User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/4 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 40

Chủ đề: Các công trình, cụm công trình, cụm tác phẩm được trao giải thưởng HCM

  1. #1
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định Các công trình, cụm công trình, cụm tác phẩm được trao giải thưởng HCM

    Ngày 10-9-1996 Nhà nước CHNXCN VIỆT NAM đã tặng phần thưởng HỒ CHÍ MINH cho các nhà khoa học và văn nghệ sỹ có thành quả lao động: 77 công trình, cụm công trình, cụm tác phẩm được trao giải thưởng HCM - Đợt I.

    8 TÁC GIẢ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI



    1. GIÁO SƯ, VIỆN SỸ NGUYỄN KHÁNH TOÀN


    Ngày sinh: 1905-1993

    Quê quán: Thừa Thiên Huế

    Những công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Vài nhận xét về thời kỳ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long (1954).
    2. Vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản (1960)


    Một trong những sự kiện lớn lao trong cuộc đời của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn là được vinh dự gặp Bác và sống gần gũi với Bác trong nhiều năm trong thời kỳ ở trường Đại học Đông Phương. Bác hơn Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn mười lăm tuổi và xem giáo sư như một người em. Ngoài tình đồng chí là tình thân ái có tính chất gia đình, ngay từ thời kỳ còn ở trong nước, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn luôn nghĩ về Bác với tấm lòng ngưỡng mộ và trân trọng vô hạn. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn kể : " Tôi còn nhớ năm 1922 là năm tên vua bù năm Khải Định đi Pháp dự cuộc thi triển lãm thuộc địa ở Mác-xây . Trên báo Nhân đạo đăng ngay một bài đả kích tên vua lố lăng này. Tác giả bài báo có Nguyễn Ái Quốc, tôi đã được đọc bài này qua bản đánh máy trích từ báo Nhân đạo do một người quen thân làm ở Sở Bưu điện Đà Nẵng giới thiệu. Lần đầu tiên, tôi được đọc một bài có nội dung tư tưởng và phong cách mới mẻ như vậy.Và nó đã mang lại một ấn tượng sâu sắc trong óc tôi. Tên tuổi văn phong của Bác ngay từ đó đi vào trái tim tôi. Và bây giờ thì niềm vui thật lớn lao khi hàng ngày được trông thâý Bác, chuyện trò thân tình và được phép xưng hô với Bác là anh với em". Phải chăng đó là trường hợp duy nhất, là vinh dự lớn lao mà Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã có được. Sau này trở về nước, trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám, rồi những năm kháng chiến chống Pháp khi Bác đã đứng cương vị Chủ tịch nước, Người vẫn cho phép giữ cách xưng hô thân thiết đó. Bác thương yêu và quan tâm săn sóc Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn. Trong một lần sinh nhật, Bác cho gọi "chú Toàn" đến ăn cơm. ở Việt Bắc, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn bị sốt rét nặng. Bác thăm hỏi và căn dặn: "Chú phải chịu khó thuốc thang; chú ốm nặng, anh cũng lo" . Một lần Bác tổ chức gặp gỡ với các cụ thân sĩ cao niên. Bác bảo với chú Toàn: "Hôm nay anh gặp các cụ thân sĩ. Trước mặt các cụ, chú không nên gọi anh bằng anh, mà gọi là Bác". Giáo sư Toàn gật đầu, mỉm cười và nói: "Thưa Bác, Xin vâng". Thời kỳ này, Giáo sư Nguyễn Khánh toàn đảm nhiệm chức Thứ trưởng và Bí thư Đảng đoàn Bộ Giáo dục. Sự phân công của Đảng thật sát đúng. Dù hoạt động ở ngành gì hoặc trên cương vị nào, ở Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn vẫn có cốt cách và phong độ một người thầy. Sự chọn lựa ngay từ thời trẻ vào trường Cao đẳng Sư phạm không phải là chuyện ngẫu nhiên. Trong suốt cuộc đời, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã không ngừng học tập. Cõi học mênh mông và sự tích lũy của người thầy thật công phu theo năm tháng. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn luôn có ham muốn được truyền đạt lại kiến thức cho những thế hệ trẻ qua những bài viết, bài giảng. Cùng với Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã có những cống hiến to lớn cho ngành Giáo dục trong thời kì xây dựng nền giáo dục nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn là một người am hiểu thực tiễn nhưng trước hết là một nhà lí luận. Ông đề xuất hàng loạt vấn đề lí luận có ý nghĩa quan trọng với công tác giáo dục. Cuốn sách của ông về những vấn đề giáo dục được viết ra với nhiệt huyết của một trí thức cách mạng, một người thầy yêu nghề gắn bó với nghề, yêu thế hệ trẻ .Hòa bình được lập lại, các Trường Đại học được mở ra, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn đã có dịp làm thầy theo đúng ý nghĩa cao quý và bình dị của nó.
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 28-09-2005 lúc 04:46 PM
    Việc nước là việc lớn nhất
    Nhưng việc giữa người với người không thể nhỏ hơn

    (Lý Chiêu Hoàng nói với Trần Thủ Độ)



    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA MÃI MÃI LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA BAO GIỜ VÀ KHÔNG BAO GIỜ LÀ CỦA BẤT KỲ MỘT QUỐC GIA NÀO KHÁC NGOÀI VIỆT NAM

  2. #2
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    2. GIÁO SƯ, VIỆN SỸ TRẦN HUY LIỆU



    Năm sinh: 1901-1969

    Quê quán: Vụ Bản - Nam Định

    Công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Bộ Lịch sử tám mươi năm chống Pháp gồm ba tập, nhà XB Văn Sử Địa năm 1956 (tập 1), 1959 (tập 2), 1960 (tập 3)


    Trần Huy Liệu không phải là người được trang bị vốn học một cách có hệ thống. Ông chỉ có lòng say mê quốc sử, tinh thần "mọt sách", chỗ nào cũng học được, mỗi lần ở tù là một lần được "chuyên tu" lớn. Chữ Nho giỏi nức tiếng trong vùng, nhưng ở khoa thi cuối cùng năm 1915 thì lăn ra ốm. Trong tù, tự học tiếng Pháp qua Larousse, dù được gọi là "từ điển sống", sau này ông cũng chỉ đọc được sách, còn nói và nghe không chảy. Nhưng chắc chắn là trong tử vi ông, nghiệp đèn sách là phần lớn nhất, nghiêng về dòng chảy quá khứ. Những tác phẩm "kể lại lịch sử" đầu tiên là Anh hùng khứ quốc, Ông Nạp Nhĩ Tốn (Nellson) – 1927, Một bầu tâm sự - 1927, Thái Nguyên khởi nghĩa (Loạn Thái Nguyên) – 1935. Ở Côn Đảo, ông tâm sự với Ngô Gia Tự về mộng làm sử. Thời mặt trận Dân chủ Đông Dương, Giám đốc Sở Mật thám Đông Dương Granjean nhìn thấy "xu hướng gì đó" trong Trần Huy Liệu, đã đề nghị ông thôi làm báo để nhận một chân tại Viện Đông Bác Cổ. Hoạt động cách mạng, Trần Huy Liệu không thể cứ rung đùi trước tác, nhưng vẫn bị chí lập ngôn, trước thư giày vò.
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 28-09-2005 lúc 05:18 PM

  3. #3
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    3. GIÁO SƯ ĐẶNG THAI MAI



    Năm sinh: 1902 - 1984

    Quê quán: Lương Điền - Thanh Chương - Nghệ An

    Cụm công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Nghiên cứu văn học Việt Nam và văn học Thế giới - 8 tập (1945-1984)



    Ngay khi còn là sinh viên cao đẳng sư­ phạm (1925-1928), ông đã tham gia đảng Tân Việt, tìm đọc và truyền bá L'Humanité, Le Paria, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản... Năm 1930, đang là giáo sư Quốc học Huế, vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ, ông bị Pháp bắt giam ba năm. Ra tù, ông làm giáo sư các trường Tư thục Gia Long (1932), Thăng Long (1935). Năm 1936, cùng Vương Kiêm Toàn, Nguyễn Văn Tố, lập Hội Truyền bá quốc ngữ. Đây cũng là thời kỳ ông viết nhiều cho sách báo công khai của Đảng, như Lao Động, Tiền Phong, Tập họp, Tiếng nói chúng ta, Tin tức...

    Sau cách mạng, ông là đại biểu Quốc hội khóa 1, Bộ trưởng Giáo dục, Chủ tịch ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hóa, một thời kỳ trong kháng chiến chống Pháp. Đó là những chức vụ chính quyền ông phải giữ khi tổ chức yêu cầu, cũng như trước đây Đảng yêu cầu ông ra ứng cử dân biểu Trung Kỳ. Nhưng cả đời ông, dù làm bất cứ việc gì cũng không xa rời nghề dạy học và những hoạt động văn hóa, dù vẫn mang những chức vụ như Giám đốc Đại học Sư phạm, Chủ tịch hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Viện trưởng Viện Văn học...

    Ở ông, không chỉ kết tụ được những tinh hoa văn hóa nhân loại tạo nên sự "uyên bác Đặng Thai Mai" người đời truyền tụng, mà còn sáng lên phẩm giá của một chí sĩ, một người cộng sản biết đặt lợi ích cá nhân mình dưới lợi ích tối thượng của dân tộc nhưng không đánh mất một bản ngã văn hóa.

    Ông là một tấm gương tiêu biểu của việc lấy văn hóa để phục vụ cách mạng, phục vụ đất nước, dù, đương nhiên, cách mạng là con đường quanh co, khúc khuỷu mà chân lý, cái đẹp thì muốn như bông hoa nở rộ, thẳng sáng dưới ánh sáng mặt trời. Nhưng không có cái đẹp ở trên mây. Cái đẹp, giá trị đích thực của nghệ thuật bao giờ cũng mọc lên từ mảnh đất lầm lụi của cuộc sống, vươn theo những yêu cầu cụ thể của đời.

    Với nghề giáo, Đặng Thai Mai không là "vạn thế sư biểu" như Khổng Tử, chỉ là ông thầy của một thời, một thế kỷ, nhưng là cái thời khai sáng, thời lập quốc. Công lao tạo ra những con người mới, những giá trị văn hóa mới, đã được nhân dân đương thời kính trọng và muôn đời nhắc nhở.

    Về văn nghiệp, cả đời ông có mười bốn cuốn sách, trong đó có ba cuốn viết trước cách mạng. Các bài báo được tập hợp lại trong ba tập sách: Trên đường học tập và nghiên cứu, Giảng văn Chinh phụ ngâm, Chủ nghĩa nhân văn dưới thời Văn hóa Phục hưng là hai tác phẩm tiêu biểu về sự thông tuệ và mẫu mực của văn nghiên cứu, phê bình. Dù viết về thể loại gì thời gian, hoàn cảnh nào, cũng toát lên sự nhất quán. Nhất quán về tư tưởng, tính nghiêm túc của khoa học và viết để phục vụ cách mạng, phục vụ sinh viên. Sau này, viết vì cách mạng là một lẽ đương nhiên, ai chả làm thế, nhưng thời còn trong bóng tối lại là một chuyện khác. Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhớ lại : "Giữa bầu không khí mù tối, ngột ngạt của chủ nghĩa phát xít khi đọc trên tạp chí Thanh nghị những bài Đặng Thai Mai viết về Lỗ Tấn, tôi đã thầm nhận ra những tia lửa giữa những hàng chữ bình tĩnh, điềm đạm không thể lẫn được... "

    Có thể đọc ra ở đây ảnh hưởng to lớn của Đặng Thai Mai với các thế hệ trí thức và phong cách đầy chất lửa của ông giữa những hàng chữ bình tĩnh, điềm đạm. Đó là lúc đưa quan điểm mác xít vào Văn học khái luận (1944), là lúc ngay trong kháng chiến đã một mặt đề cao cá tính sáng tạo : "Nói đến sáng tác là nói đến thiên tài, cá tính. Không một tác phẩm vĩ đại nào không in sâu một nhãn hiệu sắc sảo của tính cách độc đáo", và khẳng định : "lịch sử vẫn phải chịu một phần trách nhiệm trong các khuyết điểm của thiên tài". Đó là lúc năm 1964, giữa thủ đô Bắc Kinh, ông thừa nhận Việt Nam chịu ảnh hưởng "văn hóa Hán", nhưng cũng khẳng định : "Trên thế giới hiện nay không có một dân tộc văn minh nào có thể khoe khoang là không hề vay mượn tí gì của các dân tộc khác trên quá trình xây dựng văn hóa của mình. Lịch sử văn hóa Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật đó. Tuy vậy, văn nghệ Việt Nam vẫn có một nhãn hiệu, một quốc tịch, một dân tộc tính riêng biệt"...

    Đặng Thai Mai mất (25-9-1984) khi ông chưa viết xong Hồi ký của mình. Và cũng chưa biết mười năm sau đó, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh - giải thưởng cao quý nhất mà Đảng và Nhà nước trao tặng những nhà văn hóa có cống hiến xuất sắc nhất cho cách mạng, cho dân tộc. Nhưng hình ảnh ông, từ thái độ nghiêm túc trong khoa học, sự liêm chính của một học quan, đến cả những nét sinh hoạt hàng ngày (thích thuốc lá thơm, uống cà phê tự pha lấy trong tách chén đẹp... ) còn được lưu giữ rất lâu trong lớp lớp học trò. Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc - một đồng nghiệp, khi sinh thời đã gọi Giáo sư Đặng Thai Mai là "Người hiền". Nhà thơ Tú Mỡ tổng kết :

    Văn phong lý luận như gang thép
    Cốt cách tinh thần tựa trúc mai.
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 28-09-2005 lúc 05:09 PM

  4. #4
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    4. GIÁO SƯ TRẦN VĂN GIÀU


    Năm sinh: 1911. Hiện sống tại Thành phố HCM

    Quê quán: Lục Long - Châu Thành - Long An

    Cụm công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Toàn bộ công trình về Lịch sử Việt Nam gồm 5 bộ, 18 tập (1956-1957)


    Năm 1928, Giáo sư sang Pháp tiếp tục theo học hết bậc trung học, rồi vào học khoa Văn, trường Đại học Toulouse. Giáo sư đã tích cực tham gia hoạt động trong phong trào yêu nước của sinh viên, học sinh, công nhân Việt Nam ở Pháp.

    Tháng 5.1929, Giáo sư gia nhập Đảng cộng sản Pháp. Ngày 19.5.1930, Giáo sư đã tham gia cuộc biểu tình trước Phủ Tổng thống Pháp phản đối sự đàn áp dã man, tàn bạo của thực dân Pháp đối với cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức, nên bị Chính phủ Pháp trục xuất về nước cùng 18 người khác. Về nước, Giáo sư gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và công tác ở Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.

    Từ năm 1931 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Giáo sư đã vào học trường Đại học Phương Đông ở Matxcơva (1931-1932), rồi về nước (đầu năm 1933) cùng với một số đồng chí vận động xây dựng lại Xứ ủy Nam Kỳ để khôi phục lại phong trào cách mạng ở trong nước ta lúc đó đang bị tổn thất rất nặng nề do sự khủng bố của thực dân Pháp sau cao trào cách mạng 1930-1931; đến tháng 10 năm 1943 , trong Hội nghị đại biểu Đảng bộ toàn kỳ, một Xứ ủy Nam Kỳ mới đã được thành lập gồm có 9 ủy viên và Giáo sư được bầu làm Bí thư Xứ ủy để xây dựng lại các cơ sở cách mạng, tổ chức lại lực lượng sau khi cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ bị thất bại.

    Trong thời gian này, Giáo sư đã bị thực dân Pháp bắt giam : lần thứ nhất hồi tháng 10.1933 với bản án 5 năm tù án treo; lần thứ hai, hồi tháng 4.1935 bị kết án 5 năm tù, đày đi Côn Đảo (1935 - 1940) ; Và lần thứ ba bị đưa đi an trí tại căng Tà Lài (1940); nhưng giữa năm 1941, Giáo sư cùng với một số đồng chí đã vượt ngục ra ngoài hoạt động.

    Tháng 8.1945, thực hiện mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước, Giáo sư cùng với Xứ ủy Nam Kỳ lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Sài Gòn và Lục tỉnh Nam Kỳ.

    Giáo sư được cử làm Chủ tịch ủy ban Nhân dân lâm thời Nam Bộ, sau là Ủy ban Hành chính Nam bộ, rồi ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Bộ.

    Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Giáo sư công tác ở miền Tây Đông Dương (1946-1948), làm Tổng Giám đốc Nha Thông tin trung ương (1949-1951), phụ trách trường Dự bị Đại học (1952-1954).

    Sau khi hòa bình lập lại (1954) cho đến khi nghỉ h­u (3.1978),Giáo s­ giảng dạy ở tr­ờng Đại học S­ phạm Hà Nội và trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1954-1960); công tác ở Ban Khoa học xã hội, trực thuộc Ủy ban Khoa học nhà nước (1960-1965), ở Viện Sử học, trực thuộc ủy ban Khoa học nhà nước, sau là Ủy viên Khoa học xã hội Việt Nam (1965-1976); ở Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh (7.1976-2.1978).

    Không những là nhà hoạt động cách mạng lão thành đã từng giữ những cương vị lãnh đạo quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta trước đây, Giáo sư còn là một nhà báo, một nhà giáo dục, một nhà nghiên cứu về triết học, tư tưởng lịch sử, văn hóa, văn học, với trình độ học vấn uyên thâm, có uy tín lớn ở trong và ngoài nước.

    Trong hơn 50 năm cầm bút viết sách, báo với các bút danh như Hồ Nam, Trần Văn Giàu, Tầm Vu, Thảo Giang, Gió Nồm, MN v.v...; và từ những bài báo đầu tiên in trên báo Cờ đỏ của Đảng Cộng sản Pháp xuất bản bằng chữ Việt để vận động binh lính người Việt, cho đến nay Giáo sư đã viết hàng trăm bài báo, luận văn, báo cáo đăng trên các báo chí xuất bản ở nước ngoài như Cờ đỏ, Cahíers du Bolchévisme, Humanité (của Đảng Cộng sản Pháp), Inprekor (của Quốc tế Cộng sản), ý kiến chung, các báo chí công khai của Đảng sau này như Sự thật, Nhân dân, các báo chí ở miền Nam từ sau ngày giải phóng. Đặc biệt là trên các tạp chí chính trị, các tạp chí khoa học có uy tín như Học tập, Tổ quốc, Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu văn học, Triết học, Chuyên san đại học sư phạm, Khoa bọc xã hội .v..v. Bạn đọc đều rất vui mừng được đọc những luận văn nghiên cứu có chất lượng khoa học cao của Giáo sư đề cáp đến những vấn đề chính trị, lý luận cách mạng, tư tưởng, triết học, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, văn học, nghệ thuật , v.v...

    Ngoài ra, Giáo sư còn là tác giả, đồng tác giả, chủ biên, đồng chủ biên của hơn 60 cuốn sách lớn nhỏ về chính trị, triết học, tư tưởng, lịch sử, văn hóa, văn học v.v...; trong đó có những công trình nghiên cứu tiêu biểu, đồ sộ của riêng Giáo sư với hàng ngàn trang sách mà giới khoa học xã hội luôn luôn coi Giáo sư là người "khai sơn phá thạch" của những đề tài khoa học lớn này.

    Không những là nhà hoạt động cách mạng lão thành, là nhà nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn uyên bác, Giáo sư còn là nhà giáo dục - đào tạo lớn, mẫu mực và đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo các thế hệ học sinh ở nước ta trong hơn 40 năm qua, trong đó có nhiều nhà khoa học nổi tiếng,nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cơ quan văn hóa, giáo dục, báo chí, truyền thông ở trung ương và ở các địa phương trong cả nước, đã được theo học Giáo sư.

  5. #5
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    5. GIÁO SƯ VŨ KHIÊU (ĐẶNG VŨ KHIÊU)


    Năm sinh: 1916. Hiện sống tại Hà Nội.

    Quê quán: Hành Thiện - Xuân Thuỷ - Nam Định

    Cụm công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Bộ sác về Mỹ học, Đạo đức học, Văn hoá học (1973-1978-1980)


    Tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng Tháng Tám - 1945, nhưng giáo sư Vũ Khiêu được biết đến nhiều với tư cách là một nhà khoa học, nhà văn hóa. Với bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, đồng trang lứa, thuộc lớp trước hay lớp sau, giáo sư Vũ Khiêu vẫn luôn luôn là một tấm g­ơng sáng về sự nỗ lực, vươn lên trong học tập.

    Vào đời tự lập, không một sự nâng đỡ, hành trang duy nhất mà ông mang theo là một truyền thống hiếu học của dòng họ Đặng Vũ ở quê nghèo Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định), vùng đất học từng có không ít người đỗ đạt cao.

    Không dừng lại ở kiến thức có được trong trường trung học, giáo sư đi vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học bằng một sự khổ công và bền bỉ, không ngừng nâng cao mình từ những kiến thức của cả ph­ơng Đông và phương Tây, từ cổ đại đến hiện đại. Đó là vốn kiến thức được tích lũy trong suốt cuộc đời, khiến ông trở thành một nhà văn hóa học có tầm cỡ.

    Ngay từ năm 1958, giáo sư Vũ Khiêu đã xuất bản tác phẩm Về cách mạng tư tưởng, một trong những tác phẩm lý luận rất hiếm hoi vào thời đó. Trong cái bận rộn của một người vừa làm công tác chính trị, vừa nghiên cứu khoa học, ông vẫn thường xuyên cho ra đời những tác phẩm về vấn đề văn hóa và t­ tưởng như cuốn Đẹp (1963), Anh hùng và nghệ sĩ (1972), Cách mạng và nghệ thuật (1979)...

    Được phân công lãnh đạo công tác thông tin tuyên truyền kháng chiến của Khu 10, rồi Khu Việt Bắc, Tây Bắc, giao sư Vũ Khiêu được biết đến như một người lãnh đạo có năng lực tổ chức, tập hợp được nhiều nhà văn, trí thức, nghệ sĩ nổi tiếng đứng dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng như : Tô Ngọc Vân, Nguyễn Xuân Khoát, Thế Lữ, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ, Bùi Công Kỳ, Vũ Hoàng Địch, Trần Dần...

    Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáo sư Vũ Khiêu được điều động làm ủy viên tuyên huấn ở nhiều mặt trận, trực tiếp có mặt tại tiền tuyến, suốt từ chiến dịch Biên giới 1949 cho đến chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Trong thời gian này, giáo sư vừa viết giáo trình lý luận cho cán bộ thông tin tuyên truyền, vừa biên soạn tin tức, ra những bản tin tuyên truyền, bình luận tin chiến thắng. Những đồng chí cùng đi chiến dịch với ông thời đó cho biết : "Giáo sư có một sức làm việc thật dẻo dai, bền bỉ hiếm thấy. Ngày thì hành quân, đêm thức tới một, hai giờ sáng để viết tài liệu". Hòa bình lập lại, ông tiếp tục công tác thông tin tuyên truyền trong một thời gian, rồi được chuyển hẳn sang làm công tác thông tin tuyên truyền trong một thời gian, rồi được chuyển hẳn sang làm công tác nghiên cứu triết học và khoa học xã hội, tham gia giảng dạy triết học và lý luận khoa học xã hội cho các trường Đảng và các trường đại học.

    Năm 1959, ông được điều về làm Thư ký khoa học khối khoa học xã hội (thuộc Ủy ban Khoa học Việt Nam) sau đó được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm ủy ban KHXH Việt Nam. Ông có nhiều đóng góp trong việc xây dựng nhiều ngành khoa học xã hội Việt Nam và là Viện trưởng đầu tiên của Viện Xã hội học, là người đặt nền móng cho sự phát triển của ngành xã hội học ở nước ta.

    Cũng trong thời gian này, ông đã viết gần 30 cuốn sách và tham gia biên soạn với tập thể chừng 30 cuốn nữa ở nhiều lĩnh vực : triết học, đạo đức học, văn học, nghệ thuật, văn hóa, xã hội, nghiên cứu và giới thiệu thơ văn và cuộc đời của một số thi hào... Đặc biệt, bộ sách ba tập, dày gần 1.500 trang : Bàn về văn hiến Việt Nam được đánh giá là có giá trị cao, bao gồm những kết quả mà giáo sư đạt được từ nửa thế kỷ nay, chung quanh những vấn đề về mỹ học, văn hóa, đạo đức.

    Người ta tự hỏi : Chỉ với trình độ văn hóa của trường trung học thời Pháp thuộc mà sao giáo sư lại có một trình độ uyên thâm về mọi lĩnh vực văn hóa, khoa học như thế ? Điều đó được lý giải trước hết bởi sự say mê, tìm tòi trong bể kiến thức mênh mông của ông. Đến nay, tuy đã ngoài 80 tuổi nhưng giáo sư Vũ Khiêu vẫn không ngừng công việc nghiên cứu, biên soạn. Hằng ngày, ông vẫn dành từ 8 - 10 giờ cho công việc. Được biết giáo sư đang gấp rút hoàn thành một số công trình nghiên cứu về Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh của Khổng Tử, Mạnh Tử.

    Ông làm việc với tinh thần trách nhiệm và một thái độ nghiêm túc. Vì vậy, có khi chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã hoàn thành một khối lượng lớn công việc, khiến nhiều người phải trầm trồ, thán phục. Nhưng người ta còn khâm phục cả một nhân cách Vũ Khiêu. Có thể nói ông là người có đầy đủ cả danh - chức - quyền. Song, ở ông không chỉ là con người học giả, con người lãnh đạo. Mà như bạn bè thường nói về ông, một con người coi công danh như gió thoảng. Ông coi tình người, tình bạn như của quý trong đời. Vũ Khiêu - một con người vừa có tài, lại có tình. Nụ cười hồn hậu, nét mặt cởi mở, tất cả những gì toát ra từ con người ông đều mang dáng dấp của một trí thức trên vùng đất là cái nôi của văn hóa dân tộc, một nền văn hóa được nuôi d­ỡng bằng trí tuệ và bằng tình yêu.

  6. #6
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    6. GIÁO SƯ CAO XUÂN HUY



    Năm sinh: 1900-1983

    Quê quán: Cao Xá - Diễn Châu - Nghệ An

    Công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Tư tưởng phương Đông (1950-1960-1970), NXB Văn học, 1995.


    Đi bên dòng chảy của mấy vương triều, thể chế, với bao phế hưng của lịch sử, cuộc đời Giáo sư Cao Xuân Huy (1900-1983) trước sau vẫn là một cuộc đời thanh bạch mà ở đó ông đã bỏ ra hơn sáu chục năm theo đuổi sự nghiệp rèn cặp và dạy dỗ con người, đào tạo cho xã hội những nhà khoa học chững chạc, những cán bộ nghiên cứu giảng dạy xuất sắc. Giảng dạy và đọc sách. Đó là hai công việc choán hết thời gian gần một thế kỷ của đời ông. Dù ở trong một căn nhà tranh sơ tán bên sông Cầu trong những năm bom đạn hay trong căn gác khiêm nhường giữa phố phường Hà Nội náo nhiệt, mỗi khi tới thăm ông, ít ai được gặp ông trong tư thế "xả hơi" ngơi nghỉ : ông đang đọc. Năm 1970, Viện Văn học, nơi ông công tác, tổ chức buổi họp mặt mừng thọ 70 tuổi đồng thời là kỷ niệm 50 năm đứng trên bục giảng của ông, ông tâm sự cởi mở, chân thành : "Tôi yêu nghề dạy học vì đây là một nghề mà càng cho đi bao nhiêu lại càng được bấy nhiêu. Giáo dục là một nghề thật đáng tự hào, vì nói như Mạnh Tử, đó là cái nghề mà ông thầy đã được dạy dỗ những anh tài trong thiên hạ". Ai đã tìm may mắn được ông dạy dỗ và tận mắt chứng kiến sự trưởng thành của nhiều lớp học trò do ông đào tạo, mới chia xẻ một cách thấm thía lời bộc bạch của ông. Ngẫm mà xem : đội ngũ những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy Hán Nôm và văn chương cổ suốt từ Bắc vào Nam độ tuổi từ ngoại 40 trở lên hiện nay, mấy ai không qua cửa ông mà tới được "cửa Khổng sân Trình?". Từ đội ngũ những người giảng dạy chữ Hán ở các trường Đại học, Trung tâm đào tạo Hán Nôm Văn Miếu, đến mấy chục con người đang như một đội ngũ xung kích trong việc khai thác di sản văn hóa dân tộc tại Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay, mấy ai không được hưởng cái may mắn làm học trò ông ? Riêng với Viện Hán Nôm, công lao của Giáo sư Cao Xuân Huy không chỉ là ở chỗ khai sơn phá thạch mà ông thực sự còn là người hàng chục năm trời cần mẫn, đóng vai trò thợ cả trong việc dựng móng xây nền. Nhiều giáo sư, phó tiến sĩ hôm nay, trong các công trình, bài vở đã có được những trang viết sắc sảo khi Nho, khi Phật, khi Lão - nếu đọc họ, ta thấy đây đó hằn những suy nghĩ của ông trên bục giảng thì biết ngay đó chính là học trò ông cả đấy. Ông viết rất ít. Suốt đời đọc, tích lũy hệ thống kiến thức để làm các giờ giảng thêm sinh động, sâu sắc; để dù chỉ một chữ thôi, ông có thể giảng đôi ngày. Ông cho rất nhiều. Cho suốt 60 năm trên bục giảng. Cho hàng ngày, hàng giờ - từ việc góp ý cho một đề tài đến việc "gỡ" cho những câu văn khó hay ai đó đến xin ông mách bảo những tài liệu mà họ đang cần. Để ca ngợi ông, có lẽ ngoài câu "dạy người không biết mệt mỏi ", nên chăng phải nói thêm thế này : Không dạy, ông như mệt mỏi hơn. Không dạy, ông như mới là âm bản của mình với vẻ già mua yếu ớt bên những trang sách câm lặng. Chỉ khi bước lên bục giảng, ông mới thực là ông. Ở đó, như cá gặp nước, chân dung, thần thái của ông mới có dịp hiện ra lồ lộ. Ông hoạt bát hẳn lên - từ dáng đi, lời giảng bài sang sảng, đến tiếng cười hồn nhiên thơ trẻ...

    Sinh ra và lớn lên đúng buổi bình minh của thế kỷ XX trong một gia đình Hán học truyền thống, lại tiếp thu được một vốn học vấn sâu sắc về văn hóa phương Tây, trong ông đã nghiễm nhiên hình thành sự giao thoa của hai nền văn hóa lớn. Như nhiều tri thức cùng độ tuổi, thế hệ các ông là sản phẩm đặc thù của một giai đoạn lịch sử nhất định, mà ở đó những Trần Văn Giáp, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu... mỗi người mỗi vẻ, đã tạo nên những gương mặt trí thức, những nhà khoa học xã hội Việt Nam tiêu biểu.


    Bằng nhãn quan triết học, Giáo sư Cao Xuân Huy giảng : Lão Tử, là một tác phẩm triết học bằng thơ. Tr­ớc Lão Tử ở Trung Quốc không có triết học tự nhiên. Nhà triết học tự nhiên đầu tiên và vĩ đại nhất của Trung Quốc chính là Lão Tử. Chữ ĐẠO mà Lão Tử dùng làm một thuật ngữ triết học, chỉ cái Bản thể - phần chủ yếu của triết học tự nhiên mà "hữu-vô", "đa-nhất", "động-tĩnh", "tâm-vật" hợp thành nội dung của bản thể luận của nó, vì thế VÔ và HỮU ở đây chính là các phạm trù triết học. Dấu phẩy của Vương An Thạch đã làm được điều đó. Vì vậy phải hiểu là trong câu văn này, Lão Tử muốn nói : dùng cái chữ "Vô" (phạm trù vô) để gọi tên cái thuở ban đầu của trời đất; dùng chữ "hữu" (phạm trù hữu) để gọi tên mẹ đẻ của vạn vật... Giáo sư Đặng Thai Mai, sinh thời, có nói với chúng tôi : "Về Lão Tử, ở nước ta, chỉ có thầy Huy là người giảng được". Chẳng những thế, ở Giáo sư Cao Xuân Huy, triết học Lão-Trang không chỉ dừng lại ở phương diện nhận thức mà những nhận thức đó còn được thể hiện đậm nét ở trong cuộc sống hiện thực của riêng ông. Đó là niềm lạc quan trước Chân Lý, là cái nhìn "đạt quan" trước những bể dâu, đắc nhất của đời người.

    Giáo sư Cao Xuân Huy rất ít viết. Nhưng một khi ông đã viết, ông thường viết một cách kỹ lưỡng, sâu sắc, ít ai có thể viết được như thế. Tôi còn giữ ấn tượng rất mạnh khi đọc bài Mấy nhận xét về bộ sách "Dịch kinh tân khảo" của ông trên Tạp san nghiên cứu văn học tháng 7.1964. Đây là bộ sách do Nguyễn Mạnh Bảo, nguyên tổng trưởng trong chính quyền Ngô Đình Diệm biên soạn (1-1956). Soạn giả được nhà xuất bản ca ngợi như một nhà đại khoa học và sau đó đã được Giải thưởng quốc gia do Bộ đặc nhiệm Văn hóa Xã hội (ngành Văn chương, bộ môn Biên khảo), trao tặng vào năm 1961-1962. Sau khi phân tích thấu đáo những sai lầm của bộ sách - kể cả việc dùng những thuật ngữ khoa học và triết học, lẫn cách hành văn, trình độ non kém về chữ Hán, ông kết luận : "Muốn làm một nhà đại khoa, đại triết học thì ít nhất văn lý cũng phải cho thông, văn lý chưa thông, còn nói gì đến triết lý, vật lý".


    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 28-09-2005 lúc 05:30 PM

  7. #7
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    7. GIÁO SƯ, VIỆN SĨ HỒ TÔN TRINH (HOÀNG TRINH)



    Năm sinh: 1920. Hiện nay sống tại Hà Nội.

    Quê quán: thị xã Hà Tĩnh - Hà Tĩnh

    Cụm công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Nghiên cứu về văn học và phê bình văn học gồm 4 tác phẩm (1962-1971, 1980, 1986, 1992)


    Hoàng Trinh là người nghiên cứu văn học có ý thức rành rẽ về điểm tựa, điểm xuất phát của khoa nghiên cứu văn chương là nền văn hóa dân tộc. Nhờ vậy mà bút lực ủa ông vươn xa. Dù viết : Văn học, ngọn nguồn và sáng tạo (1979), Về Khoa học và nghệ thuật trong phê bình văn học (1980), hay Đối thoại văn học (1986), Tiếp cận văn học dưới góc độ thông tin (1990) .v..v. thì G.S chỉ có một quan niệm : Trong lịch sử văn hóa nhân loại, không một dân tộc nào tồn tại và phát triển nhờ dựa vào văn hóa nước ngoài. Văn hóa là sức sống bên trong, là cuộc vận động trí lực và tạo tác từ lao động, sinh sống và phát triển trong cái nôi địa hình thái (géomorphique) và môi trường của bản thân mình. Càng phát triển bản sắc dân tộc của văn hóa càng rõ nét, đa dạng và trong xu thế giao lưu với văn hóa các nước. Bản sắc dân tộc nói chung và bản sắc văn hóa nói riêng là biểu hiện cao nhất của tinh thần độc lập tự chủ về chính trị, là biểu hiện của tiềm năng sáng tạo không ngừng của dân tộc. Một nền văn hóa đóng cửa, tự giam mình trong sự tù đọng của địa phương thì trước sau gì cũng bị xói mòn và cuối cùng là sự suy vong của nền văn hóa ấy".

    Đối với Hoàng Trinh, nhà nghiên cứu, cái gì có lợi cho văn hóa dân tộc thì làm, dù cái đó rất khó. Việc vận dụng thi pháp ký hiệu học vào việc phân tích tác phẩm văn học là một phưng thức trong nhiều phương thức nghiên cứu, đưa lại bổ ích, thú vị cho người đọc. Mục đích của xu hướng nghiên cứu này nằm trong phong trào lưu có tính quốc tế nhằm đổi mới nghiên cứu văn học, trả lại cho cấu trúc tác phẩm những yếu tố mà trước đây bị bỏ quên, những vùng tiềm năng của nhà văn bị coi nhẹ. Những công trình của GS Hoàng Trinh được giới thiệu ở nước ngoài thường mang ý nghĩa kép : vừa giới thiệu những tinh hoa văn hóa Việt Nam và giúp cho bạn đọc các nhà Đông phương học Việt Nam học ở nước ngoài hiểu được phần nào tầm vóc và quan điểm cởi mở của khoa học xã hội Việt Nam vốn sinh ra và trưởng thành trong điều kiện khốc liệt của chiến tranh giải phóng, vừa thay mặt độc giả Việt Nam tiếp nhận tinh hoa của văn hóa thế giới.

    Giữ được đạo đức của một nhà khoa học không chỉ là chuyện ghi công, mà còn là kinh nghiệm cho nhiều thế hệ khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học trẻ. Ở GS Hoàng Trinh nổi bật tính khiêm tốn thường biết mười, nói một.

    Đối với ông, sự nghiệp nghiên cứu thơ ca là vô cùng to lớn, đứng trước nó như đứng trước "cái vô cực", bao giờ cũng thấy mình bé nhỏ "lực bất tòng tâm". Năm 1989, ông được giải thưởng khoa học Rockefeller và được mời sang Mỹ 6 tháng nghiên cứu tại đại học Cornell. Vào tuổi 77, khi mà tên tuổi ông đã được đưa vào những từ điển. Tự điển danh nhân của ABI (1992 - 1993), Ai là ai trên thế giới (Who is who in the world) (1991 - 1992) ở Mỹ, Trung tâm biên soạn từ điển danh nhân Cambridge ở Anh, ông vẫn không tự bằng lòng với mình, vẫn nguyện "luôn cố gắng làm việc thầm lặng, hăng say, đeo đuổi đến cùng sự nghiệp để có thể trở thành một chuyên gia đáng tin cậy"(1).

    Lòng nhân ái, thái độ cảm thông đối với mọi người, trước hết là đối với đồng sự và học trò của GS được nhiều người thừa nhận. Trên thực tế sức cảm hóa của những phạm trù đạo đức này đối với một số người không phải dễ dàng. Nói chuyện với chúng tôi, ông thường cho rằng trong khoa học nên hết sức tránh hẹp hòi, đố kỵ, có thể rơi vào chủ nghĩa cá nhân rất có hại cho sự nghiệp chung. Là chủ tịch hoặc thành viên của nhiều hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước các học vị về văn hóa học, văn học, bao giờ GS cũng không để "lọt lưới" những người có đủ khả năng, có đủ trình độ.

  8. #8
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    8. GIÁO SƯ ĐINH GIA KHÁNH


    Năm sinh: 1923-2003


    Cụm công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Nghiên cứu về Văn học dân gian và Văn háo dân gian Việt Nam (1972, 1989, 1993, 1995)



    Giáo sư Đinh Gia Khánh thuộc thế hệ các nhà khoa học có kiến thức uyên bác và tổng hợp, hoạt động trong phạm vi chuyên môn rất rộng và thường ở lĩnh vực nào cũng có những cống hiến đáng kể: văn học viết, văn học dân gian và rộng hơn nữa là văn hóa học. Ở các lĩnh vực kể trên, ông không chỉ là nhà nghiên cứu với các công trình có tính chất mở đường, đặt nền móng, đánh dấu một giai đoạn, là nhà giáo, trong thời gian dài không những đào tạo nhiều cán bộ khoa học, xây dựng các giáo trình cơ sở cho bộ môn văn học cổ và văn học dân gian, mà còn là một nhà quản lý khoa học : Người sáng lập Viện văn hóa dân gian và Tạp chí Văn hóa dân gian, mà ở đó nhiều năm ông giữ cương vị Viện trưởng (1983-1987) và Tổng biên tập (1983-1993).

    Trước khi đến với bộ môn Văn hóa dân gian, GS Đinh Gia Khánh đã là một nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian với các công trình có tính chất định h­ớng và tổng kết một giai đoạn nghiên cứu. Bộ giáo trình "Văn học dân gian Việt Nam" xuất bản 1962 và "Văn học dân gian" năm 1972 và sau đó đến năm 1977 tái bản lần 2 và 1991 tái bản lần 3, thực sự là một công trình mang tính chất hệ thống dù nhìn từ góc độ thể loại hay tiến trình phát triển. Trong công trình này, liên quan tới từng hiện tượng cụ thể, các tác giả đã có cách nhìn và lý giải mới mẻ mang tính thuyết phục cao. Bộ giáo trình này không chỉ là công trình mang tính tổng kết đối với các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, mà còn là bộ giáo trình cơ bản góp phần đào tạo nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian ở nước ta.

    Trong lĩnh vực văn học dân gian GS Đinh Gia Khánh cũng đã có những công trình chuyên môn sâu, chẳng hạn cuốn "Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám", xuất bản năm 1968. Từ truyện Tấm Cám, tác giả đặt ra nhiều vấn đề mang tính lý thuyết và phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, xứng đáng là một công trình mẫu mực đối với việc nghiên cứu thể loại văn học dân gian này.

    Ngoài ra, trong lĩnh vực văn học dân gian, GS Đinh Gia Khánh còn có nhiều bài viết công bố trên các tạp chí khoa học, các công trình dịch thuật (chẳng hạn như Lĩnh Nam chích quái), công trình biên soạn (như Thần thoại Trung Quốc, Truyện hay nước Việt,...).

    Với bộ môn Văn hóa dân gian ở nước ta, xét ở cả góc độ nghiên cứu, giảng dạy, quản lý, GS Đinh Gia Khánh là người mở đường, định hướng và đặt nền móng cho bộ môn khoa học non trẻ này.

    Do có kiến thức rộng, uyên bác về lĩnh vực lịch sử, xã hội, văn hóa, từ nghiên cứu sâu các hiện tượng và thể loại Văn học dân gian, GS Đinh Gia Khánh đã ý thức được tính tổng thể nguyên hợp của văn học dân gian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung. Ông là một trong số ít ỏi các nhà nghiên cứu văn học dân gian đầu đàn, đã thoát khỏi các nguyên tắc ngữ văn học cổ điển trong việc nhìn nhận, lý giải các hiện tượng văn học dân gian và văn hóa dân gian, từ đó đặt ra các vấn đề thuộc về đối tượng, góc độ tiếp cận, lý luận và phương pháp nghiên cứu của bộ môn văn hóa dân gian. Cuốn sách "Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian" của GS Đinh Gia Khánh, xuất bản 1989, là công trình đạt tới sự khái quát cao, đặt ra các vấn đề lý thuyết và phương pháp luận cho bộ môn khoa học này.

    Từ việc xây dựng các quan niệm lý thuyết, GS Đinh Gia Khánh đã đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề trọng yếu của văn hóa dân gian Việt Nam. Trước nhất, về phương diện không gian và thời gian, ông đã nhìn nhận văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông - Nam Á, khám phá những tương đồng cũng như khác biệt của văn hóa dân gian Việt Nam với văn hóa các nước trong khu vực. Công trình "Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông - Nam Á", xuất bản năm 1993, được đánh giá cao, có lẽ là công trình đầu tiên ở nước ta đi sâu tìm hiểu vấn đề này.

    Ông là người đầu tiên đề xướng và tổ chức việc điều tra cơ bản văn hóa dân gian ở các địa phương và tổ chức biên soạn Địa chí Văn hóa dân gian các tỉnh, huyện. Với tư cách là Viện trưởng Viện văn hóa dân gian, ông đứng ra tổ chức sưu tầm và biên soạn "Địa chí Văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh", xuất bản 1995, là đồng chủ biên cuốn "Địa chí Văn hóa dân gian Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội" xuất bản 1991, là tác giả và chủ biên sách "Các vùng văn hóa Việt Nam" (1995).

    Giáo sư Đinh Gia Khánh là người sớm có ý thức và đi đầu trong việc nghiên cứu các vấn đề Văn hóa dân gian đối với xã hội và phát triển xã hội hiện đại. Ngoài việc công bố hàng loạt bài về lĩnh vực này trên Tạp chí Văn hóa dân gian, ông còn được mời làm chủ đề tài "Vai trò văn hóa dân gian đối với sự phát triển xã hội" thuộc chương trình cấp nhà nước : Văn hóa, văn minh và sự phát triển xã hội, đã nghiệm thu và được đánh giá thuộc loại xuất sắc.

    Vào những thập niên 80 - 90, từ cái nền tri thức về văn học dân gian, văn hóa dân gian, GS Đinh Gia Khánh đã dành sự quan tâm tới bộ môn khoa học mới - văn hóa học. Ông đã có những bài viết, chuyên đề giảng dạy cao học về bộ môn khoa học này. Hiện nay ông đang dồn sức hoàn thành cuốn sách giáo trình "Văn hóa học đại cương" dùng cho bậc đại học, cao học về văn hóa.

    Về lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian, GS Đinh Gia Khánh không chỉ là người xây dựng và tổng kết các quan điểm lý thuyết, trực tiếp thực hiện các công trình nghiên cứu trên, mà còn là người sáng lập ra tổ chức nghiên cứu, ra cơ quan ngôn luận (Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Tạp chí Văn hóa dân gian), xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, định hướng và xây dựng hệ thống đề tài. Với cương vị Viện trưởng và Tổng biên tập, GS Đinh Gia Khánh đã thực hiện một cách xuất sắc vai trò người quản lý khoa học của mình. Công lao của ông đối với ngành Folklore học Việt Nam và Viện văn hóa dân gian là rất to lớn.

    Sẽ là thiếu sót nếu không nói tới công lao và đóng góp của GS Đinh Gia Khánh trong lĩnh vực giảng dạy và đào tạo. Dù là với văn học viết, văn học dân gian hay sau này với văn hóa dân gian, ông đều là người thầy của nhiều thế hệ các nhà khoa học nối tiếp nhau, trong đó không ít người đã trưởng thành và đạt tới trình độ cao trong nghiên cứu và giảng dạy. Học trò của ông luôn tự hào về ông, người thầy của mình.

    Với tư cách là người thầy hay nhà nghiên cứu khoa học GS Đinh Gia Khánh luôn nêu tấm gương cần cù lao động, thái độ cẩn trọng, chính xác, nghiêm túc trong nghiên cứu và giảng dạy. Tuy tuổi đã cao nhưng ông không thỏa mãn với vốn tri thức đã có mà luôn gắng học hỏi, vươn tới cập nhật với tri thức mới, hiện đại. Ông không chịu trở thành "tù nhân" của "lâu đài" khoa học mà mình đã gắng sức suốt đời dựng nên.

  9. #9
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    12 TÁC GIẢ TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC Y - DƯỢC

    1. GIÁO SƯ HỒ ĐẮC DI




    Năm sinh: 1900-1984

    Quê quán: Huế

    Các công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Sinh học và bệnh học đại cương (sau 1945)

    2. Quan điểm đường lối, phương pháp luận đào tạo cán bộ y tế Việt Nam (sau 1945)


    Theo lời khuyên về bác sĩ Thiroux, ngự y của triều đình Huế, gia đình đã chọn nghề y cho Hồ Đắc Di và đưa sang Pháp du học (1918-1932). Đầu tiên, anh đến bệnh viện Cochin, học ở bệnh khoa của giáo sư Ferdinand Widal, lúc này đang là niềm tự hào của y học lâm sàng nước Pháp.

    Đỗ bác sĩ nội trú, Hồ Đắc Di làm phẫu thuật một thời gian ở bệnh viện Tenon, rồi về nước. Những mong đem trí thức khoa học cứu chữa đồng bào, nhưng khi anh về bệnh viện Huế, thực dân Pháp chỉ cho anh làm bác sĩ tập sự. sau bị đổi về Quy Nhơn.

    Lúc này, ở bệnh viện Phủ Doãn, và cả Đông Dương chỉ có hai bác sĩ người Pháp là Leroy des Barres (Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội) và Cartoux độc quyền phẫu thuật. Là giảng viên đại học y (chargé de cours), bác sĩ Hồ Đắc Di đấu tranh mãi mới được phép mổ xẻ. Hồi ở Paris, Hồ Đắc Di đã được gặp nhà yêu nước Nguyễn ái Quốc đến trụ sở Hội sinh viên (số nhà 15 phố Sommerard, thuộc Khu la tinh), và cùng sinh viên đi bán báo Le Paria cho quần chúng lao động.

    Làm việc dưới quyền bọn htực dân, bác sĩ Hồ Đắc Di thấy uất ức và tủi nhục: "Là thày thuốc mà tôi như là một người bệnh: người bệnh về tâm hồn".

    Nhà trí thức yêu nước đón mừng Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với nhận thức: "... Tất cả những ai trải qua những ngày nhọc nhằn, day dứt về lương tâm dưới chế độ cũ ắt sẽ lao vào cơn lốc của cách mạng, mỗi khi ánh lửa của nó rọi sáng tâm hồn. Đối với những người trí thức cũ thì sự đổi đời bắt đầu từ sự chọn lựa nơi mà lương tâm mình được yên ổn nhất" (Hồi ký).

    Sau Cách mạng thánh 8-1945, giáo sư Hồ Đắc Di gánh vác nhiều trọng trách như Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, giám đốc Bệnh viện Đồn Thuỷ, Tổng thanh tra y tế, Tổng Giấm đốc Đại học vụ. Và khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, giáo sư cùng gia đình tản cư rời khỏi thủ đô.

    Ngày 6-10-1947, Trường Đại học Y kháng chiến khai giảng tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, trường có hai giáo sư và 11 sinh viên xung phong. Một ngày sau lễ khai giảng, Pháp nhảy dù Bắc Cạn, đốt nhà giáo sư, vác loa gọi đích danh: "Bác sĩ Di, Bác sĩ Tùng về làm việc với chính phủ Pháp, sẽ được trọng đãi". Nhưng giáo sư kiên quyết: "Chết thì chết, không để bọn Pháp bắt lại" .

    Giáo sư Hồ Đắc Di thuộc lớp những bác sĩ đầu tiên của trường đại học y dưới chế độ mới. GS. là chủ tịch đầu tiên của Tổng hội Y học Việt Nam và đương nhiệm cho đến khi qua đời, nǎm 1984.

    Di sản khoa học quý giá của Giáo sư Hồ Đắc Di gồm mấy chục tiểu luận, diễn văn, bài giảng, lời phát biểu, Trường Đại học Y Hà Nội đã tập trung thành mấy tập để lưu, một số ít bài đã đăng báo.

  10. #10
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    2. GIÁO SƯ NGUYỄN VĂN HƯỞNG


    Năm sinh: 1906-1998

    Quê quán: Sài Gòn

    Công trình được tặng giải thưởng HCM:

    1. Toa căn bản, kháng sinh thảo mộc (từ năm 1954)

    2. Phương pháp dưỡng sinh (từ năm 1954)

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/4 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Lời tình trao anh - Châu Quỳnh
    Gửi bởi NhânBáchKhoa trong mục V-Music
    Trả lời: 3
    Bài cuối: 24-04-2006, 09:39 PM
  2. Tình Nồng Trao Em - Tô Chấn Phong
    Gửi bởi ot_khong_cay trong mục V-Music
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 28-06-2005, 05:06 AM
  3. Diễn đàn trao đổi phương pháp học và thi K49
    Gửi bởi FINALFANTASYFAN trong mục GIẢNG ĐƯỜNG ĐẠI CƯƠNG
    Trả lời: 2
    Bài cuối: 18-12-2004, 06:22 PM
  4. Trao đổi về JavaScript
    Gửi bởi toi yeu CNTT trong mục Lập Trình
    Trả lời: 2
    Bài cuối: 13-04-2004, 12:33 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube