấy điều đó rất rõ qua các bồn nước bao bọc chung quanh là các vách núi đá vôi, các hang động rất phát triễn nằm ở độ cao , các hang luồng ,sau vài trăm triệu măm mực nước biển rút xuống làm nhô lên các đảo hiện nay , phần khác bờ biển ở đó cũng hạ thấp và chìm ngập trong thời gian địa chất gần đây

    Đáy của các vụng và eo biển không nơi nào sâu quá 20 m , chủ yếu là cát và đất sét , kể cả bùn và xác thực vật (Thiên Nhiên VN ? Lê Bá Thảo NXB Khoa Học Kỷ Thuật )

    Quỳnh Châu, một trong bốn châu của đảo Hải Nam ?Trung Quốc

    KẾ HOẶCH TẤN CÔNG ĐẠI VIỆT CỦA HỐT TẤT LIỆT

    Ngày 13 tháng 2 năm 1287 Hốt Tất Liệt cho thành lâp " Chinh Giao Chỉ Hành Thượng Thư Tỉnh " đó là bộ chỉ huy tối cao điều khiễn việc xâm lược Đại Việt , bổ nhiệm tướng tá ,sắp đặc quân số , chuẩn bị lương thực khí giới và giao cho con trai là Thái Tử Thoát Hoan làm tổng chỉ huy , kế hoặch tấn công vào Đại Việt chia làm ba hướng

    Hướng tứ Vân Nam ?Lào Cai ? Yên bái- Việt Trì do A Ruc chỉ huy

    Hướng Tư Minh-Lộc Bình Lạng Sơn ? Vạn kiếp do chính Thoát Hoan ? Trịnh Bằng Phi chỉ huy

    Hướng Khâm châu ? Mông Cái - Mũi Ngọc ? Biển Lục Thủy ? Bạch Đằng ? Vạn Kiếp do Ô Mã Nhi , Phàn Tiếp chỉ huy với 620 thuyền tham chiến .

    Trương văn Hổ , Phi Củng Thìn, Đào Đại Minh phụ trách 70 thuyền vận tải lương đi theo Ô Mã Nhi

    Sau 8 tháng chuẩn bị , ngày 11 .10.1287 quân Mông cổ xuất phát từ Hồ Bắc

    Ngày 18.12.1287 Thoát Hoan đến Tư Minh

    Ngày 25.12.1287 vượt biên giới đánh vào nước ta

    Ngày 29 .12.1287 dến Lạng Sơn

    Ngày 2.1.1288 thì Thoát Hoan đã có mặt tại Vạn Kiếp nghĩa là chỉ có 8 ngày sau khi vượt biên giới là quân thù đã tới gần sát Thăng Long,

    Ô Mã Nhi khởi hành từ Khâm châu vào ngày 17 .12.1287 và ngày 2.1.1288 đã có mặt tại Vạn Kiếp để hội quân với Thoát Hoan , Ô Mã Nhi đi mất gần nữa tháng mới đến được Vạn Kiếp .

    NHIỆM VỤ CỦA TRƯƠNG VĂN HỔ

    Nhiệm vụ của Trương Văn Hổ là tải lương chính cho đoàn quân viễn chinh Mông cổ , để phòng bị bấc trắc Thoát Hoan lại cho dự trử thêm một kho lương thực khí giới quân nhu ở Tư Minh dưới quyền điều động của Vạn Hộ Hạ Chỉ và Trương Ngọc

    Ở đây vài câu hỏi được đặt ra

    Thời gian nào Trương Văn Hổ rời Khâm Châu ?

    Trương Văn Hổ phải chuyển lương thực đến Vạn Kiếp chậm nhất là ngày nào

    Vai trò của Ô Mã Nhi , Phàn Tiếp trong việc hộ tống thuyền lương ra sao ?

    Số thuyền chở lương và hộc lương của quân Mông cổ là bao nhiêu ?

    Việc thông tin liên lạc giữa bộ chỉ huy của Thoát Hoan ở Vạn Kiếp đến Tư Minh và Khâm châu nhanh nhất là mấy ngày ?

    Hải trình lý tưởng từ Khâm Châu đến Vạn Kiếp sẽ di chuyễn qua những đâu ?

    Dự báo thời tiết ở biển đông mùa đó ra sao ?

    Ai là người cố vấn cho Ô Mã Nhi vàTrương Văn Hổ vạch ra hải trình này

    Tại saoTrần Khánh Dư lại có thể dự đoán khi nói với trung sứ của vua Trần Nhân Tông là -"Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn".

    Tai sao chỉ hai ba ngày thôi ? có phải là Trần Khánh Dư biết chắc là mình sẽ hạ độc thủ kẻ thù ỡ vị trí tọa dộ nào rồi chăng ?

    Vị trí đó nằm ở đâu ? có phải là ở Cửa Lục như các nhà sử học về sau này nói đến hay là ỡ một chổ khác trên Lục Thủy Dương

  6. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  7. #4
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    4. Con ngựa Nê Thông của Hoàng đế Trần Duệ Tông

    Nê Thông là con ngựa của Hoàng đế Duệ Tông , một con tuấn mã cực kỳ hiếm hoi , con ngựa mà nhà vua đã cưỡi khi thân chinh tiểu phạt quân Chiêm Thành cách đây hơn sáu thế kỷ

    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư quyễn VII trang 161 chép :

    Tháng 12, năm Bính Thìn ( 1376 ) vua thân đi đánh Chiêm Thành, dẫn 12 vạn quân xuất phát từ kinh sư.... Sai Lê Quý Ly đốc thúc Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa chở lương cấp cho quân.
    Trước đây, chúa Chiêm Thành là Chế Bồng Nga quấy rối biên giới, vua sai hành khiển Đỗ Tử Bình đem quân trấn giữ Hoá Châu. Chế Bồng Nga đem 10 mâm vàng dâng vua. Tử Bình im đi, cướp là của mình, nói dối là Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên đem quân đánh. Vua giận lắm, quyết ý thân chinh. Bấy giờ, quan quân đến cửa biển Di Luân (thuộc Quảng Bình), các quân vượt biển mà tiến. Vua cưỡi ngựa dẫn quân bộ men theo bờ biển, đến cửa biển Nhật Lệ đóng quân lại, tập luyện một tháng.

    Năm Đinh Tỵ (1377) mùa xuân tháng giêng, ngày 23 đại quân tiến cửa Thị Nại (cảng Quy Nhơn, Bình Định) rồi đóng quân ở động Ỷ Mang.

    Chế Bồng Nga dựng trại bên ngoài thành Đồ Bàn

    Ngày 24 vua mặc áo đen, cưỡi ngựa nê thông , sai Ngự Câu vương Húc mặc áo trắng, cưỡi ngựa trắng, kịp truyền lệnh tiến quân.

    Đại tướng Đỗ Lễ can

    Vua nói :
    - "Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu với ta. Thế là cái cơ trời giúp ta đó. Huống chi, nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ đánh nhau. Cổ nhân cũng có nói : "Dùng binh qúy ở thần tốc". Nay nếu dừng lại không tiến, thì thực là trời cho mà không lấy, để nó lại cơ mưu khác thì hối sao kịp....."

    Ngựa trong đời sống và văn hóa Việt Nam
    Trong lịch sử nước ta thì ngựa và voi là hai con vật đặt biệt yêu mến , nó góp phần trong các chiến thắng vẽ vang chống ngoại xâm
    Trong quá khứ người ta đã đặt ra hai cơ quan để chăm sóc , nuôi dưỡng và huấn luyện hai con vật này đó là Viện Tượng chính và Mã chính

    Năm 1509 Vua Lê Uy Mục cho đặt hai Giám ti Ngự Tượng và Ngự Mã

    Trong Khâm định Đại Nam Hội Điễn Sự Lệ của Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã dành riêng một quyễn 175 để quy định về vấn đề Mã chính bao gồm ngạch ngựa , chăn nuôi ngựa, kén chọn ngựa, khám nghiệm ngựa, diễn ngựa , trang sức cho ngựa.....

    Ngựa nuôi ở kinh thành thì thuộc vào viện Thượng Tứ , ở nhà trạm men đường ngoài các tỉnh thuộc các thành , trấn , đạo sở tại...

    Ngựa để dùng trong thông tin liên lạc khác với ngựa trong việc vận chuyễn kéo xe lại càng khác xa với ngựa chiến... , người xưa đã phân định rất rõ ràng vai trò trách nhiệm cho các viên quản mục , viên biền cai quản từng loại ngựa , đặt ra chức y sinh để coi sóc , điều trị bệnh cho ngựa , giúp ngựa lúc sinh nỡ như các thú y sĩ chuyên trách về ngựa bây giờ

    Trên hết trong tất cả loại ngựa quí là ngựa dành cho Hòang đế ,cho các đại tướng khi ra trận , nếu như ở Trung Hoa có con Xích Thố của Lữ Bố, con Đích Lư của Lưu Bị, Hô Lôi Báu của Thượng Sĩ Đồ , con Marly của Guillaume tại Champs Elysés - Paris thì trong bộ sử Đại Việt sữ Ký Toàn Thư thì ngựa cũng đã dược ghi chép nhiều nơi như trang 133 ghi rằng : " Đời Hùng Vương thứ 6 ở hương Phù Đỗng bộ Vũ Ninh... có đứa trẽ lên ba mà chưa biết nói Gặp lúc trong nước có nguy cấp , vua sai đi tìm người có thể đánh lui được giặc Ngày hôm ấy đứa trẻ bổng nói được , bảo mẹ ra mời thiên sứ vào, nói : Xin cho một thanh gươm , một con ngựa , vua không phải lo gì " Vua ban cho gươm và ngựa , đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên trước , quan quân đánh tan quân giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh ... hay ở trang 139 chép chuyện : Khi Vua Thục An Dương Vương bị Triệu Đà tấn công, vua thua chạy để Mỵ Châu ngồi trên ngựa cùng chạy vế phía nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng đuổi theo vua đến bờ biễn hết đường mà không có thuyền, liền goi rùa vàng mấy tiếng " Mau đến cứu ta " Rùa vàng nỗi lên mặt nước mắng rằng " kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy ... " Ngựa đã là nhân , vật chứng cho nhiều huyền thoại trong lịch sử nước ta.


    Ngựa Nê Thông là ngựa gì ?
    Các hoàng đế nước ta đa số đều cưởi Bạch Mã , đó là một loại ngựa quý hiếm có sắc lông màu trắng như tuyết , cao lớn ôn hòa , Có nghĩa biết mến chủ , biết bảo vệ chủ , không sợ tiếng động , tiếng gào thét , tiếng rống của voi , tiếng hí của ngựa khác , tiếng va chạm binh khí , tiếng súng . Ngựa phải chạy nhanh , đạt các tiêu chuẫn 4 nước đại , 3 đợt nhảy cao và có 9 đức tính tốt
    Những con ngựa được tiến cử cho vua là những con ngựa được tuyễn chọn trong các con ngựa cực kỳ quý hiếm
    Kể từ khi quân Nguyên vào xâm chiếm nước ta lần đầu vào năm 1257 và về sau vào các năm 1285 , 1288 thì hàng ngàn hàng vạn con ngựa chiến từ thảo nguyên Mông cổ được đưa sang nước ta .
    Khi đám tàn quân Mông Cổ thất trận tháo chạy thì số chiến mã này một số thì bị bắt, một số bị lạc trong rừng trở nên một loài ngựa hoang, loài ngựa nước ta được lai giống với các loài ngựa của vùng thảo nguyên Mong Cổ , Vân Nam , Kinh Bắc , Tân Cương ....mà quân thù phương bắc qua nhiều lần xâm lược mang theo trong các cuộc hành quân

    Sách Đại Việt sữ ký Tiền Biên trang 180 chép : "Năm Đinh Mùi ( 1006 ) Châu Vị Long ( Chiêm Hóa Tỉnh Hà Tuyên ) dâng cho Khai Minh Vương một con Bạch Mã bốn vó đều có cựa. Con ngựa mà Hòang đế Trần Duệ Tông cưởi khi tiến công Thành Đồ Bàn của Chiêm Thành dưới thời Chế Bồng Nga là một con tuấn mã kỳ vĩ cực kỳ hiếm có kể cho đến bây giờ chưa chắc một nhà nghiên cứu mã học được nhìn thấy một con thứ hai .

    Trong các chữ đặt thù dùng để chỉ màu sắc , hình dáng hay đặt tính của loài ngựa thời xưa của nước ta cũng như Trung Quốc thì có một số chử chính sau đây :

    Mã , Thố , Câu , cũng có khi gọi là Long nói chung dể chỉ về ngựa .
    Tuấn : là ngựa hay , chay nhanh , khỏe dẻo dai .
    Kỳ Ký là ngựa lạ quý hiếm , ngựa thiên lý ( Vua Trần Nhân Tông đã từng ví Đỗ Khắc Chung là : Ngờ đâu trong đám ngựa kéo xe muối lại có ngựa kỳ , ngựa ký như thế ? ĐVSKTT trang 52 ) .
    Đề là móng chân thú (Thiện Lương Đề của vua Thiệu Trị ) .
    Xích là sắc lông màu đỏ ( con Xích Thố là một món quà tặng của Tào Tháo cho Quan Công ) .
    Ô , Ly là ngựa có sắc sắc lông màu đen ( con Ô Trung cũa Hạng Võ ) .
    Phiêu là ngựa có sắc lông xanh trắng ( Phiêu Kỵ tướng quân ) .
    Lạc là ngự a vằn ( Lạc mã thiên lý vương ) .
    Tinh là ngựa hồng ( Song vĩ Tinh còn gọi là Song vĩ hồng - Con ngựa hồng hai đuôi của Lý Thường Kiệt ) .
    Nê là dùng để chỉ lông con ngựa có hai màu : Màu Trắng và màu đen .
    Thông là dùng để mô tả sắc lông ngựa màu xanh ( như con Nhàn Lương Thông , trong truyện Ngũ Thông Thần trong Liêu Trai Chí Dị trang 380 cho rằng thịt của loại ngựa này ăn ngon gấp bội lần loại khác ).....

    Như vậy con ngựa của Hoàng đế Duệ Tông quả là một con tuấn mã cực kỳ hiếm hoi , màu sắc lông của nó là một sự pha trộn màu sắc thật kỳ diệu của ba màu trắng , đen và xanh , một sự đột biến của gien tỗng hợp , một bản giao hưỡng của thiên nhiên

    Nếu như một lần nào dó mà Từ Bi Hồng , Lư Bột Thư hoặc là Bé Ký đọc hay nhìn thấy con Nê Thông của Hoàng đế Duệ Tông thì chắc là chúng ta sẽ được thưởng ngoạn những bức tranh về ngựa tuyệt tác.

    Ngoài con Nê Thông , vang bóng vàng son một thời trong tàu ngựa của vua chúa Việt Nam còn có con Phúc thông , Cát thông , An Tường Ký ,Thần lương , Phúc Lưu , Cát lưu , Thiên mã của Hoàng Đế Minh Mạng .

    Thiên mã là con ngựa ỡ nước Tây Vực thuộc miền Trung Á được nhập vào trong tàu ngựa của Hoàng đế năm 1830

    Vua Minh Mạng đã nhận xét con An Tường Ký như sau : Đô thống Pham văn Điễn có dâng con ngựa trắng , dù là không là giống ngựa tuyệt trần chạy bay như mây , nhưng trẫm cưởi thấy được yên ỗn nên goi nó là An Tường Ký "

    Hiến tổ Chương Hoàng Đế một ông vua tài hoa và học thức uyên bác đã ban dụ về một con Thiên lý mã của mình như sau : " Ta đã sai giong yên ngồi cưỡi , chay nhanh như chớp gió , thật vượt mức trong các loài ngựa có 4 nước đại và 3 đợt nhãy cao , lại cao siêu hơn loài ngựa có 9 đức tính tốt và 8 thứ ngựa giỏi , nên ban cho tên đẹp để tỏ cái đức con ngựa ký .. nay gọi trên là Đại Uyển Long Tuấn "

    Thao diễn trận ngựa ở Kinh Đô Huế năm 1851

    Sách Khâm Định Đại Nam Hội Điễn Sự Lệ đã mô tả một buổi diễn ngựa ở Huế như sau :
    Giáo trường thao diễn trận ngựa ngoại thành Đông Nam là một dãi đất chạy dài từ cửa Đông Ba cho đến chân cầu Gia Hội - Huế được vua Tự Đức chiếu dụ tổ chức năm 1851 với một chương trình bao gồm : Một suất đội 12 người , 200 biền binh , 100 con ngựa chiến , cờ ngủ hành một bộ , cờ vệ một cây , cờ hiệu một cây , cờ đội 20 cây , súng tiểu mã 80 khẫu , dao ngựa 80 cây , dao cờ 26 cây , loa thau một chiếc , kiểng đồng một cái , thanh la, tù và , trống trận chiêng đồng một thứ một chiếc , mũi giáo 240 cây , người bù nhìn và cây chuối cho đủ số diễn tập .......

    Có lẽ linh hồn của Hòang đế Trần Duệ Tông và con chiến mã Nê thông vẫn còn phản phất ngậm ngùi trên giáo trường đó , vì sao vậy ?

    Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép tiếp :

    " Quân lính người ngựa bèn nối gót nhau mà đi như xâu cá. Tiền quân và hậu quân hoàn toàn cách biệt. Giặc thừa thế xông ra đánh chặn. Giờ Tỵ quan quân tan vỡ, vua bị hãm trong trận mà chết. Bọn đại tướng như Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hoà, Phạm Huyền Linh đều chết cả. Giặc bắt sống đuợc Ngự Câu vương.....Đỗ Tử Bình chỉ huy hậu quân không đến cứu nên thoát chết. Lê Quý Ly dốc quân chở lương, nghe tin vua băng, bỏ trốn về nước."

  8. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  9. #5
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    5. Những Hư Cấu Liên Quan Đến Các Vị Vua Đời Nhà Trần

    Ngày 1 tháng 3, năm Ất Dậu (1285), giặc Nguyên đuổi theo rất gắt hai vua (Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng Đế Nhân Tông) phải bỏ thuyền, xử dụng đường trên bộ đi đến Thủy-Chú (không rõ nơi nào ngày nay), sau đó lấy thuyền ra cửa Nam-Triệu, vượt biển Đại-Bàng (thuộc địa phận xã Đại-Bàng, huyện Nghi-Dương, tỉnh Hải-Dương) đi vào Thanh-Hóa. Như thế ta thấy ở đây quân đội Đại Việt đang rơi vào thế tam đầu thọ địch đúng như kế hoạch của kẻ địch dự trù là các cánh quân của Thoát Hoan từ Thăng Long tiến về phối hợp với các cánh quân của tướng Hữu thừa Khoan Triệt, Vạn Hộ Mông Cổ Đãi và Bột La Hợp Đát Nhi dẫn quân bằng đường bộ và Lý tả thừa Ô Mã Nhi Bạt Đô (sau khi chiếm xong bãi Tha-Mạc) bằng đường thủy; cánh quân của Toa Đô giải quyết xong chiến trường Thanh, Nghệ cũng thẳng đường tiến tới Thiên Trường. Để giải tỏa thế gọng kềm này ta phải giải quyết ra sao?
    Từ Thiên Trường một cánh quân của ta rút về các lộ vùng đông bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh) để dụ địch rượt theo rồi chờ cho Toa Đô dẫn quân ra khỏi Thanh Hóa thì ta mới vượt biển Đại-Bàng như đã nói ở trên để vào chiếm lại Thanh Hóa làm căn cứ đóng quân. Toa Đô vừa phải vất vả ngược xuôi để rượt đuổi quân ta, rốt cuộc cũng chẳng được gì lại mất đi cứ điểm vừa mới chiếm. Cương Mục Chính Biên quyển VII có đoạn viết: "Lúc ấy quân Nguyên đuổi theo riết, nhà vua phải mời thượng hoàng cùng ngự một chiếc thuyền con, chạy ra nguồn Tam Trĩ, một mặt khác, sai người kéo thuyền của vua vẫn ngự đi ra ngả núi Ngọc Sơn, để đánh lừa quân Nguyên. Tướng Nguyên do thám biết được mưu ấy, mới sai Hữu thừa là Khoan Triệt, Tả thừa là Lý Hằng chia đường đuổi theo. Nhà vua phải đổi đi đường bộ đến xã Thủy-Chú, rồi lại đi thuyền đến sông Nam-Triệu, qua cửa biển Đại-Bàng vào Thanh Hóa".

    Ngày 9 tháng 3 năm Ất Dậu (1285), hai vua bị tướng Nguyên là Giảo-Kỳ và Đường-Cổ-Đới đem chu-sư (hải quân) ra biển vây và suýt bắt được các ngài. May thay nhờ tướng Nguyễn Cường tận lực hộ giá mới có thể rút ra được về phía nguồn Tam-Trĩ, đồng thời giả đưa thuyền rồng đi miền Ngọc-Sơn (miền biển Thanh Hóa) để đánh lừa giă.c. Quân thù tưởng là thuyền hai vua, chúng chận bắt và tịch thu rất nhiều vàng bạc cũng như nam nữ của ta.

    Ở đoạn này ta thấy rằng sau khi quân Đại Việt rút khỏi kinh thành Thăng Long rồi liên tiếp xảy ra các trận đánh Tha Mạc, Bình Than, A Lỗ, Đại Hoàng, Thanh Hóa thì hai vua và quân đội Đại Việt gần như rơi vào thế bị động phải liên tục di chuyển để tránh né sự truy đuổi của quân Nguyên theo Cương Mục ghi "nhà vua phải chạy loạn long đong"; Việt Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim viết: "Nhân Tông kinh hãi, Thượng hoàng đêm ngày lo sợ"; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: "Thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ Nguyên.xa giá nhà vua phiêu bạt". Các vị sử gia vừa kể có những lời như vậy đối với một vị đại anh hùng dân tộc như Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông thì hơi vội vàng và thiếu khách quan.

    Hãy xem tình hình quân thù ra sao, theo Nguyên sử 13 tờ 8b8-10 ghi: "Tháng 3 ngày Bính Tý Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh xin thêm quân. Lúc bấy giờ Trần Nhật Huyên trốn về hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, binh lực lại tập hơ.p. Hưng Đạo Vương đem hơn ngàn chiến thuyền về nhóm Vạn-Kiếp, còn Nguyễn Lộc thì ở Vĩnh Bình, mà quan quân đi xa lại đánh lâu, treo lơ lửng ở giữa. Quân của Toa Đô và Đường Cổ Đãi lại đến không đúng lúc, nên xin thêm quân. Vua cho đi đưòng thủy là nguy hiểm, ra lệnh cho quân tăng viện đi theo đường bộ" -Toàn Tập Trần Nhân Tông-Lê Mạnh Thát Việt dịch (**).

    Như vậy thì quá rõ ràng, theo Nguyên Sử cho biết thì quân Mông-cổ cũng đang rơi vào thế bị động. Thế bị động đó là chúng phải đối phó với nghĩa quân của ta liên tục quấy rối những nơi địch chiếm đóng. Bằng chứng là phản thần Trần-Kiện trên đường về chầu Hốt-Tất-Liệt lại được quân ta cho đi chầu âm phủ; để đối phó với những hoạt động tiêu thổ kháng chiến của quân ta, chúng bắt buộc phải xin thêm quân lính, xây dựng thêm nhiều đồn bót để gia tăng phòng thủ cũng như kiểm soát những vùng đã chiếm đươ.c. Ở đây chứng minh một điều, nếu thật sự kẻ thù có khả năng làm cho quân ta lúng túng, bị động thì cần gì Mông-cổ phải xin thêm viện binh như thế? Như là "nhà vua phải chạy loạn long đong". xa giá nhà vua phiêu bạt" v.v., làm sao ta có thể chuyển bại thành thủ và từ thủ chuyển sang công khi hóa giải thế gọng kềm mà chúng muốn tạo ra để vây hãm quân ta phải quy phục, thì nay chính đoàn quân xâm lược lại bị rơi vào thế trận mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo Vương đã sắp xếp sau cuộc họp ở Hải-Đông. Đó là rút lui, phòng thủ và phản công chiến lươ.c. Hiện tại ta ở giai đoạn nhì là phòng thủ chiến lược để chuẩn bị bước qua giai đoạn ba là tổng phản công chiến lược.

    Chưa hết, tại chiến trường Thanh Hóa quân Mông-cổ đã gặp sức phản kháng rất quyết liệt của người dân địa phương. Ngày 9 tháng 3 năm 1285, tướng Nguyên là Giảo Kỳ kéo quân đến Bố Vệ (thuộc Cần Bố, Thanh Hóa). Người dân trong vùng nổi lên đánh địch, trong đó có dân chúng Hương Yên Duyên (xã Quảng Hùng, Quảng Xương, Thanh Hóa) dưới sự chỉ huy của ông Lê Mạnh tước là Đại Toát đã chống cự quyết liệt khiến chúng không biết đường chống đỡ, rút lui cũng không được tiến tới cũng chẳng xong, cuối cùng vì quân ta có có kẻ phản bội nên giặc Nguyên mới thoát được và chúng còn đốt phá nhà cửa của ông. Sự kiện này không thấy ghi trong sử nhưng nhờ công đức xây chùa nên bia chùa Hưng Phúc ghi lại rằng: "Hữu tướng giặc là Toa Đô tiến quân vào hương này. Ông đem người trong hương chận giặc ở bến Cổ Bút. Hai bên đánh nhau giặc cơ hồ không rút chạy đươ.c. Nhưng vì có kẻ gian hàng giặc chỉ đường nên nhà cửa của ông bị đốt phá" (Thơ văn Lý Trần, Hà Nội xuất bản 1988 tập II quyển thượng trang 648). Đó cũng là lý do giải thích vì sao đạo quân của Toa Đô và Đường Cổ Đãi đã không đúng hẹn với Thoát Hoan ở Thăng Long trong mưu toan bao vây các lực lượng của quân đội Đại Việt.

    Trong lúc này Hưng Đạo Vương được lịnh đem hơn 1000 chiến thuyền về Vạn-Kiếp là nơi trước đây đã rút lui, còn tướng Nguyễn Lộc đóng ở Vĩnh Bình tạo thế gọng kềm đối với quân thù. Vì thế cả ba cánh quân của chúng do Thoát Hoan, Ô Mã Nhi và Toa Đô đều nằm ở giữa vòng vây mà Đức Hoàng đế Trần và Hưng Đạo Vương dầy công sắp xếp kể từ sau trận Nội-Bàng và Chi-Lăng.
    Lần sửa cuối bởi khannhachboa; 04-11-2005 lúc 10:11 PM

  10. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  11. #6
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    Với tài dụng binh như thần của Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như thế, quân đội Đại Việt đang ở thế bị bao vây cả ba hướng, thế mà quân ta đã lật ngược được thế cờ trong những lúc nguy cấp nhất, khiến kẻ thù rơi vào giữa vòng vây của quân ta, như Nguyên sử nói "quan quân đi xa đánh lâu, lại treo lơ lửng ở giữa". Thế mà không hiểu vì sao, ngoài tác giả một số quyển sử như Cương Mục, Toàn Thư, Việt Nam Sử Lược, có cái nhìn hơi tiêu cực về Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông về giai đoạn này thì có những người khác lại đi xa hơn như trong quyển Histoire du Viet Nam des origines à 1858 do Lê Thành Khôi là tác giả được nhà Sudestasie xuất bản năm 1987 tại Paris. Trong quyển này ông Lê Thành Khôi viết như sau ở trang 186: "Nhân Tông, bord d'un sampan léger, était descendu Hai-dong (Quang-Yên). Il fit mander Hung-dao et l'interrogea, soucieux: "La puissance de l'ennemi semble telle que je crains q'une guerre prolongée n'entraỵre pour le peuple d'immenses destructions. Ne vaut-il pas mieux nous rendre pour l'en sauver ?" Le généralissime répondit: "Ces paroles manifestent les sentiments d'humanité de Votre Majesté, mais les Temples Dynastiques et les Dieux du Sol et des Moissons, que de viendraient-ils alors? Si vous voulez vous rendre, faites d'abord trancher ma tête!". Nghĩa là: "Vua Nhân Tông đi thuyền nhẹ xuống Hải-Đông (Quảng-Yên). Ngài cho vời Hưng-Đạo-Vương đến hỏi: "Thế giặc dữ dội như thế e rằng cuộc chiến sẽ kéo dài gây tàn hại cho dân chúng, thôi thì để trẫm đầu hàng giặc để cho dân chúng bớt khổ". Hưng-Đạo-Vương trả lời: "Đức ngài nói câu đó thật là vị vua có lòng thương dân, nhưng rồi sơn hà xã tắc sẽ ra sao? Nếu bệ hạ muốn hàng giặc thì xin chém đầu thần trước đã".

    * Việt Sử Toàn Thư của ông Phạm Văn Sơn biên soạn ở trang 184 có mẩu đối thoại giữa Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương khi hội hợp ở Hải-Đông trên một chiếc thuyền nhẹ nội dung như sau: "Vua Nhân Tông được tin Hưng Đạo Vương lui quân khỏi Lạng Sơn liền xuống chiếc thuyền nhỏ ra Hải Đông (tức là Hải Dương), triệu Hưng Đạo Vương đến. Nhân Tông nói: Thế giặc lớn như vậy chống với nó e dân sự sẽ tàn hại hay là hàng chúng nó để cứu lấy dân?". Hưng Đạo Vương khẳng khái trả lời rằng: "Bệ hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy nhưng Tôn Miếu và Xã Tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chém đầu tôi đi trước đã!"

    * Quyển Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm ở trang 77 có ghi: "Vua Trần-Nhân-Tôn ngự chiến thuyền nhẹ, lánh ra Hải đông (Tục gọi bầu Chi-Lăng. Nay thuộc tổng Chi-lang gần ga Tuần-muội ở châu Ôn, tỉnh Lạng-sơn. An Nam Chí Lược chép Chi-lăng tức là "Lão thử quan" nghĩa là cửa chuột già".

    - Hai đoạn văn nêu trên cho thấy sự kiện xảy ra như nhau khi vua Nhân Tông (hay Tôn) gặp Hưng-Đạo-Vương ở Hải Đông. Chỉ có khác một điều là câu nói muốn "đầu hàng" quân Mông-cổ của vua Nhân Tông được ghi trong Việt Sử Toàn Thư vốn không có trong các quyển cổ sử cũng như quyển Trần Hưng Đạo nói trên.

    * Ngày 12/05/2003, bài Khí Phách Của Vị Tướng Tại Mặt Trận do Bán Nguyệt San Ý Dân (Ydannews@aol.com)phổ biến trên diễn đàn công luận(diendancongluan@yahoogroups.com) và diễn đàn chính luận (chinhluan@yahoogroups.com), sau đó được đăng lại trong Bản Tin Quân Nhân, tháng 06/2003 xuất bản tại Pháp, có đoạn viết như sau: "Năm 1284, khi giặc Mông Cổ đem đại quân tràn sang tấn công nước ta lần thứ hai, khiến vua Trần Nhân Tôn phải lui binh về Vạn Kiếp và nảy sinh ý định đầu hàng giặc để tránh nhân dân phải đổ máu. Nguyên soái Trần Hưng Đạo, trong vai trò thống lĩnh toàn quân đã dõng dạc thưa với nhà vua rằng: "Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã". Câu nói bất hủ nầy của Đức Trần Hưng Đạo đã có sức mạnh vạn năng khiến vua Trần Nhân Tôn phải hủy bỏ ý định đầu hàng giặc và ra công chống ngoại xâm, đem lại thắng lợi cho dân Việt". Về bài này tác giả nhầm lẫn ở chỗ người chỉ huy ở Vạn Kiếp là Hưng Đạo Vương.

    - "Sự bố trí lực lượng của quân đội Đại Việt được ghi nhận như sau: ở mặt Đông-Bắc quân ta trấn thu? Vĩnh Bình, Động Bàng, Nội Bàng, Vạn Kiếp, Bình Than, chỉ huy mặt trận này là Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo; đối phó với cánh quân Vân Nam ở phía Tây Bắc thì giao cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy; phía Nam kinh đô ta xây dựng một số địa điểm phòng thủ như Đà Mạc, A Lỗ và Đại Hoàng do Bảo Nghĩa Hầu Trần Bình Trọng chỉ huy. Trên cùng, vi. Tổng chỉ huy chiến trường là Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông. Do vì các cứ điểm miền Bắc thất thủ trước sức tấn công vũ bảo của giặc Nguyên, Hưng Đạo Vương đã cùng với binh lính cấp tốc rút khỏi Vạn Kiếp để bảo toàn lực lượng, khi nghe tin quân ta bị thiệt hại nặng như vậy, nên Đức Hoàng đế Trần đã vội đi thuyền nhẹ ra Hải Đông (chỉ chung vùng Hải Dương cũ nay thuộc tỉnh Hải Hưng và Hải Phòng hiện nay) để họp bàn các công việc cấp bách đồng thời tái tổ chức lại lực lượng quân đội nhà Trần. Sau cuộc họp thu gọn này quân dân nhà Trần đã có một chiến lược thích hợp với tình hình trước mặt (***)". Do đó người lui binh từ Vạn Kiếp về là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chứ không phải Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông như bài viết Khí Phách Của Vị Tướng Tại Mặt Trận của Bán Nguyệt San Ý Dân đã trình bày, hơn nữa "ý định đầu hàng giặc" của Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông lại càng không có cơ sở để hiện hữu.

    * Việt Sử Khảo Luận tập 2, của tác gia? Hoàng Cơ Thụy do Hội Văn Hóa Hải Ngoại xuất bản 1988 dầy 410 trang. Ở trang 325 ghi như sau: "Vua Thánh Tông đi thuyền nhỏ xuống Hải-Đông (Hải Dương bấy giờ), cho vời Hưng Đạo Vương đến hỏi: Thế giặc to như vậy, mà chống chọi với nó thì dân bị tàn hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân ?" Hưng Đạo tâu: "Bệ hạ nói câu ấy thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã tắc thì sao. Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng". Ở đây tác gia? Hoàng Cơ Thụy đã chép nhầm một số sự kiện sau đây: 1/ Vua Trần Thánh Tông trị vì từ 24/2/1258 đến 22/10/1278, trong suốt 20 năm này quân Mông-cổ không có đem quân sang đánh Đại Việt, chỉ có căng thẳng ngoại giao giữa ta và nước Tàu; 2/ Địa điểm Hải Đông mà tác gia? Hoàng Cơ Thụy ghi rằng vua Thánh Tông gặp Hưng Đạo Vương, nó đã xảy ra vào cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì năm 1285, người làm vua cũng như chỉ huy quân đội Đại Việt lúc đó là vua Nhân Tông (vua Thánh Tông lúc này là Thượng hoàng). Đây là sự lầm lẫn từ nhân vật (vua Thánh Tông); câu nói (hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân. Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng); cho đến địa điểm Hải-Đông, địa điểm này đã diễn ra cuộc gặp giữa vua Nhân Tông và Hưng Đạo Vương trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì 1285.

  12. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  13. #7
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    - Theo Toàn Thư Bản in Nội Các Quan Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697) do các soạn gia? Lê Văn Hưu, Phan Văn Tiên, Ngô Sĩ Liên v.v.đồng biên soạn (chuyển sang ấn bản điện tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) ở trang 173 ghi: "Thế giặc rất mạnh, [vua] lại phải lui giữ sông Thiên Mạc (theo Cương Mục là khúc sông Hồng chảy qua vùng bãi Mạn Trù, nay thuộc xã Tân Châu, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng). Phụ Trần theo vua bàn những việc cơ mật, rất ít người biết được điều đó. Vua ngự thuyền nhỏ đến thuyền thái úy Nhật Hiệu hỏi kế sách (chống giặc). Nhật Hiệu đương dựa mạn thuyền, cứ ngồi không đứng dậy nổi, chỉ lấy ngón tay chấm nước viết hai chữ "nhập tống" (nghĩa là bỏ chạy vào đất Tống) lên mạn thuyền.Vua lập tức dời thuyền đến hỏi thái sư Trần Thủ Độ, Thủ Độ trả lời: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác". Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục được Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn 1856-1881do viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam phiên dịch (chuyển sang ấn bản điện tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) ở trang 209 cũng ghi như thế. [Vua] ở đây tức là vua Thái Tông (hay Tôn tức là phụ hoàng của vua Thánh Tông và là nội tổ của vua Nhân Tông). Đây là hai quyển cổ sử đã ghi tới sự kiện Vua Thái Tông vấn kế thái sư Trần Thủ Độ giữa lúc thế giặc đang ở lúc hung hăng nhất. Và Trần Thủ Độ đã cương quyết trả lời: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác". Ngoài ra hai quyển này không có ghi một lời nào về sự kiện Hoàng đế Trần Nhân Tông "muốn hàng" quân Mông-cổ.

    * Quyển Tiêu Sơn Tráng Sĩ của tác giả Khái Hưng do Văn Nghệ xuất bản năm 1968, tại Sài Gòn, ở trang 263 ghi: "Vua Nhân-Tôn nhà Trần nghe tin Hưng-Đạo-Vương bại trận chạy về Vạn-Kiếp, liền ngồi thuyền xuống Hải-Đông, rồi vời Vương đến bàn rằng: "Thế giặc to, mà mình chống với nó thì dân bị tàn hại, hay là trẫm ra hàng để cứu muôn dân?". Hưng-Đạo quỳ xuống kiếm dâng vua Nhân-Tôn rồi vươn cổ mà nói rằng: "Bệ-hạ nói câu ấy thật nhân đức, nhưng còn đất nước thì sao? Nếu bệ-hạ muốn hàng, xin trước hết chém đầu tôi đã, rồi hãy hàng".

    - Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên soạn 1856-1881do viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam phiên dịch (chuyển sang ấn bản điện tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thủy, Tuyết Mai, Hồng Ty, Nguyễn Quang Trung 2001) ở trang 226-227 có ghi: "Quân Nguyên kéo tới Lộc Châu, lại sai Bả tổng là A Lý sang nói rõ về lý do cất quân là cốt sang đánh Chiêm Thành chứ không có ý gì khác. Quân ta ngăn cản ở núi Kheo Cấp, quân Nguyên không tiến sang đươ.c. Chúng liền tiến theo cửa ải Khả Ly, quan quân ta chống cự lại không được; chúng bèn vào cửa ải Chi Lăng, quan quân ta lui về giữ bến Vạn Kiếp. Nhà vua ngự chiếc thuyền nhỏ sang Hải Đông, lúc ấy trời đã chiều mà chưa ăn cơm sáng, có tiểu tốt là Trần Lai đem cơm gạo hẩm dâng lên, nhà vua khen là người trung nghĩa, cho chức Thượng phẩm.Nhà vua sang Hải Đông hạ lịnh cho Quốc Tuấn điều khiển dân quân các lô. Van Trà, Ba Điểm, chọn người khỏe mạnh cho làm tiền phong.". Vua Nhân-Tông gặp Hưng-Đạo-Vương ở Hải-Đông để bàn kế chống giặc cũng như hạ lịnh cho Hưng-Đạo-Vương tấn công giặc Nguyên, chứ không phải có ý đầu hàng như tác gia? Tiêu Sơn Tráng Sĩ đã nêu ra. Không rõ tác giả trích đoạn này từ đâu ra, có phải là sự lẫn lộn giữa vua Thái Tông và vua Nhân Tông hay chăng?.

    * Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1, Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh đồng biên soạn, xuất bản 1998 tại Hà Nội ghi ở trang 226 như sau về sự kiện này: "Thuyền chủ tướng Trần Quốc Tuấn xuôi sông Lục Nam về Vạn Kiếp. Nghe tin quân ta rút lui, vua Thánh Tông vội vã đi thuyền ra gặp Quốc Công tiết chế. Trời chiều, nhà vua vẫn chưa ăn sáng, người lính cận vệ nắn phần gạo xấu của mình dâng lên. Thánh Tông vờ hỏi Thống soái "Thế giặc như thế ta phải hàng thôi". Trần Quốc Tuấn nghiêm chỉnh trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng". (đây ghi là trích từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tập II trang 51, trang 81).

    - Vua Thánh Tông trị vì từ 24/2/1258 đến 22/10/1278, suốt thời gian này đã không có một trận chiến nào với quân Mông-cổ (do đích thân ngài chỉ huy); về việc dâng phần gạo xấu là xảy ra với vua Nhân Tông (tức là thái tử của vua Thánh Tông trong cuộc kháng Nguyên lần thứ nhì 1258). Chúng tôi đã xem lại trong Toàn Thư, Cương Mục phần Thánh Tông Hoàng Đế thì không thấy có đoạn nào tương tự như trên.

    * Việt Sử Mông Học của Ngô Đức Dung Việt Sử Mông Học- Từ Hồng Bàng đến 1945, nhà xuất bản văn học Hà Nội xuất bản năm 1998, Việt Nam ghi ở trang 149: "Đến đời Hốt-Tất-Liệt, Thế Tổ của nhà Nguyên diệt nhà Tống. Năm Nguyên Phong đời Trần Thái Tôn quân Nguyên sang xâm lược, đóng quân ở bờ tả ngạn sông Thao. Thái Tôn tự làm tướng đánh giă.c. Quân Nguyên phải rút. Đến năm đầu Thiệu Bảo đời Nhân Tôn lại sai sứ đòi hỏi 6 việc năm trước. Vua muốn hàng hỏi Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tuấn tâu: "Nếu Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu tôi" vua mới quyết chí chống giặc...". Ngoài ra ở các trang 147-157, tác gia? Ngô Đức Dung đã trình bày lẫn lộn giữa vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông; đồng thời các cuộc kháng Nguyên lần thứ I, II, III.

    Đại Việt Sử Ký Tiền Biên được khắc in năm Canh Thân, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8(1800), biên soạn bởi các sử gia Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên (đời Trần), Lê Tung, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời Sĩ và được Ngô Thời Nhậm tu đính, ở trang 364 chép sự kiện vua Trần Nhân Tông ngự thuyền nhẹ sang lô. Hải Đông để gặp Hưng Đạo Vương, nhưng ở đây không có ghi dòng nào Đức Hoàng đế Trần ngỏ ý muốn "đầu hàng" quân Mông-cổ với Hưng Đạo Vương.

  14. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  15. #8
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    6. Ông Lê (Đinh) Lễ chết... hai lần ?

    Ông Đinh Lễ, một tướng giỏi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, là một trong số 221 người được Lê Thái Tổ ban quốc tính (họ vua, họ Lê) .
    Sử thần đời sau gọi ông là Đinh Lễ, Lê Lễ một cách tùy tiện, không phân biệt họ Đinh (họ thật, trước khi được vua ban quốc tính) và họ Lê (họ vua, kể từ ngày được vua ban quốc tính) của ông.

    Chẳng hạn như trong Đại Việt Thông Sử (Lê Quý Đôn toàn tập, tập 3, nxb Khoa Học Xã Hội, 1978) chép tên ông năm 1418 là Lê Lễ (tr 35), đến năm 1424 chép là Đinh Lễ (tr 46), năm 1426 lại đổi thành Lê Lễ (tr 51), và năm 1427 lại trở về Đinh Lễ (tr 54) v.v..

    Sự lẫn lộn này đôi lúc đã gây thắc mắc và đặt ra cho chúng ta câu hỏi:

    Lê Lợi ban quốc tính, họ vua cho ông Đinh Lễ từ năm nào ? Nói rộng hơn là Lê Lợi ban quốc tính, họ vua cho các công thần từ năm nào, từ trước hay chỉ bắt đầu từ năm lên làm vua ?

    Trả lời được câu hỏi trên sẽ giúp chúng ta hiểu thêm được một vài sự kiện của thời kì Khởi nghĩa Lam Sơn.

    Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (tập 3, nxb Khoa Học Xã Hội, 1968, viết tắt là TT) , Đại Việt thông sử (TS) của Lê Quý Đôn (sđd), Khâm định Việt sử Thông giám Cương Mục (CM) của Quốc sử quán triều Nguyễn (tập 1, nxb Giáo Dục, 1998), chép rằng:

    - Tháng 3 năm 1427, Đinh Lễ và Nguyễn Xí đánh nhau với quân Minh ở Mi Động (Hoàng Mai, Hà Nội bây giờ). Voi của hai ông bị sa lầy. Hai ông bị quân Minh bắt đưa về thành Đông Quan. "Lễ không chịu khuất, bị giết chết. Xí về sau nhân ban đêm mưa gió, dùng mẹo đánh lừa kẻ canh giữ thoát về được, vào ra mắt vua ở Bồ Đề..." (TT, tr 33; CM, tr 809). "Đinh Lễ tử trận, Nguyễn Xí bị giặc bắt " (TS, tr 58).

    -Mùa hạ, tháng tư năm 1427, ghi công các người ( Đinh Lễ và Lý Triện) đã hy sinh về việc nước (TS, tr 60), chết vì việc nước (TT, tr 35; CM, tr 809) : phong cho em Lê Lễ là Đinh Liệt làm nhập nội thiếu úy á hầu; các vợ lẽ của Lễ là bọn Hà Ngọc Dung 5 người đều làm tông cơ (...).

    - Tháng 12 năm 1427 quân Minh rút hết về nước. Lê Lợi gấp rút tổ chức lại guồng máy cai trị quân dân.

    - Tháng 2 năm 1428 Lê Lợi ban thưởng cho các hỏa thủ và quân nhân quân Thiết đột có công siêng năng khó nhọc ở Lũng Nhai, chia ra thứ bậc, cộng 221 người : Công hạng nhất, cho quốc tính, là bọn Lê Vấn, Lê Quy, Lê Dịch, Lê Ê 52 người (...); công thứ hai, cho quốc tính, là bọn Lê Bố, Lê Liệt, Lê Khảo 72 người (...); công thứ ba, cho quốc tính, là bọn Lê Lễ 94 người (...) (TT, tr 59; TS, tr72). CM (tr 833) chép công thứ ba là Lê Trễ, Lê Nghiễn 94 người.

    - Tháng 3 năm 1428, đại hội các tướng và các quan văn võ để định công ban thưởng, theo công cao thấp mà định thứ bực. Lấy thừa chỉ Nguyễn Trãi làm quan phục hầu, tư đồ Trần (Nguyên) Hãn làm tả tướng quốc, khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm thái bảo, đều cho quốc tính (TT, tr 60; TS, tr 72; CM, tr 835).

    - Tháng 4 năm 1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, sai Nguyễn Trãi viết bài Bình Ngô đại cáo, tuyên bố nền độc lập của nước ta.

    - Truy phong Lê Lễ làm Nhập nội tư đồ, Lê Triện làm Nhập nội tư mã (CM, tr 839)

    - Tháng 9 năm 1428, định lại phẩm tước của quan chức văn võ. Cho các công thần được quốc tính (TT, tr 64 ). Cho các vị công thần được đổi họ nhà vua ( TS, tr 79).

    - Tháng 5 năm 1429, ban biển ngạch công thần, phong mọi tước hầu ( liệt hầu) cho 93 người , trong số này có các ông Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Lễ, Lê Xí, Lê Trãi v.v.(TT, tr 69; CM, tr 853).

    Tóm lại, ông Đinh Lễ có tên trong số các công thần được vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) ban thưởng, cho quốc tính (họ Lê) năm 1428, được ban biển ngạch công thần , được phong tước Đình Thượng hầu năm 1429.

    Nhưng mặt khác, trước đó sử lại chép rằng ông Đinh Lễ đã bị quân Minh giết tại trận (TS) hoặc tại thành Đông Quan (TT, CM) năm 1427. Dựa vào sự kiện ông bị giết năm 1427 và được ban họ vua năm 1428, nhiều người kết luận rằng:

    - Lê Lợi đã ban họ vua cho một số công thần trước năm 1428, ngay từ ngày còn "nằm gai nếm mật ", chưa biết sẽ "được làm vua " hay "thua làm giặc ".

    - Năm 1428 Lê Lợi ban thưởng, ban họ vua cho cả các công thần đã chết như ông Đinh Lễ.

    Đọc tất cả các bản chính sử đến đây, chúng ta phải công nhận như vậy.

  16. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  17. #9
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    Nhưng ngược lại, chúng ta cũng có thể quả quyết rằng :

    1- Câu hỏi về năm Lê Lợi ban họ vua cho các công thần không cần được đặt ra bởi vì hiển nhiên là phải làm vua rồi thì mới có thể ban họ vua cho người khác được . Như vậy mới danh chính ngôn thuận . Vả lại tất cả các đệ nhất công thần cũng chỉ được ban quốc tính từ năm 1428, năm Lê Lợi lên làm vua, không lẽ có người còn hơn cả đệ nhất công thần ?

    Nếu cho rằng ông Đinh Lễ được ban họ vua trước năm 1427 thì hóa ra ông được ban họ vua hai lần , lần thứ nhì vào năm 1428 ?

    2- Về mặt chữ nghĩa, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (nxb Trường Thi, 1957) giải thích các từ phong, tặng, ban và truy như sau:

    - Phong: vua đem đất đai và tước lộc cho bầy tôi.

    - Tặng: đem phẩm vật biếu cho người. Phong chức cho người đã chết.

    - Ban: ban cho. Ban ân: vua gia ơn cho thần dân.

    - Truy: tìm trở ngược các việc đã qua. Truy phong: phong tước cho người đã chết.

    Như vậy thì những người được vua phong thưởng, ban thưởng, phải là những người còn sống. Những người được vua truy phong hay truy tặng danh hiệu là những người đã chết.

    Ông Đinh Lễ được vua phong thưởng, ban thưởng, cho quốc tính năm 1428, điều này tỏ rằng ông còn sống.

    3- Sau khi ban thưởng các công thần, nhà vua chỉ huy rằng: " Các chức văn võ, quan võ từ thượng tướng tước trí tự trước phục hầu trở lên, đều cho mặc áo màu đỏ tiá, quan văn từ nhập nội đại hành khiển quan phục hầu trở lên, cũng cho mặc áo màu đỏ tiá " (TT,tr 70; CM, tr 854).

    Các ông quan đại thần được mặc áo màu đỏ tiá chắc phải là những người còn sống. Trong số những người này có ông Lê (Đinh) Lễ.

    4- " Triều ta (nhà Lê) lúc mới dựng nước, thiên hạ vừa mới được bình định, anh em thì ít, các con thì còn bé. Các võ tướng ai có công thì được ban quốc tính, chia nhau nắm binh mã, họ hàng liên kết chặt chẽ..." (TS, tr 142).

    Lê Quý Đôn cho phép chúng ta nghĩ rằng Lê Lợi phong thưởng, ban quốc tính cho các công thần khi " thiên hạ mới được bình định ", tức là năm 1428; và ban thưởng cho những người " chia nhau nắm binh mã ", tức là những người còn sống.

    Dựa vào 4 nhận xét, phân tích kể trên thì lại phải thừa nhận rằng năm 1428 ông Đinh Lễ vẫn còn sống. Và điều này có nghĩa là Lê Lợi chỉ ban họ vua cho các công thần bắt đầu từ năm 1428 và chỉ ban cho những công thần còn sống.

    Chả lẽ các sử thần lại ghi chép thiếu thận trọng như vậy?

    Vẫn nói về ông Đinh Lễ (TS, Chư thần truyện, tr 168) , Lê Quý Đôn lại gây thêm bối rối cho chúng ta :

    "Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), tặng ông (Đinh Lễ) là nhập nội kiểm hiệu tư đồ. Năm Hồng Đức thứ 15 (1484) gia tặng là thái sư Bân quốc công, về sau tấn phong là Hiển Khánh Vương".

    Ở đây Lê Quý Đôn dùng chữ tặng, nhưng ở phần Đế kỷ (tr 71) lại dùng chữ phong. Một chữ dùng cho người đã chết, chữ kia cho người còn sống. Dường như có mâu thuẫn trong lối viết của Lê Quý Đôn.

    Dầu sao thì TT , TS và CM cũng đã để lại cho chúng ta một mâu thuẫn, một thắc mắc có liên quan trực tiếp đến năm Lê Lợi ban họ vua cho các công thần.

    Ông Đinh Lễ bị quân Minh giết năm 1427 hay ông vẫn còn sống năm 1428 ?

    May mắn thay, TT (tr 151-152) và CM (tr 955) chép về đời vua Lê Nhân Tông có đoạn như sau :

    Năm 1449, " Mùa hạ, tháng 4, khôi phục lại tự hiệu phong hầu và quan tước nhập nội thị trung cho thái tử thiếu bảo Lê Lễ. Ngày hôm ấy Lễ chết. Lễ đời làm gia thần của Thái Tổ, rất được yêu trọng, sớm tối chầu hầu, không lúc nào rời bên cạnh. Chí dốc trung trinh, có sức khỏe hơn người. Khi Thái Tổ khởi nghĩa, vợ cả vợ lẽ bị hoạn nạn mà vua vượt ra vòng vây, thoát khỏi nơi hiểm, công của Lễ rất nhiều. Thái Tổ thường khen giỏi và từng nói: " Nếu dồn mọi công lao, thời vị tể tướng chẳng ngươi còn ai nữa. Ta có tiếc gì với ngươi, chỉ vì tài ngươi không xứng thôi ".

    " Đến khi Thái Tổ sắp băng, khóc bảo rằng: Nếu trẫm không còn thì ai biết khanh nữa, sợ từ đây về sau sẽ bị giáng truất mà thôi ". Sau bị Nguyễn Thị Lộ gièm, phải giáng làm thái tử thiếu bảo, đúng như lời nói của Thái Tổ. Đến đây ốm nặng, được phục lại chức cũ. Ngày mồng 4 chết, tuổi 82. Tặng hương hầu, thụy là Trung Tiết " .

    Các chi tiết chép về ông Lê Lễ, trải thờ ba đời vua và chết năm 1449 ( làm gia thần của Thái Tổ, không lúc nào rời bên cạnh, có sức khỏe hơn người, theo Thái Tổ khởi nghĩa ), đều giống những điều Lê Quý Đôn viết về ông Lê (Đinh) Lễ trong TS (tr 165).

    Những chi tiết này chứng tỏ rằng ông Đinh Lễ, theo Lê Lợi từ ngày khởi nghĩa, không hề bị quân Minh giết tại trận hay giết tại thành Đông Quan năm 1427, như chính sử đã chép trước đó.

    Cùng năm 1427 còn có ông Đỗ Bí cũng bị quân Minh bắt. " Sau giặc về nước, lấy lễ đưa Bí trở lại " (TT, tr 31).

    Ông Đỗ Bí cũng được ban quốc tính, được ban biển ngạch công thần năm 1429 cùng với ông Đinh Lễ.

    Như vậy là TT và CM đã bắt ông Đinh Lễ chết...hai lần. Hay nói khác đi, hai ông Lê (Đinh) Lễ của cùng một bản chính sử, chết hai năm khác nhau, thực ra là cùng một người. TS chỉ chép đến năm 1433 nên chỉ bắt ông chết một lần, nhưng đó là lần...chết hụt.

    Phải chăng các sử thần đã quên hay cố ý bỏ sót không chép việc ông Đinh Lễ sống sót trở về với Lê Lợi ?

    Các đời sau chép sử về Lê Lợi và cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn thường dừng lại ở năm 1428 (năm cuộc khởi nghĩa thành công hoàn toàn và Lê Lợi lên làm vua), hoặc năm 1433 (năm Lê Lợi chết). Vì thế mà người ta quên mất ông Lê Lễ chết năm 1449, đời vua Lê Nhân Tông. Và người ta cũng quên cả đính chính một điều sai lầm của chính sử chép rằng ông Đinh Lễ bị quân Minh giết năm 1427.

    Ngày nay chúng ta vẫn còn được đọc :

    "Đinh Lễ bị giặc giết chết, còn Nguyễn Xí thì sau trốn thoát được. Đinh Lễ hy sinh là một tổn thất lớn của nghĩa quân vì ông là một tướng cao cấp (lúc bấy giờ Đinh Lễ giữ chức nhập nội tư không) và dũng cảm, đã có công lớn trong trận Khả Lưu năm 1424, trận thành Diễn Châu năm 1425 và nhất là trận Tốt Động - Chúc Động cuối năm 1426" (Phan Huy Lê - Phan Đại Doãn, Khởi nghĩa Lam Sơn, in lần thứ ba, Khoa Học Xã Hội, 1977).

    Năm chết của ông Đinh Lễ ( 1449) được xác định, chính sử trở thành dễ hiểu và hợp lí hơn. Nhờ đó mà chúng ta có thể kết luận rằng Lê Lợi phong thưởng, ban quốc tính (họ Lê) cho các công thần còn sống bắt đầu từ năm 1428, năm Lê Lợi lên làm vua.

  18. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


  19. #10
    Quân nhân danh dự Avatar của khannhachboa
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    4.805

    Mặc định

    7. Thái hoàng thái hậu Trường Lạc

    Bà Trường Lạc là một trong số 7 bà vợ và mấy trăm cung nữ của vua Lê Thánh Tông.

    Cuộc đời của bà có vài điều đáng chú ý.
    Trước hết là cái tên Trường Lạc ?

    Đại Việt sử kí toàn thư (Khoa Học Xã Hội, 1968, viết tắt là TT) cho chúng ta biết:
    Vua (Lê Hiến Tôn) tên huý là Tranh, lại có huý là Huy, con trưởng của Thánh Tôn (?).

    Mẹ là Trường Lạc thánh từ hoàng thái hậu họ Nguyễn, huý là Hằng, người ở hương Gia Miêu ngoại trang huyện Tống sơn, con gái thứ hai của thái uý Trinh quốc công Đức Trung. Trước đây, Thánh tôn chưa có con nối, Quang thục hoàng thái hậu vẫn thường cầu đảo, sai Đức Trung đến cầu ở am Từ công núi Phật tích, chiêm bao thấy đến trước mặt thượng đế cầu hoàng tử, thượng đế nói : cho sao Thiên lộc làm con của Nguyễn thị. Bèn ẵm đến ngồi ở trước. Bấy giờ Trường Lạc hoàng thái hậu ở cung Vĩnh ninh, tức thì có mang. Đến khi đủ ngày tháng, chiêm bao thấy con rồng vàng từ trên trời bay xuống vào chỗ Trường Lạc thái hậu ở, được một lúc thì sinh ra vua . (TT, tập 4, tr. 5).

    TT chép Trường Lạc là một bà hoàng thái hậu, ở cung Vĩnh Ninh.

    Nhưng ở một chỗ khác, về đời vua Uy Mục, TT lại chép :

    Ngày 22 tháng 3 (năm 1505), thái hoàng thái hậu bỗng băng ở chính tẩm điện Trường Lạc, thọ 65 tuổi (TT, tập 4, tr. 42).

    Ở đây, Trường Lạc lại là tên cung điện.

    Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn (Khoa Học Xã Hội, 1978, viết tắt là TS) chép về bà như sau:

    Huy Gia hoàng thái hậu họ Nguyễn, huý là Huyên, người ở trang Gia Miêu ngoại, huyện Tống Sơn, là con gái thứ hai của ông Nguyễn Đức Trung được tặng hàm Thái úy Trinh quốc công. Tháng 7 năm Quang Thuận thứ nhất (1460) được tuyển vào cung, phong là Sung nghi ở cung Vĩnh Ninh. Bà được vua (Thánh Tông) yêu quý nhất trong số các cung nhân. Lúc này nhà vua chưa sinh thái tử (?).

    Đến kỳ mãn nguyệt khai hoa, bà lại nằm mộng thấy rồng vàng từ trên trời hiện xuống, bay vào nơi bà ở. Trong chốc lát, bèn sinh hoàng tử, đó là vua Hiến Tông (?).

    Năm Hồng Đức thứ nhất (1470), tấn phong bà làm quý phi; bà càng được hưởng ơn vua nhiều hơn. Nhà vua mấy lần muốn lập bà làm hoàng hậu, nhưng thấy dòng họ nhà bà có thế mạnh, sợ rằng các tần thiếp không ai dám gần vua nữa, nên lại thôi.

    Năm thứ 28 (1497), vua Thánh Tông mất, vua Hiến Tông lên ngôi, tôn bà làm hoàng thái hậu, để ở điện Trường Lạc, và phụng dưỡng rất chu đáo (?).

    Đây là đoạn sử duy nhất của Lê Quý Đôn nói đến tên Trường Lạc, nhưng lại là tên một cung điện đã có từ trước khi Hiến Tông lên ngôi nghĩa là đã có từ đời Thánh Tông.

    Vì vậy mới gây ra thắc mắc, đặt thành câu hỏi: Trường Lạc là tên người hay tên cung điện ? Nếu vừa là tên người vừa là tên điện thì tên nào có trước ? Nói khác đi, vì là chỗ ở của bà Trường Lạc nên được gọi là điện Trường Lạc hay ngược lại vì bà hoàng thái hậu ở điện Trường Lạc nên người ta gọi bà là Trường Lạc ?

    Giả thuyết thứ nhất (chỗ ở của bà Trường Lạc được người ta gọi là điện Trường Lạc) khó đứng vững bởi vì tất cả những cung điện được xây cất từ trước nhà Lê cũng như dưới thời nhà Lê, từ đời Lê Thái Tổ cho đến đời Lê Uy Mục, đều được đặt tên riêng từ lúc bắt đầu xây cất hoặc khi xây cất xong.

    Giả thuyết thứ nhì (vì bà hoàng thái hậu ở điện Trường Lạc nên người ta gọi bà là Trường Lạc) cũng khó đứng vững vì trên kia TT đã chép Trường Lạc hoàng thái hậu ở cung Vĩnh Ninh, điều đó chứng tỏ rằng tên Trường Lạc đã có độc lập với tên nơi bà ở. Hơn nữa, TT không chép việc xây điện Trường Lạc.

    Cũng may là sau đó TT lại trở về với lối chép ban đầu :
    Bấy giờ (năm 1509) Nguyễn Văn Lang là bà con với Trường Lạc hoàng thái hậu, cũng vào trong số người bị đuổi về quê nhà? (tr. 51).

    Dù hiểu theo cách nào đi nữa thì trước sau (chỉ trừ năm 1505) tên Trường Lạc cũng vẫn được TT dùng để chỉ một bà hoàng thái hậu.

    Qua sử sách thì chúng ta thấy rằng lễ tấn phong hoàng hậu (vợ vua), hoàng thái hậu (mẹ vua) hay thái hoàng thái hậu (bà vua) ngày xưa được tổ chức rất long trọng, rườm rà và phức tạp. Giây phút quan trọng nhất của buổi lễ là lúc quan truyền chế đọc câu Nay sách phong cho chính cung chức?họ? làm hoàng hậu, sai các ngươi mang sách vàng này đến làm lễ (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí , tập 2, Lễ nghi chí , Sử học,1961, tr. 182). Đương nhiên là nhà vua hoặc những ông quan đại thần đã phải sửa soạn, cân nhắc, chọn sẵn tên hiệu cho hoàng hậu trước khi làm lễ. Người xưa câu nệ vào lễ nghi. Không thể có chuyện vợ vua được tấn phong mà lại không được tặng tên hiệu ! Giả thuyết cho rằng bà hoàng thái hậu họ Nguyễn phải lấy tên chỗ ở để gọi do đó không thể đứng vững được.
    Lê Hiến Tông, năm Cảnh thống thứ 1 (1498), tấn tôn mẹ đẻ là họ Nguyễn làm Tràng Lạc thánh từ hoàng thái hậu (Nguyễn thị người làng Gia Miêu, huyện Tống sơn) (Phan Huy Chú, sđd, tr. 179). Trường Lạc hoàng thái hậu (họ Nguyễn, sinh ra Hiến Tông) (Phan Huy Chú, sđd, tr.127) được thờ tại điện Thái miếu trong thành Thăng Long. Phan Huy Chú chép thống nhất và rõ ràng Trường Lạc là tên hiệu của hoàng thái hậu họ Nguyễn.

    Rất có thể là TT (hay những người sao chép TT) đã chép sai câu Thái hoàng thái hậu Trường Lạc bỗng băng ở chính tẩm điện (?) thành ra Thái hoàng thái hậu bỗng băng ở chính tẩm điện Trường Lạc.

    Lê Quý Đôn đã dựa vào một câu chép sai của TT (năm 1505) để viết rằng điện Trường Lạc là nơi ở của hoàng thái hậu họ Nguyễn. Nếu chỉ đọc TS thì dĩ nhiên ai cũng phải nghĩ rằng Trường Lạc không phải là tên người.

    Khâm định Việt sử thông giám cương mục của nhà Nguyễn ( Giáo Dục, 1998, viết tắt là CM), vì dựa cả vào TT và TS nên chép lúc thì cung Trường Lạc (tập 1, tr. 1190; tập 2, tr. 21), lúc thì điện Trường Lạc (tập 2, tr. 22), và chép cả:
    Sau khi nhà vua (Túc Tông) lên ngôi (1502), tôn bà tổ mẫu Trường Lạc hoàng thái hậu Nguyễn Thị làm thái hoàng thái hậu (tập 2, tr. 18).
    Lần sửa cuối bởi khannhachboa; 04-11-2005 lúc 10:13 PM

  20. Tớ cảm ơn khannhachboa đã chia sẻ.


+ Trả lời chủ đề
Trang 1/7 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Vụ sát hại sinh viên Vũ Anh Tuấn: 17 nghi phạm trắng án
    Gửi bởi Mr.vulh_bk trong mục Thảo luận
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 02-03-2007, 09:00 PM
  2. Suy nghi ve cau lac bo SVNCKH
    Gửi bởi ju2ly6 trong mục Diễn đàn Học tập và Nghiên cứu KH Sinh viên
    Trả lời: 12
    Bài cuối: 03-12-2005, 09:08 PM
  3. Lễ nghi Học sỹ Nguyễn Thị Lộ với Thảm án Lệ Chi viên
    Gửi bởi chutichhtcbk trong mục Lịch sử
    Trả lời: 13
    Bài cuối: 10-10-2005, 03:44 PM
  4. Đêm Nằm Mơ Phố - Nghi Văn
    Gửi bởi ot_khong_cay trong mục V-Music
    Trả lời: 7
    Bài cuối: 10-10-2005, 02:19 AM
  5. Vượt qua nỗi nghi ngờ bản thân
    Gửi bởi Tũn trong mục Tâm sự & Tư vấn
    Trả lời: 5
    Bài cuối: 04-10-2004, 08:36 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube