User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/5 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 48

Chủ đề: Nhìn lại lịch sử

  1. #1
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định Nhìn lại lịch sử

    Nguyễn Thị Lộ với chuyện "Rắn báo thù" - lịch sử và huyền thoại


    Chung quanh nhân vật Nguyễn Thị Lộ và chuyện "Rắn báo thù" có tới sáu dị bản khác nhau. Bài viết sau đã bóc tách huyền thoại với lịch sử và đánh giá sự huyền thoại hóa ở đây.

    Truyện bà Nguyễn Thị Lộ với truyện Rắn báo thù

    Chúng tôi sưu tầm được qua sách vở sáu bản chép về nhóm truyện trên. Trong đó có một bản chính là bản nảy nở phong phú nhất và năm dị bản.

    Bản chính của A.Landes và Ức Trai di tập (1) (Tóm tắt)

    - Rắn mẹ bị cụ đồ Nhị Khê giết mất con, nhỏ ba giọt máu trên sách cụ đồ, biến thành Nguyễn Thị Lộ để trả thù.

    - Cô gái bán chiếu gon Nguyễn Thị Lộ gặp Nguyễn Trãi (cháu của cụ đồ Nhị Khê), họa thơ với ông.

    - Nguyễn Trãi lấy Nguyễn Thị Lộ làm thiếp, đưa nàng vào phủ.

    - Vua bị bệnh đau lưỡi, Thị Lộ đề nghị vua thè lưỡi ra để chữa. Lộ cắn vào lưỡi vua (được hiểu là tiêm nọc độc).

    - Vua chết ngay không kịp kêu một tiếng.

    - Thị Lộ bị tội trảm quyết, biến thành rắn, lội xuống nước đi mất.

    - Vợ người lính để sổng Lộ được Nguyễn Trãi nhổ nước bọt vào tay, rùng mình có mang đẻ ra Nguyễn Anh Vũ, người con duy nhất sót lại của Nguyễn Trãi, sau vụ án chu di tam tộc.

    - Anh Vũ làm quan to, đi sứ Trung Quốc, đi thuyền trên hồ Động Đình.

    - Một con rắn khổng lồ (được hiểu là hóa thân của Nguyễn Thị Lộ) nổi lên đuổi theo, hòng làm lật thuyền.

    - Anh Vũ hy sinh để cứu đoàn sứ bộ, cầm dao nhảy xuống hồ.

    - Vua Trung Quốc sai pháp sư cao tay đến giết được rắn, mổ bụng lấy xác Anh Vũ chôn cất chu đáo và lập đền thờ bên hồ.

    Dị bản 1 của Sử Nam chí dị ( Tóm tắt)

    - Nguyễn Trãi nằm mộng thấy một người đàn bà xin cứu mạng cho 12 mẹ con. Sau đó có lệnh vua đòi, chưa xem xét được.

    - Lúc về, được biết người nhà đã diệt một ổ rắn có 12 trứng.

    - Đêm, khi ông đọc sách có một con rắn nhỏ máu xuống sách, vào chỗ chữ "đại" (nghĩa là đời), thấm qua ba tờ.

    - Rắn hóa thành Nguyễn Thị Lộ, bán chiếu, gặp Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi lấy Thị Lộ làm nàng hầu.

    - Vua đi tuần thú ghé vào nhà Nguyễn Trãi khi ông đi vắng.

    - Thị Lộ pha trà cho vua, lén nhả nước bọt vào chén trà.

    - Vua uống, chết ngay.

    - Nguyễn Trãi tự luận án đáng tru di tam tộc và uống thuốc độc tự tử.

    - Thị Lộ bị đóng cũi sắt dìm xuống sông, hóa rắn bơi đi.

    - Một người vợ bé của Nguyễn Trãi đang có mang, bỏ trốn, sau đẻ ra Anh Vũ.

    - Anh Vũ được vua Nhân Tông đón về phong chức tước, ban bổng lộc.

    Dị bản 2 truyện Sự tích về chùa Thiên Tượng (Tóm tắt)

    - Một cụ đồ sai học trò vỡ đám đất hoang để dựng nhà học.

    - Cụ nằm mơ thấy một bà mẹ dắt 5 con đến xin khoan thư vài bữa.

    - Khi cụ ra đám đất thì học trò đã giết 5 rắn con và làm bị thương rắn mẹ.

    - Đêm, rắn mẹ bò vào nhà, nhỏ một giọt máu lên sách cụ đồ đúng vào chữ tộc, thấm qua 3 tờ giấy.

    - Sau đó vợ cụ đồ đẻ được một cô gái xinh đẹp. Cô lấy làm lẽ quan huyện, học trò cũ của cụ.

    - Cô gái giết chết người vợ cả quan huyện rồi trốn đi. Cả nhà cụ đồ bị kết án tử hình.

    - Cô gái lên chùa dan díu với chú tiểu, chẳng bao lâu chết cả hai .

    - Quan huyện mắc bệnh nguy kịch, người nhà đến cầu xin sư chùa Thiên Tượng. Sư cho bùa và bảo đào mả chú tiểu lên.

    - Khi đào lên, không thấy xương cốt mà thấy 2 con rắn to lạ thường, xúm lại đánh chết. Quan huyện dần khỏi bệnh.

    Dị bản 3 truyện Phương Chính Học, Trung Quốc (Tóm tắt)

    - Ông nội của Phương Chính Học (đời Nguyên) mất, người nhà đào huyệt để chôn.

    - Cha Phương Chính Học nằm mơ thấy một bà già xin thư thả để kịp dời đi một chỗ khác.

    - Hôm sau những người đào huyệt thấy một ổ rắn nhiều con, bèn đánh chết.

    - Mẹ Phương Chính Học đang có mang thấy một luồng hắc khí bay vào mình.

    - Khi ra đời Phương Chính Học có lưỡi giống lưỡi rắn.

    - Về sau Phương Chính Học bị vạ diệt tộc. Đó là do đàn rắn thác sinh vào ông để báo thù.

    Dị bản 4, truyện Ngô Trân, Trung Quốc (Tóm tắt)

    - Ngô Trân làm quan đời Tống, ra lệnh đốt khu rừng rậm ở Kim Bình.

    - Bỗng một bà già dắt con đến cửa dinh kêu xin cho thư thả để kịp dời chỗ.

    - Ngô Trân mắng đuổi cụ già, giục quân cứ đốt rừng.

    - Hôm sau lính báo có hai con rắn bị đốt chết.

    - Một luồng hắc khí bay vào, con dâu Ngô Trân lúc ấy đang có mang.

    - Người con dâu đẻ ra Ngô Hy. Về sau ông này bị án diệt tộc(2).

    Dị bản 5, truyện Chu Tuệ và Kiều Oanh, Trung Quốc (Tóm tắt)

    - Chu Tuệ, một đại học sĩ đời Minh, bị vua không tin dùng, trở về quê Hàng Châu ở gần sông Tiền Đường.

    - Ông nằm mơ thấy một người đàn bà đẹp đến xin hoãn việc dọn vườn để mẹ con kịp thu xếp.

    - Bọn đầy tớ dọn vườn giết mất 5 con rắn con.

    - Đêm, một con rắn bò trên xà há mồm nhỏ một giọt máu lên sách, thấm qua 3 trang giấy.

    - Ngày xuân ông du ngoạn bên sông, gặp cô gái bán hoa xinh đẹp, hai người xướng họa.

    - Chu Tuệ cưới Kiều Oanh làm thiếp.

    - Thái tử đi qua ghé thăm, Chu Tuệ mở tiệc linh đình. Kiều Oanh hầu rượu và xướng họa cùng với Thái tử.

    - Về khuya thực khách và Chu Tuệ đều rút lui, chỉ còn Thái tử và Kiều Oanh.

    - Sáng sau người ta thấy Thái tử đã chết cứng lúc đó có Kiều Oanh trong phòng.

    - Chu Tuệ bị tru di tam tộc, 100 năm sau được minh oan(3).

    Thực tế lịch sử

    Bà Nguyễn Thị Lộ là một người tài hoa, giỏi văn chương, có đạo đức, là tiểu thiếp của Nguyễn Trãi, được vua Lê Thái Tông mến: "Vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ. Người rất đẹp, văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh"(4).

    Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), vua Thái Tông đi duyệt binh ở huyện Chí Linh, vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Lúc nhà vua rời Côn Sơn, bà Lộ được lệnh theo vua về Thăng Long.

    Ngày 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (tức ngày 7-9-1442), về đến Lệ Chi Viên (tục gọi là Trại Vải), ở làng Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, vua bị đột tử. Triều đình buộc tội bà đầu độc vua và kết án tru di tam tộc cùng với Nguyễn Trãi.

    Năm 1464, Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, phục hồi danh vị chức tước, sưu tập tác phẩm, ưu đãi cho con cháu còn sót lại.

    Về việc huyền thoại hóa

    Các nhân vật lịch sử thường được huyền thoại hóa. Họ thường được thụ thai thần kỳ, sinh đẻ thần kỳ. Người mẹ được tiếp xúc với các linh vật, rồng rắn, với ánh sáng kỳ diệu, do đó thụ thai sinh ra người kỳ tài. Khi lớn lên, họ được thần linh phù hộ, được tặng vật thiêng (gươm, sách, ngọc...). Khi qua đời họ tiếp tục cứu đời bằng cách âm phù cho những người hiền tài.

    Xu hướng chung của hiện tượng huyền thoại hóa là tô đậm thêm bản chất của nhân vật lịch sử chủ yếu là tôn vinh nhân vật này, theo cách nhìn nhận của nhân dân, mà cách nhìn nhận này phù hợp với lịch sử khách quan, phù hợp với bước tiến lên của xã hội.

    Chúng ta thử xét việc huyền thoại hóa bà Nguyễn Thị Lộ theo xu hướng nào. Người ta đã biến bà thành hiện thân của một con rắn độc, trả thù Nguyễn Trãi một cách cay độc, tàn hại và dai dẳng. Điều này một mặt bôi đen một nhân vật lịch sử có tài năng, có phẩm chất tốt đẹp, mà triều đình đã giết hại oan uổng thảm khốc; mặt khác đổ tội cho họ Nguyễn sở dĩ bị thảm sát vì đã giết lũ rắn, không phải do âm mưu nham hiểm đen tối của vua quan nhà Lê mà chủ mưu là Lê Thận và Nguyễn Thị Anh, và nhờ vậy đã rửa sạch tinh bàn tay đẫm máu của triều đình nhà Lê.

    Đây hoàn toàn không phải quan điểm khách quan lịch sử của nhân dân và có khả năng là một phiên bản của truyện Trung Quốc, Chu Tuệ - Kiều Oanh.

    Câu chuyện đã dựa vào và xuyên tạc một cổ tích có ý nghĩa tích cực. Truyện Rắn báo thù, có cả ở Trung Quốc và Việt Nam, có chủ đề khuyên người ta không được ác với loài vật, đặc biệt là không giết hại hàng loạt động vật non.

    Trên đây là tình tiết rắn báo thù. Riêng về tình tiết cô gái đẹp họa thơ cũng cần phải xem xét lại. Trong dị bản 5, truyện Chu Tuệ và Kiều Oanh cũng có việc họa thơ:

    Ngọc nhân hà xứ lai
    Vấn quân hoa hữu tồn
    Niên canh đa thiểu hỷ
    Phu tử nãi tại môn

    Dịch (theo Minh Giang):

    Người ngọc từ đâu tới
    Hoa tươi hết hay còn
    Xuân xanh chừng bao tuổi
    Có chồng chưa, mấy con

    Cô gái bán hoa Kiều Oanh họa thơ:

    Ngã tại Hàng Châu, tại Mỹ Hoa
    Hà quân vấn ngã hữu hoàn tồn
    Phu khuyết, hà tử tại gia môn.

    Dịch (theo Minh Giang):

    Thiếp tại Hàng Châu bán hoa tươi
    Cớ sao chàng hỏi hết hay còn
    Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ
    Chưa có chồng, sao lại có con.

    Rõ ràng đây chỉ là một dị bản gần gũi với thơ của cô gái bán chiếu Tây Hồ.

    Đề nghị

    Lê Thánh Tông đã không một lời minh oan cho bà, mặc dầu bà đã cứu mạng cho mẹ con ông, chúng ta không thể phụ họa với kẻ mang theo thành kiến của Lê Thận, Nguyễn Thị Anh buộc cho bà là rắn độc, để xóa án cho thủ phạm. Như vậy là dang tay giết bà hai lần. Đề nghị từ nay đuổi hình bóng con rắn ra khỏi cuộc đời nhà thơ - Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ.

    Mô-típ họa thơ không có ý đồ xấu có thể để lại, nhưng cũng chưa nên tin là hoàn toàn có thật.

    --------------------------------
    (1) Theo sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi, tập IV truyện thứ 158. Tác giả đặt tên là "Rắn báo oán".
    (2) Năm bản trên đây ghi theo Nguyễn Đổng Chi, sách đã dẫn.
    (3) Tóm tắt theo Tham luận của Minh Giang, tại Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, tổ chức ngày 19-12-2002.
    (4) Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội, H., 1998, tập II, tr.352.

    Hỏi Ả Bán Chiếu

    (Tục truyền xem Công dư tiệp ký, Sự tích Nguyễn Trãi - Bản dịch của Ed, Nordemann trong Chretomathie, annamite tr.25tđ) Nguyễn Trãi một hôm đi chầu về, giữa đường, gặp một người con gái đẹp gánh chiếu bán. Ông bèn đọc bỡn bài thơ này. Người con gái họa lại. Ông thấy người ấy thông minh, hỏi tên là gì; người ấy nói tên là Thị Lộ, ông mới lấy làm nàng hầu).

    Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
    Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
    Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
    Đã có chồng chưa, được mấy con ?

    Bài họa lại

    Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon,
    Nỗi chi ông hỏi hết hay còn ?
    Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ,
    Chồng còn chưa có, có chi con !

    (Báo Nhân dân)


    Việc nước là việc lớn nhất
    Nhưng việc giữa người với người không thể nhỏ hơn

    (Lý Chiêu Hoàng nói với Trần Thủ Độ)



    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA MÃI MÃI LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA BAO GIỜ VÀ KHÔNG BAO GIỜ LÀ CỦA BẤT KỲ MỘT QUỐC GIA NÀO KHÁC NGOÀI VIỆT NAM

  2. Tớ cảm ơn chutichhtcbk đã chia sẻ.


  3. #2
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Rồng Việt Nam, quyền lực và vẻ đẹp








    Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử (bệ rồng, mình rồng), là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh "long, lân, quy, phụng". Dân tộc ta có truyền thuyết về con Rồng từ rất sớm bởi nó gắn liền với mây, mưa, với việc trồng lúa nước, với sự tích "con Rồng cháu tiên"...

    Mỗi người dân Việt Nam đều mang khái niệm từ thời mở nước cha rồng mẹ tiên, với huyền sử Hùng Vương con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Hùng Vương đã dạy dân tục xăm mình hình Rồng ở ngực, bụng và hai đùi (thái long) để không bị loài thuỷ quái xâm hại. Rồng tượng trưng cho thần linh, mây, mưa, sấm chớp. Hình tượng Rồng còn xuất hiện trong văn hoá Đông Sơn, Âu Lạc với những hình trang trí chữ S và tục thờ tứ pháp.

    Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh "rồng bay lên" Thăng Long tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn.

    Triều Lý dựng đô, vua Thái Tông cho mở hàng quán chen chúc sát tới đền rất huyên náo. Vua thấy đền cổ bèn sửa sang lại làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió Bắc rất to, các nhà bên đều đổ hết, chỉ còn đền thờ. Vua mừng nói: "Đó là thần Long Đỗ coi việc nhân gian". Hình Rồng thời Lý được trang trí ẩn hiện trong hình lá đề, cánh sen giỡn sóng, ở bệ tượng Đức Phật Adiđà, Quan Âm... Rồng thời Lý có thân hình tròn trặn, uốn lượn nhiều khúc, dài và nhỏ dần về phía đuôi, có dáng dấp gần gũi với loài rắn nhưng đầu Rồng có tỷ lệ cân đối so với thân, chân nhỏ, mảnh, thường là 3 ngón. Rồng thời Lý nhẹ nhàng, thanh thoát. Những khúc uốn hình chữ S gần như không thể thiếu. Rồng được trang trí trong chùa tháp, cung điện có đầu ngẩng cao, mồm há rộng giỡn ngọc, mào hình ngọn lửa hướng về phía trước, tai bờm, râu rồng vút nhỏ dần chuyển động như bay lượn tạo nên bố cục chặt chẽ. Nhìn tổng thể, Rồng Lý tạo ra vẻ đẹp thẩm mỹ thuần khiết, cách điệu sống động như một tuyên ngôn độc lập có giá trị đến ngày nay về mỹ thuật của Rồng Đại Việt.

    Rồng thời Trần tuy có thừa kế những yếu tố cơ bản của thời Lý nhưng đã có những biến đổi về chi tiết. Dạng tự chữ "S" dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.

    Rồng thời Lê thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), qui (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và phượng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).

    Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.

    Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng.

    Hình tượng Rồng còn huyền bí về long mạch, thuyết phong thuỷ nơi đất phát đế vương mộ táng. Chuyện mộ táng hàm Rồng, chúa Trịnh phát tích, sách Trung Hưng Thực Lục viết: "Ông già Tống Sơn giỏi phong thuỷ thấy Trịnh Liễu cầy ruộng lại siêng học hành, đức hạnh bèn giúp đặt mộ nơi huyệt khí quý xứ Nanh Lợn. Đêm ấy trời đất chuyển động, mưa gió nổi to... trên mộ có vầng sáng ánh trăng, xa trông có Rồng đen ấp lên trên. Tống Vương nói: "Rồng vàng là đế, rồng đen là vương...". Quả nhiên, đến 4 đời sau thì nhà Trịnh phát vượng...".

    Rồng tượng trưng cho sự phồn vinh và sức mạnh của dân tộc, nhanh chóng trở thành hình tượng biểu hiện uy quyền của Nhà nước phong kiến, chỉ dùng nơi trang trọng nhất của cung vua, hay những công trình lớn của quốc gia. Đã có thời triều đình phong kiến chạm khắc hình rồng trên nhà cửa hay đồ dùng gia đình. Nhưng sức sống của con Rồng còn dẻo dai hơn khi nó vượt ra khỏi kinh thành, đến với làng quê dân dã. Nó leo lên đình làng, ẩn mình trên các bình gốm, cột đình, cuộn tròn trong lòng bát đĩa hay trở thành người gác cổng chùa. Rồng còn có mặt trong những bức tranh hiện đại phương Đông, biểu hiện một mối giao hòa giữa nền văn hóa xa xưa bằng những ý tưởng mới mẻ kỳ lạ. Rồi con Rồng lại trở về với niềm vui dân dã trên chiếc bánh trung thu của mọi nhà.

    Quả thật, hình tượng Rồng rất thân thiết trong tâm thức người dân Việt Nam. Các triều đại vua chúa xưa đưa múa Rồng truyền thống trở thành loại hình múa nghệ thuật (múa tứ linh Lê-Trịnh). Rồng trong đời sống dân gian được thể hiện rất phong phú: có múa Rồng trên sân đình trong lễ hội, trò chơi trẻ con Rồng rắn lên mây, hình ảnh Rồng xuất hiện trong tranh dân gian Đông Hồ... Trên đất nước cũng có nhiều địa danh tên Rồng như: Vịnh Hạ Long, cầu Hàm Rồng, sông Cửu Long...

    Hiện nay, hình tượng con rồng tuy không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật... Dù ở bất cứ thời điểm nào, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.

  4. Tớ cảm ơn chutichhtcbk đã chia sẻ.


  5. #3
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Quyền lợi của người phụ nữ trong BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC



    Năm 1483, vua Lê Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật, các pháp lệnh đã ban bố và thi hành trong các triều vua thời Lê sơ, soạn định lại, xây dựng lại thành một bộ luật hoàn chỉnh. Đó là bộ "Quốc triều hình luật" hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức. Luật Hồng Đức nói riêng và pháp luật thời Lê nói chung mang đặc thù của pháp luật Đại Việt, phản ánh chân thực và sâu sắc tình trạng xã hội nước ta thế kỷ XV và sau này.

    Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong hai chương "Hộ hôn" và "Điền sản". Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ - điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm. Có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình.

    Người vợ, trên lý thuyết, bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng. Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ - chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ. Cũng giống như chồng, người phụ nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc. Trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ nam, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà"(1). Điều 23 trong "Quốc triều hình luât" quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng. Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội.

    Trong hôn nhân, người phụ nữ cũng có thể yêu cầu ly hôn (đâm đơn kiện).

    Điều 322 - "Quốc triều hình luật" ghi: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ vợ, đem thưa quan, cho ly dị". Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với người chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, săn sóc vợ trong 5 tháng (1 năm - nếu vợ đã có con). Nếu vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly hôn. Nghĩa là, người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì người vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình. Quy định này không có trong bất kỳ bộ luật nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luật trước hay sau triều Lê. Ngay cả khi luật bắt buộc người chồng phải bỏ vợ ngoài ý muốn chủ quan, điều 310 quy định "Vợ, nàng dâu đã phạm vào điều "thất xuất" mà người chồng ẩn nhẫn không bỏ thì phải tội biếm tùy theo nặng nhẹ". Tuy nhiên, sẽ không thể ly hôn được nếu như khi phạm vào điều thất xuất người vợ đang ở trong ba trường hợp (tam bất khứ): đã để tang nhà chồng 3 năm; khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về. Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không được đặt ra. Khi ly hôn, con cái thường thuộc về chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con. Điều 167 - Hồng Đức thiện chính thư - quy định rõ hình thức thuận tình ly hôn: Giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp đồng, người vợ và người chồng mỗi bên giữ một bản làm bằng. Vậy là, bên cạnh sự ưng thuận của cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rất quan trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là một thành tố được nhà lập pháp chú ý đến.

    Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi ly hôn hoàn toàn chấm dứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm.

    Thông thường, nếu ly hôn không do lỗi của người vợ thì phần tài sản riêng (gồm cả điền sản và tư trang), người vợ có quyền mang về nhà mình. Trong trường hợp có lỗi; thường thì tự ý người vợ không đem theo tài sản hoặc trong một vài trường hợp luật định người vợ buộc phải để lại tài sản đó cho chồng, "người vợ mà đi gian dâm, tài sản phải trả về cho chồng"(2).

    Ngoài ra, việc phân chia và thừa kế tài sản còn tùy thuộc vào việc vợ chồng có con hay không có con. Pháp luật quy định cụ thể ở các điều 374, 375 và 376 (Quốc triều hình luật). Tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung). Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung. Khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.

    Còn khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) tài sản có do bố mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau, một phần dành cho gia đình bên chồng/vợ để lo việc tế lễ (bố mẹ bên chồng/vợ hoặc người thừa tự bên chồng/vợ giữ). Một phần dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu). Khi người vợ/chồng chết, thì phần tài sản này giao lại cho gia đình bên chồng.

    Đối với tài sản do hai người tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau: một phần dành cho vợ/chồng làm của riêng; một phần dành cho vợ/chồng chia ra như sau: 1/3 dành cho gia đình nhà chồng/vợ để lo việc tế lễ; 2/3 dành cho vợ/chồng để phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng, khi chết giao lại cho gia đình bên chồng. "Quốc triều hình luật" không nhắc tới động sản, chỉ đề cập tới điền sản, theo Vũ Văn Mẫu: "Điểm này cũng dễ hiểu vì trong một nền kinh tế trọng nông, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị". Song trong "Hồng Đức thiện chính thư" (điều 258-259) đã không gạt hẳn các động sản ra ngoài thừa kế. "Đến như nhà cửa chỉ có thể chia làm hai, người sống được một phần làm chỗ ở, người chết được một phần làm nơi tế lễ". "Còn đến của nổi, phải để cung vào việc tế tự và theo lệ dân trả nợ miệng, còn thừa bao nhiêu cũng chia cho vợ con". "Của nổi" ở đây được hiểu là vàng, bạc, lụa, vải, thóc lúa, giường chiếu, đồ sứ, mâm thau... Như vậy, pháp luật đã ghi nhận một cách bình đẳng sự đóng góp của người vợ trong tài sản chung của vợ chồng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản do hai vợ chồng làm ra.

    Trong quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại, pháp luật nhà Lê không phân biệt con trai - con gái. Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con (điều 388); "người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng" (điều 391). "Ruộng hương hỏa giao cho con trai, cháu trai, nếu không có thì giao cho cháu gái ngành trưởng".

    Về việc áp dụng hình phạt "ngũ hình" (3), có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà: không áp dụng hình phạt "trượng" cho đàn bà và áp dụng riêng từng loại tội "đồ" cho đàn ông và đàn bà (điều 1 - Quốc triều hình luật).

    Tóm lại, bộ luật Hồng Đức có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Pháp luật ấy về cơ bản được duy trì để thi hành ở những thế kỷ sau, cho đến khi nhà Nguyễn ban hành bộ luật Gia Long thì uy tín, tinh thần những điều khoản luật Hồng Đức vẫn còn sống trong dân gian. Bộ luật ấy đã có những quy định tương đối tiến bộ, công nhận cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến một số quyền lợi và phần nào bảo vệ họ đối với thái độ "trọng nam khinh nữ"... Có lẽ vì thế mà chúng ta mới thấy xuất hiện trong lịch sử những Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan... mạnh mẽ, mãnh liệt, khát khao bày tỏ tình cảm, mà cũng sâu sắc, trầm lắng biết bao! Họ lên tiếng cho người phụ nữ. Họ đấu tranh cho người phụ nữ... Và cho đến bây giờ, dưới thời đại Hồ Chí Minh, người phụ nữ đã bình đẳng với nam giới, không còn sự "trọng nam khinh nữ" nữa, quyền lợi của người phụ nữ đã được công nhận và bảo vệ như nam giới, thì chúng ta mới thấy được những quyền lợi của người phụ nữ xưa vẫn còn quá ít ỏi, họ còn bị gò bó, ràng buộc, chi phối bởi biết bao nhiêu nguyên tắc đạo đức phong kiến, những "tam tòng, tứ đức"... Tuy nhiên, phải thấy rằng, nhà nước thời Lê đã bắt đầu nhận thấy vai trò lớn lao của người phụ nữ trong sản xuất và trong cuộc sống. Đó là điều tiến bộ trong các triều đại phong kiến Việt Nam.

    -------------------
    Tạp chí Xưa và nay



  6. Tớ cảm ơn chutichhtcbk đã chia sẻ.


  7. #4
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Tục xăm mình của người Việt cổ



    Một trong những tục cổ xưa nhất của người Việt là xăm mình. Tục này kéo dài mãi cho đến cuối thế kỉ thứ XIII, đầu thế kỉ thứ XIV mới chấm dứt. Có người nói rằng, bởi tục này mà tên nước đầu tiên của người Việt là Văn Lang. Hẳn nhiên, cách giải thích ấy chưa đủ sức thuyết phục, nhưng dẫu sao thì tục xăm mình cũng là một trong những tục cổ nhất và tồn tại thuộc vào hàng lâu dài nhất ở nước ta. Về nguyên nhân xuất hiện của tục này, sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết như sau:

    "Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:

    - Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.

    Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy.

    ở buổi đầu mở nước, mọi thứ vật dụng của dân chưa đủ. Dân phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ ống làm chiếu, lấy gạo nếp nấu rượu, lấy cây quang lang làm thức ăn, lấy cầm thú cá tôm làm mắm, lấy củ gừng làm muối, đao canh thuỷ chủng. Đất sản nhiều gạo nếp. Lấy ống bương thổi mà ăn. Làm nhà sàn mà ở để tránh cọp, chó sói làm hại. Cắt tóc ngắn để tiện vào rừng. Con mới vừa sinh ra thì lấy lá chuối lót cho nằm. Có người chết thì gõ vào cối không, cho xóm giềng nghe thấy để kéo nhau đến giúp. Con trai con gái lấy nhau, trước hết, dùng gói muối làm lễ hỏi rồi sau đó mới giết trâu, giết dê để ăn mừng thành vợ thành chồng. Cùng nhau đem cơm nếp vào buồng để ăn, vợ chồng mới thành thân, vì lúc đó trầu cau chưa có".

    Lời bàn: Chinh phục thiên nhiên vùng đồng bằng sông nước là cả một quá trình lâu dài, phức tạp và cực kì khó khăn. Hình ảnh những con thuồng luồng gây thương tích cho dân có lẽ chính là một trong những biểu hiện của sự phức tạp và cực kì khó khăn đó.

    Dân gặp khó thì kêu vua, vua ân cần chỉ cho dân tất cả những gì mình biết. Lời chỉ dẫn ấy, đúng sai thế nào thì ta đã quá rõ, nhưng điều quan trọng hơn lại chính là ở chỗ, trên dưới như cha con một nhà, nghĩa tình đằm thắm biết là bao.

    Có thể nói, tục xăm mình phát triển mạnh mẽ nhất là ở thời Trần. ở thời nay, tục xăm mình có ý nghĩa như ý chí sắt đá, quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Trong khi quân đội thời Trần đều thích lên cánh tay hai chữ "Sát Thát", thì nhân dân Đại Việt, nhiều người, dù là người đã có con cháu, cũng xăm lên bụng những chữ "Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc" thể hiện tinh thần vì việc nghĩa liều thân, báo đền ơn nước. Xăm mình, thích chữ vừa là truyền thống, vừa là thi hành lời thề thiêng liêng, vừa thể hiện một tinh thần thượng võ. Đồng thời cũng là một thái độ rõ ràng với quân địch (nhất là khi bị bắt): tự nhận mình là kẻ tử thù với chúng.

    Ngoài ra, tục thích chữ, xăm mình còn biểu hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, biểu hiện ý thức tiếp nối truyền thống, không quên gốc Tổ, biểu hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu cho nền độc lập của dân tộc.

    Vì thế, tục xăm mình thời Trần rất phổ biến, đạt đến trình độ nghệ thuật, và đã có thợ chuyên vẽ hình vì với người dân thời đó xăm mình cũng là hình thức trang điểm trên thân thể phản ánh quan niệm về cái đẹp của người đương thời.

    Bấy giờ, hễ người Việt là xăm mình, hễ ai xăm mình là người Việt. Bạn thích hay không thích tục xăm mình, đó là việc riêng của bạn, nhưng, trông lại ngàn xưa, xin bạn hãy ghi nhận cho rằng, chính tục ấy đã góp phần làm cho Hán và Việt biệt lập rõ ràng, và cũng chính nhờ sự biệt lập rõ ràng ấy, giờ này, bạn mới có thể ung dung mà nói: non sông ta...

    Đời sống của cổ nhân ra sao, đoạn ghi chép ngắn ngủi trên kể cũng đã nói khá rõ. Kính thay, một thời chắt chiu cần mẫn, thương thay, một thời gian truân ! Đi giữa giang sơn gấm vóc, xin chớ vô tâm quên tổ tiên ngàn đời.



  8. Tớ cảm ơn chutichhtcbk đã chia sẻ.


  9. #5
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Bia tiến sĩ ở văn miếu Quốc Tử Giám




    Văn Miếu Thăng Long được lập vào năm 1070 dưới thời vua Lý Thánh Tông. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép, năm Canh Tuất "Mùa thu, tháng Tám, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối vẽ tượng Thất thập nhị hiền". Cũng theo sách trên, năm Bính Thìn (1076), Quốc Tử Giám được xây dựng. Những sự việc trên đánh dấu việc Nho giáo được chính thức tiếp nhận, cũng là mốc đánh dấu nền giáo dục và khoa cử Nho học ở nước ta bắt đầu phát triển.

    Tuy nhiên phải đến thời Lê Sơ thì Nho giáo mới chiếm vị trí độc tôn và nền giáo dục, khoa cử Nho học mới đạt được những thành tựu rực rỡ.

    Năm 1442, dưới thời Lê Thái Tông, khoa thi tiến sĩ chính thức của nhà Lê Sơ được tổ chức và cũng từ năm này triều đình ban lệ khắc tên những người đỗ đại khoa vào bia đá dựng trong Văn Miếu. Mặc dù vậy, phải đến năm Hồng Đức (Lê Thánh Tông) thứ 15 (1484) việc xây dựng bia mới được thực hiện. Hiện nay tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám còn lại 82 tấm bia khắc tên những người đỗ tiến sĩ của 82 khoa thi, từ khoa năm 1442 dưới thời Lê Thái Tông đến khoa năm 1779 dưới thời Lê Hiển Tông. Số tiến sĩ được khắc trên 82 tấm bia đó là 1306 người. Số bia trên được dựng trong nhiều đợt với số lượng nhiều là vào năm 1484 (10 bia), 1653 (25 bia), 1717 (21 bia), còn lại rải rác trong nhiều năm. Số bia hiện còn so với số khoa thi không đầy đủ (82 bia/124 khoa thi). Bia đầu tiên khắc tên những người đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1442 do Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung (tiến sĩ khoa Kỷ Sửu 1469, người sau này được Lê Thánh Tông phong làm Tao Đàn Phó Nguyên soái) soạn, trong đó có câu: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh. Nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy". Đây được coi như tuyên ngôn của nền giáo dục và khoa cử truyền thống và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày hôm nay.

    Người Hà Nội đầu tiên và thứ hai của cả nước, được khắc tên trên bia tiến sĩ là trạng nguyên Nguyễn Trực. Ông đỗ bảng nhãn khoa thi năm 1442, nguyên quán xã Đại Lan, huyện Thanh Đàm.(nay là thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì) Điều thú vị là trong tấm bia cuối cùng khắc tên tiến sĩ khoa thi năm 1779 đời Lê Hiển Tông thì có tới gần... một nửa là người Hà Nội. Khoa thi này không có tam khôi, chỉ có hai người đỗ đệ nhị giáp và 13 người đỗ đệ tam giáp, tổng cộng là 15 người. Những tiến sĩ Hà Nội khoa thi này là Phạm Quý Thích (phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, nay thuộc Hàng Vải, Hoàn Kiếm), Nguyễn Hàn (xã Phú Thị, Gia Lâm), Nguyễn Đình Thạc (xã Đông Ngạc, Từ Liêm), Vũ Dần Lượng (phường Yên Thái, huyện Quảng Đức, nay là phường Bưởi, Tây Hồ) và Trần Huy Liễn (xã Phú Thị, Gia Lâm). Như vậy, riêng làng Phú Thị đã có hai người.

    Bia tiến sĩ Văn Miếu Quốc Tử Giám là một di sản văn hoá đặc biệt quý giá, có giá trị trên nhiều phương diện. Đó là dấu ấn của một phần tinh hoa trí tuệ và truyền thống hiếu học Việt Nam, là tấm gương muôn đời về tinh thần khổ luyện thành tài của nhiều thế hệ học trò.

  10. #6
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Nạn đói 1945






    Để đến được mùa Thu tháng Tám 1945 lịch sử, dân tộc ta còn phải gánh chịu nhiều đau khổ lắm. Có lẽ ít ai trong chúng ta giờ đây đã phải từng nếm trải cái khổ đau rất "con người" là "nạn đói".

    Cùng với cả miền Bắc Việt Nam lúc đó, cuối năm 1944, đầu năm 1945, Thái Bình cũng đã phải gánh chịu "quốc nạn" này. Tôi chỉ xin thuật lại những mẩu chuyện "mắt thấy tai nghe"trong những tháng ngày đen tối ấy.

    Tháng 11 năm ấy, tiết trời đặc biệt rét đến sớm hơn mọi năm, khiến con người ta ai cũng thấy đói "mọi lúc mọi nơi", chỉ có lúc ních vào thật no căng bụng người ta mới cảm thấy đỡ lạnh. Không phải vô lý mà ông bà ta ghép hai từ "đói" và "rét" đi chung với nhau. Càng rét người ta lại càng thấy đói, càng đói người ta lại càng thấy rét, cái vòng luẩn quẩn ấy bao vây dân nghèo ngày một gay gắt hơn bao giờ hết. Thái Bình hồi ấy được mệnh danh là "vựa lúa" của miền Bắc với những cánh đồng "cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi". Nhưng thật trớ trêu, chính ở trên mảnh đất ấy, cái đói đến với tầng lớp "lê dân" mới thật là dữ dội kinh khiếp nhất, vượt quá sức chịu đựng bình thường của con người. Quân Nhật thông qua chính quyền bảo hộ Pháp buộc nông dân phải nộp hết thóc lúa cho chúng để phục vụ cho lính "Thiên Hoàng", rồi lại cưỡng ép phá hoại trồng lúa trong vụ Đông Xuân năm ấy, để dành đất trồng đay làm bao công sự chiến đấu chống lại quân đồng minh. Thật là "hoạ vô đơn chí", năm đó Thái Bình bị mất trắng vụ lúa do bị hạn hán hoành hành khắp nơi, đất đai thiếu nước khô nứt nẻ ra từng mảng, từng mảng, cây trái xơ xác, ruộng vườn hoang vắng tiêu điều. Tất cả những gì ăn được người ta đã ăn hết cả rồi, khoai sắn củ còn non biến mất quá nhanh vào dạ dày lép kẹp, rồi gia súc cho mèo đều lần lượt phải "hy sinh" cho bao tử của chủ.

    Không phải mọi người đều chịu cái đói, ở thành thị, công chức, người đi buôn vẫn sống bình thường, tuy có điều vất vả, chính nông dân ở các làng mới bị đói nhiều ngày trên mảnh đất ruộng vườn của họ. Không còn gì để bỏ vào bụng nữa, người dân lam lũ từ các vùng chung quanh bắt đầu ùn ùn kéo nhau về thị xã trung tâm. Nhiều huyện như Kiến Xương, Tiền Hải người ta kiếm ăn bằng mọi cách để rồi ngã chết ra cả nhà. Những người còn sức đi được thì đi thành từng đoàn, họ lê bước trên những nẻo đường về thị xã với bộ quần áo rách rưới, có người gần như trần truồng vì đã bán những bộ quần áo lành lặn để đi đổi lấy gạo ăn. Cái đói cái rét cắt thịt như thúc giục họ tiến bước về phía trước. Những người nào đói quá thì lả đi gục xuống để rồi không bao giờ dậy nổi nữa. Hai bên đường, thây người chết đói ngã ra như rạ, lại càng thúc giục họ đổ về thị xã Thái Bình bất chấp một vành đai lính tráng bao quanh khu vực thị xã ngăn không cho họ vào. Tôi nhớ rất rõ lúc ấy là vào khoảng gần tết, trời mưa phùn âm ỉ kéo dài suốt cả tuần lễ khiến cho cái rét lạnh căm căm càng thúc đẩy làm tăng cái đói cồn cào xé ruột xé gan, ăn được một chút là thấy đói ngay, lúc nào cũng cảm thấy đói.

    Ở các chợ trong thị xã người dồn về rất đông mặc dù bị lính xua đuổi rất ráo riết, nhưng sáng nào người ta cũng hốt được vài ba xác chết vì đói rét, hoặc nằm ngang chợ hoặc dưới các mái hiên nhà. Lúc này tôi đang ở trọ nhà ông Hào Thuỳ để vừa dạy kèm cho con cái của ông và cũng dạy học ở trường Tư thục Pascal, hôm nào đến trường cũng nhặt được hai hay ba xác trẻ em đã chết cóng từ đêm trước, tôi cùng học trò phải mang đi chôn sau trường. Một hôm nhân có việc đi chợ Kiến Xương thì tôi bắt gặp một người đàn ông có dáng lực điền đang gánh một gánh có vẻ khá nặng, phía trên có đậy một chiếc nón lá rách. Bỗng tôi phát hiện có tiếng gì tựa như âm thanh của trẻ sơ sinh phát ra từ đôi quang gánh ấy, tôi bèn lập tức níu ông ta lại xem có phải không, thì mới biết trong đó có khoảng chục đứa bé mới sinh còn đỏ hỏn mà vài đứa đã chết. Ông ta thú thật là đã gánh chúng đến từ một làng vùng xa định đến Duyên Hà gửi cho các bà xơ từ thiện chuyên nuôi trẻ mồ côi ở đó và nhân tiện hỏi thăm tôi xem đường xá đến đó còn bao xa. Tôi hết sức phẫn nộ và bảo ông ta còn đến gần 30 cây số đường đất nữa mới đến được chỗ ấy, mà chắc chắn là khi đến nơi thì những đứa bé sẽ không còn sống nữa đâu. Vả lại ở Duyên Hà từ lâu nơi nuôi trẻ đã đóng cửa, xác trẻ con chất đống ở Duyên Hà, vì mọi nơi mang đến. Tôi liền chỉ cho ông ta gánh vào nhà của ông Lại Mân (Ông Lại Mân là nhà địa chủ giàu nhất ở Thái Bình và cũng đứng ra thu mua thóc gạo cho chính quyền lúc đó) ở đó và nói ở đó là có ông giáo gửi. Tôi tiếp tục đi đến chợ Kiến Xương thì thấy rất nhiều xác chết nằm la liệt trên sân chợ. Có một người phụ nữ đã chết không biết từ lúc nào nhưng đứa con nhỏ vẫn còn sống, đang bám vào ngực mẹ nó mà bươi bươi đôi vú một cách cuống quýt rồi nhai lấy nhai để không thôi. Sau đó vài giờ, tôi về ngang chợ thì thấy đứa bé cũng đã chết, có lẽ nó đã kịp theo mẹ nó thoát khỏi cuộc đời đau khổ rồi. Bữa nọ có dịp đi ngang qua Cầu Bo thấy có vẻ khác lạ ở đầu cầu, tôi cùng các học trò tò mò đứng nhìn xem, thì đã phát giác có khoảng ba, bốn gia đình đang ở đó, có người đang luộc thịt những người hàng xóm để ăn, xương tay xương chân vứt ngay bên cạnh! Đêm mùa đông rét mướt lạnh lẽo cũng trở nên không yên tĩnh chút nào khi hằng đêm đương ngủ, thỉnh thoảng người ta nghe tiếng ré lên của trẻ con. Phóng vội ra ngõ với cây đèn bão trên tay, mọi người sẽ bắt gặp xác đứa trẻ bị người lớn hút máu nóng với que tre cắm trong cuống họng. Đêm nào cũng có vài ba vụ như vậy mà kẻ thủ ác cũng vẫn không có người buồn bắt bớ tra cứu nữa. Cái đói kéo dài quá lâu đã khiến cho con người ta trở thành ác thú đối với ngay những đồng loại yếu ớt của mình.

    Quá đỗi bức xúc trước tai hoạ khủng khiếp của dân mình, tôi bàn bạc với các học trò và bạn bè đồng nghiệp cần phải làm ngay một việc gì đó trước khi quá muộn. Cuối cùng chúng tôi thống nhất với nhau là sẽ phân chia ra nhiều nhóm đi vận động quyên góp những nhà nào dư ăn để giúp đỡ những đồng bào sắp chết vì đói. Hồi đó vì công tác xã hội từ thiện chưa được ai biết đến nên có lẽ là lần đầu tiên trong phong trào "lá lành đùm lá rách" được phát động ở Thái Bình. Tôi đã thuyết phục được ông chủ nhà Hào Thuỳ - là một hào phú trong vùng chuyên đi thu mua gạo cho nhà nước Pháp - nơi tôi đang ở trọ trước tiên, ông đã vui vẻ đóng góp mở màn 10 tạ gạo nếp. Khởi đầu khá thuận lợi khiến thày trò chúng tôi rất phấn khởi, rồi phong trào vận động quyên góp lan rộng đến các trường khác kể các các trường công, học sinh cùng phụ huynh các em sau khi hiểu đã rất tích cực tham gia.

    Cũng gần đến tết nguyên đán rồi (đầu năm 1945) nên chúng tôi đã bàn nhau tổ chức nấu bánh chưng, thế là cả một phong trào rầm rộ được dấy lên lúc nào không biết. Nhân đây cũng xin nói là sở dĩ đề ra làm bánh chưng phát cho người nghèo đói, vì một phần là sắp đến tết, một phần là muốn dấy lên việc công tác xã hội thành một phong trào làm bánh chưng để có thể huy động được nhiều người cùng tham gia. Lúc đầu chỉ có phụ huynh học sinh, nhưng sau đó thì cả vợ con công chức toàn tỉnh kéo đến nườm nượp xin tham gia. Rồi thì, người thì góp gạo, người thì góp nếp, đậu, người khác lại góp lá dong... mọi người đã rất hăng hái đến trường chúng tôi gói bánh trong 5, 6 ngày liền.

    Cuối cùng ý đồ của chúng tôi lúc đó đã hoàn toàn thành công khi muốn công việc từ thiện có nhiều người tham gia để người có của thì góp của, kẻ góp công góp sức để ai nấy đều cảm thấy việc mình làm là có ích cho "cộng đồng". Từ đó thế là đã gây nên một không khí từ thiện trong thị xã Thái Bình mà vốn từ trước đến nay vẫn bất động và thờ ơ với cảnh đời đói rét quá thảm thương của đồng bào mình. Chiến dịch "làm và nấu bánh chưng" tính ra đã thu hút hơn 500 người gói bánh chưng tự nguyện và đã "sản xuất" được hơn 6.500 bánh mà mỗi bánh nặng ngót nghét 1 kilô. Rồi thì hàng mấy chục lò bánh xuất hiện ở sân trường chúng tôi những ngày giáp tết đáng nhớ năm ấy. Thầy trò chúng tôi cũng đã tổ chức luôn tại khu vực các lò nấu bánh một đống lửa trại lớn để cho các em học sinh vừa sinh hoạt tập thể về ý nghĩa của công tác từ thiện vừa canh bánh chín luôn thể, không khí và tinh thần của mọi người hăng hái dâng lên cao hơn bao giờ hết. Cánh nhà giáo chúng tôi cũng phấn chấn hẳn lên vì đã huy động được nhiều người tham gia vì "đồng bào mình". Sau khi công việc nấu bánh hoàn tất, "thành phẩm" của nhiều tấm lòng nhân ái đã được đem xếp gọn vào kho nhà ông Hào Thuỳ nơi tôi đang ở trọ. Đến đây thì tôi bí vấn đề mà ai cũng cho là "chuyện nhỏ", đó là việc "phân phát" cho những người đói thực sự để dân nghèo có một chút ấm lòng trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc. Dân nghèo vốn đói đã lâu nên không dễ gì giữ được bình tĩnh khi thấy cái ăn, để chúng tôi có thể phân phát một cách "hoà bình".

    Thoạt đầu tôi nảy ra "sáng kiến" là đem bánh ra khu nghĩa địa Thái Bình rồi chỉ mở cổng he hé cho từng người vào thôi, phân phát cho người nào xong sẽ đánh dấu + trên tay người ấy. Thời gian đầu công việc có vẻ thuận lợi và trật tự có lẽ vì chưa có nhiều người biết. Nhưng độ nửa giờ sau, chúng tôi quá đỗi kinh hoàng khi nghe thấy tiếng chạy của hàng ngàn người từ các làng lân cận kéo đến, họ vừa chạy vừa la "Phát bánh chưng chưa! Phát bánh chưng chưa!" với âm thanh ồn ào và náo nhiệt chưa từng thấy. Họ leo tường vào nghĩa địa một cách chóng vánh, rồi hàng nghìn người chen chúc dẫm đạp lên nhau, dẫm đạp lên cả bánh chưng. Tiếng người gọi nhau ơi ới hoà lẫn tiếng khóc thét của trẻ con trong khu vực nghĩa địa mênh mông đó. Chúng tôi chỉ còn biết bất lực đứng nhìn, ai nấy người đầy bùn đất nhão nhoẹt, để rồi khi đám đông rút đi thì dưới mặt đất nào là bánh chưng bị dẫm đạp nát nhoẹt cả ra, có vài ba xác trẻ em bị chèn đè dẫm đạp đến chết khi chúng cố tranh đua chen lấn với người lớn để được phát bánh. Để riêng ra vài cái bánh chưng để phát riêng cho các em quá đói đứng ngoài gầy gò, trần trụi giơ tay xin, chúng tôi thấy các em vồ lấy ăn ngấu nghiến cả lá gói. Tôi không thể cầm được nước mắt. Chúng tôi lắc đầu ngao ngán vì đã không thể nào lường trước được tình huống "bi kịch" này cả. Thế mới biết rằng : "Vật cho không quan trọng bằng cách cho", cũng may mà lúc đầu chỉ mang có vài trăm bánh gọi là "thử nghiệm", thấy không ổn nên chúng tôi lập tức họp lại để bàn nhau phương kế khác. Vào thời điểm này, ở Thái Bình có một ông Đốc học được gọi là ông Đốc Quýnh, và là một viên quan trông coi về giáo dục của toàn tỉnh Thái Bình. Trong một buổi họp các giáo học của các trường, ông Quýnh đã đến hỏi han chúng tôi về việc phát bánh chưng. Sau khi nghe thuật lại, ông Đốc Quýnh đã la rầy trách mắng chúng tôi một hồi, ông cười bảo rằng :"Các anh chẳng được tích sự gì, chỉ mỗi một việc phát bánh làm không xong thì còn làm ăn nỗi gì nữa nào! Để mai tôi làm một chuyến ra ngoài thành phân phát cho các anh xem nhé!".

    Chúng tôi chỉ bấm nhau cười nhưng vẫn khuyên ông nên cẩn thận. Sáng hôm sau, ông Quýnh đóng bộ veston cà vạt cẩn thận có batoong bên cạnh, còn bà vợ ông thì áo dài đánh xe đến chỗ chúng tôi. Hai ông bà đi trên hai chiếc xe kéo rất ư là sang trọng (thời ấy người giàu có quan quyền đều có xe kéo riêng, phu xe được nuôi ăn ở trong nhà, xe được đóng rất kỹ lại được trang trí bằng đồng sáng loáng, rồi lại được sơn vàng toàn bộ rất rực rỡ) đến trường chúng tôi, gọi bảo chất lên cho mỗi xe độ khoảng 50 bánh chưng và lên đường xuất phát trực chỉ các làng xa ở ngoại thành. Tôi liền cho vài học sinh đi theo sau để nắm tình hình, thì khoảng độ non giờ sau có em về báo là ngài Đốc Quýnh và phu nhân đã "gặp nạn" rồi. Hoá ra, khi chỉ đi được ra ngoại thành non cây số, xe của ngài và phu nhân đã bị đám đông níu kéo lại. Khi tiếng thét :"Phát bánh chưng! Phát bánh chưng!" vang lừng từ đầu thôn đến cuối xóm. Quan ngài điên tiết dùng batoong phất lia lịa vào đám đông để mở đường nhưng vẫn không ăn thua gì. Rồi thì xe không thể nào tiến đi được nữa vì bị bao vây bởi hàng trăm con người rách rưới đói khát đã lâu ngày. Thôi thì họ dẫm đạp, chen lấn, dày xéo lên nhau để giật cướp bánh gây nên quang cảnh hỗn độn mà có lẽ ngài Đốc Quýnh lần đầu tiên trong đời vừa là người chứng kiến vừa là nạn nhân. Tàn cuộc "phát bánh chưng bất đắc dĩ", hai chiếc xe đẹp đẽ bị gãy nát thảm thương, hai ông bà thì quần áo rách bươm, mặt mày bùn đất bê bết ngao ngán lắc đầu, bánh chưng thì rơi *** nhão nhoẹt trộn lẫn với bùn đất. Anh đánh xe thì mặt mũi bầm tím, cộng thêm xác vài ba đứa trẻ kiệt sức chết vì bị dẫm đạp trong cơn hỗn loạn.

    Kể từ hôm đó, tôi không tài nào tìm được ngài Đốc Quýnh nữa. Cuối cùng thì chúng tôi cũng phân phát hết được số bánh chưng tồn đọng bằng cách cho các học sinh mang trong người mỗi em vài bánh, toả đến các làng xa vào ban đêm để phát cho từng nhà quá đói rét. Tất nhiên việc thiên vị của các em là không thể tránh khỏi khi đi phát như thế, nhưng húng tôi đã không thể có sự chọn lựa nào khác. Sau cái tết đáng ghi nhớ ấy, ngày nào tôi cũng cùng với các anh giáo viên khác (trong đó có anh Nguyễn Công Hoan vừa làm nhà văn vừa làm giáo học một trường công ở thị xã) đẩy xe đến từng nhà để nhặt cơm thừa rồi đem đi phân phát cho những người nghèo đói khổ. Khi mỗi bữa đi như vậy, có hàng chục người nối đuôi nhau đi với chúng tôi, họ là những người nghèo quá quá đói đi xin ăn ở thị xã. Trước đó, họ biết chúng tôi qua đợt phát bánh chưng nên khi đi "khất thực" như vậy, họ đồng gọi tôi là Vua ăn mày, hoặc là Bang chủ cùng Bang phó của "Cái bang" Thái Bình. Tôi và anh Hoan cảm thấy rất vui trong lòng với danh xưng ấy vì nghĩ rằng mình đã làm được một việc nhỏ cho dân mình trước cái đói quá nghiệt ngã đó.


    ------------
    Lê Văn Lăng
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 13-08-2005 lúc 05:39 PM

  11. #7
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Có 36 phố phường ở Hà Nội không?




    Người bảo là "Không ! Làm gì có", người lại bảo "chắc là có". Câu trả lời còn đang bỏ ngỏ.

    Tỉnh Hà Nội thành lập năm Minh Mạng thứ 12 (1831), gồm 12 huyện trong đó có hai huyện: Thọ Xương và Vĩnh Thuận, xưa là huyện Quảng Đức, thuộc phủ Hoài Đức, xưa là phủ Phụng Thiên (thuộc đất Kinh Thành Thăng Long thời Lê). 36 phố phường Hà Nội đều nằm trong khuôn viên hai huyện này.

    Đến ngày 1-10-1888, Đồng Khánh ký nhượng đất hai huyện trên cho thuộc quyền sở hữu của người Pháp thì tỉnh Hà Nội chấm dứt. Sau đó ít lâu, năm huyện tách ra lập thành tỉnh Hà Nam, tám huyện lập thành tỉnh Hà Đông. Ngày 1-10-1888 là thời hạn cuối cùng cho việc tìm 36 phố phường Hà Nội xưa, khi còn thuộc tỉnh Hà Nội.

    36 phường Hà Nội

    Sách "Hoàng Việt dư địa chí" khắc song in vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833) có đoạn viết về 36 phố phường Hà Nội như sau:

    "Phủ Hoài Đức, xưa là phủ Phụng Thiên có hai huyện, 13 tổng, 249 thôn phường.
    Huyện Thọ Xương: 18 phường. Huyện Vĩnh Thuận (xưa là huyện Quảng Đức): 18 phường."

    Sách không liệt kê tiếp 36 phường mà chuyển sang chép tên các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam thắng cảnh và chú thích được tên phường của 13 di tích, thắng cảnh đóng trên các phường đó.

    Tên các phường còn thiếu tất phải dựa vào các Dư địa chí được biên soạn vào đời Gia Long:

    - Sách "Các tổng, trấn, xã danh bị lãm". (1)

    - Sách "Tìm về cội nguồn" tập 1 của Phan Huy Lê (phần địa bạ, các phường năm Gia Long 4-1805). (2)

    Kết quả như sau:

    Danh sách 36 phường:

    Tên các phường thuộc huyện Thọ Xương: 1. Yên Thọ 2. Hà Khẩu 3. Đông Tác 4. Đông Hà 5. Báo Thiên 6. Đồng Xuân 7. Cổ Vũ (ghi trong sách Hoàng Việt dư địa chí) 8. Đồng Lạc 9. Khúc Phố 10. Thái Cực 11. Đông Các 12. Diên Hưng 13. Phúc Lâm 14. Phục Cổ 15. Kim Hoa 16. Hồng Mai 17. Xã Đàn ( ghi trong sách: Các tổng trấn, xã danh bị lãm) 18. An Xá (ghi trong sách: Tìm về cội nguồn).

    Tên các phường thuộc huyện Vĩnh Thuận:

    1. Thịnh Quang 2. Yên Thái 3. Yên Hoa 4. Quảng Bá 5. Thuỵ Chương 6. Bích Câu (ghi trong sách: Hoàng Việt dư địa chí) 7. Hoè Nhai 8. Thạch Khối 9. Nghi Tàm 10. Tây Hồ 11. Nhật Chiêu 12. Hồ Khẩu 13. Bái Ấn 14. Trích Sài 15. Võng Thị 16. Quan Trạm 17. Công Bộ (ghi trong sách: Các Tổng trấn, xã danh bị lãm) 18. Yên Lãng (ghi trong sách: Tìm về cội nguồn).

    36 phố Hà Nội

    Triều Tự Đức ( 1848-1883): Hà Nội có 31 phố.

    - Sách "Đại Nam Nhất thống chí" do quốc sử quán triều Tự Đức soạn khoảng từ 1864-1875 (3) có 21 phố.

    - Sách "Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ầt Hợi-1876" của Trương Vĩnh Ký (4) có 1 phố.

    - Sách "Đồng Khánh dư địa chí" (1886-1887) (5) có 0 phố.

    - Bản đồ Hà Nội do quân Pháp vẽ 2-8-1893 (6) có 6 phố.

    - Sách Hà Nội thời kỳ 1873- 1888 triều Đồng Khánh (7) có 3 phố.

    - Sách "Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20" của Nguyễn Văn Uẩn (8) có 5 phố.

    Tổng số là 36 phố.

    Số lượng phố ở Hà Nội luôn biến động không ngừng; nếu tính theo thứ tự thời gian đến một thời điểm: Ngày, tháng, năm nào đó thì số phố là 36, trước hay sau thời điểm thì số phố đã khác rồi.

    Tên các phố trong 36 phố phụ thuộc vào nguồn thông tin thu thập được, nếu nguồn thông tin thay đổi thì tên phố sẽ thay đổi theo, thậm chí có khi số lượng phố cũng thay đổi theo.

    Nay dựa vào các tư liệu đã thu thập được lập nên: Ba mươi sáu phố cổ Hà Nội (1864-1888)

    Dưới triều Tự Đức có 31 phố.

    1. Hà Khẩu: Hàng Buồm (thuộc tổng Tả Túc) 2. Việt Đông: Hàng Ngang (Hữu Túc) 3. Hàng Mã ( Hậu Túc) 4. Hàng Mắm (Tả Túc) 5. Báo Thiên: Hàng Trống (Tiền Túc) 6. Nam Hoa: Hàng Bè (Hữu Túc) 7. Hàng Bồ (Tiền Túc) 8. Vàng Bạc: Hàng Bạc (Hữu Túc) 9. Hàng Giầy (Hữu Túc) 10. Mã Mây (Hữu Túc) 11. Đồng Lạc: bán y phục phụ nữ (Tiền Túc ) 12. Thái Cựu: nhuộm mầu đỏ (Tiền Túc) (Pháp gọi chung hai phố 11+12 là Hàng Đào) 13. Đông Hà (bán chiếu): Hàng Chiếu (Hậu Túc) 14. Phúc Kiến: Lãn Ông (Hậu Túc) 15. Phường Phục Cổ: Hàng Thiếc (Tiền Túc) 16. Hàng Lam: Thợ Nhuộm (Tiền Nghiêm) 17. Đồng Xuân (Hậu Túc) 18. Thanh Hà (Hậu Túc) 19. Hàng Gai (Tiền Túc) 20. Hàng Đãy: Nguyễn Thái Học (Tiền Nghiêm) 21. Hàng Chè 22. Hàng Muối 23. Hàng Đường 24. Hàng Hòm 25. Hàng Mành 26. Hàng Khảm 27. Hàng Da 28. Lò Sũ 29. Ngõ Gạch 30. Hàng Đồng 31. Hàng Nón. Triều Đồng Khánh: có năm phố. 32. Hàng Vải 33. Hàng Lược 34. Hàng Bông 35. Hàng Gà 36. Hàng Cót.

    Chú thích về các tên phố Hà Nội

    Số 2: phố Việt Đông: Việt Đông là tên gọi khác của tỉnh Quảng Đông. Xưa là phường Đường Nhân sau là Diên Hưng, hay là phố Hàng Ngang. Pháp gọi phố Hàng Ngang là phố Quảng Đông.

    Số 5: Phố Báo Thiên: phố này có niên đại từ 1864-1875. Đến 1883 quân đội Pháp vẽ lại bản đồ Hà Nội vào ngày 20-8, trên bản đồ có tên Thợ Thêu, tức phố Hàng Trống và phố Nhà Chung. Như vậy phố Nhà Chung mới có từ năm 1883, do đó Tả Túc ta có thể tin chắc phố Báo Thiên là phố Hàng Trống.

    Số 8: Phố Vàng Bạc; sách Đại Nam nhất thống chí chú thích là xưa thuộc phường Đông Các mà phố Hàng Bạc đóng trên đất phường này nên phố Vàng Bạc nay là phố Hàng Bạc.

    Số 13: phố Đông Hà bán chiếu nằm trên đất thôn Thanh Hà, tổng Hậu Túc, còn phường Đông Hà tổng Tiền Túc mới thuộc phố Hàng Gai. Nên có thể xác định phố Đông Hà là phố Hàng Chiếu.

    Số 14: Phố Phúc Kiến: sách Đại Nam nhất thống chí thì ngày xưa phố này chuyên bán đồ đồng vì người Tàu đem đồng ở mỏ Tụ Long về bán ở phố này, còn tên gọi Phúc Kiến là do Hoa kiều ở Phúc Kiến được phép cư trú tại đây. Từ năm 1947 phố này là phố Lãn Ông chuyên bán thuốc bắc.

    Số 19: Phường Phục Cổ: vì sao không gọi là phố Phục Cổ, nguyên là do phố Hàng Gai, chữ Hán gọi là phố Phục Cổ rồi, phường Phục Cổ khá rộng, đình phục cổ ở phố Nguyễn Du (tổng Tiền Nghiêm), song ở tổng Tả Túc cũng là đất phường Phục Cổ. Phố Hàng Gai ở tổng Tiền Túc được gọi là phố Phục Cổ chắc là cũng có duyên cớ. Nay phố Hàng Thiếc ở thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc có thể là đất phường Phục Cổ, cho nên sách Đại Nam nhất thống chí mới chữa là phường Phục Cổ đúc đồ thiếc để bán.

    Số 16: Phố Hàng Lam: chữ Hán gọi là phố Yên Trung. Trong Bản đồ Tự Đức thôn Yên Trung nằm ở góc đông nam thành Hà Nội (1805) tức là nằm ở đầu phía Bắc phố Thợ Nhuộm. Bản đồ Hà Nội năm 1883 đã thấy ghi tên phố Thợ Nhuộm, chỉ có tên phố Hàng Gai chưa có tên phố Hàng Bông. Từ đó có thể xác định phố Hàng Lam là phố Thợ Nhuộm, không phải là phố Hàng Bông Lờ.

    Số 21: Phố Hàng Chè ở đầu phía Bắc phố Đinh Tiên Hoàng đến đền Bà Kiệu, ngày nay phố này nằm chung trong phố Đinh Tiên Hoàng, không còn tên riêng của một phố độc lập nữa.

    Số 26: phố Hàng Khảm: Sách Hà Nội 1873-1888 (trang 121-122) thì nghề khảm du nhập vào Bắc Kỳ từ 1820, cho đến năm 1873 thì chất lượng mặt hàng này đã rất tinh tế và phát đạt.

    Phố Hàng Khảm chạy từ Đồn Thủy tới lũy bán nguyệt Đông Nam của Thành Hà Nội (quãng Cửa Nam) có chiều dài bằng phố Paul Bert (nay là Tràng Tiền + Hàng Khay và phố Tràng Thi). Vì phố rất dài nên nằm trải dài trên bốn tổng: Tiền Túc, Tả Túc, Tả Nghiêm, Tiền Nghiêm.

    Số 18: Phố Lò Sũ. Theo tên trên bản đồ Hà Nội 1883 là Ru de Merussiers (không hiểu là phố gì) nhưng nó nằm đúng vị trí phố Lò Sũ ngày nay nên ghi là phố Lò Sũ.

    Số 29: Phố Ngõ Gạch. Theo sách Hà Nội 1873-1888 (trang 110-111): Ngày 2-5-1873 Jean Dupuis bố trí cho cận vệ ở phố Than-Ha (?), ngày nay là phố Hàng Chiếu. Ngôi nhà này nằm ở đầu "một ngõ thông với một phố song song với phố của chúng tôi (tức phố Hàng Chiếu) và bị chúng tôi đóng lại vào ban đêm để tránh mọi bất ngờ". Như vậy chỉ có thể là phố Ngõ Gạch vì nó song song với phố Hàng Chiếu và phố Hàng Buồm. Còn phố Nguyễn Siêu thì tới 1936 mới có tên trên bản đồ, mặc dù cụ đã ngồi dạy học ở đó từ lâu.

    Đôi lời nhận xét

    1. 36 phường Hà Nội thì chia đều ra hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận, mỗi huyện 18 phường; còn 36 phố thì đều ở huyện Thọ Xương và hầu hết đều ở đất thuộc bốn tổng: Tiền, Hậu, Tả, Hữu Túc, chỉ có vài phố ở các tổng Nghiêm, 35/36 phố thuộc đất quận Hoàn Kiếm bây giờ ngày nay.

    2. Trên các phố dân gian đặt ra như: Hàng Bồ, Mã Mây, Lò Sũ... đến năm 2003 đã trải qua hơn 100 năm vẫn giữ nguyên tên cũ; còn các tên chữ Hán như Hà Khẩu, Nam Hoa... và bằng Tiếng Pháp thì hầu như dân chúng quên rồi.

    3. Các sử liệu, tư liệu chính, mỗi sách hay tư liệu chỉ ghi được khoảng trên 20 phố, gộp chung lại mới được 31 phố thời Tự Đức. Có lẽ thời kỳ này số lượng phố Hà Nội chưa nhiều. Song thời Đồng Khánh chỉ ghi lại được tên 5 phố; có thể do ghi chép thiếu sót chưa phản ánh đúng thực trạng chăng? Sang thời Pháp quản lý, chỉ khoảng đến năm 1890 đã kê được tên trên 70 phố.

    -------------------------------------------------------------------------
    1): Sách này biên soạn vào 1810-1812 thời Gia Long. Dương Thị Thoa-Phạm The dịch và biên soạn - NXB Khoa học xã hội. Tr 95-96-97-98.
    (2): Sách này do NXB Thế giới - Hà Nội - 1988. Tr 250 và 254.
    (3): Sách "Đại Nam nhất thống chí" (tập 3). Tr 198-199 - NXB Thuận Hóa.
    (4): Sách "Chuyến đi Bắc Kỳ 1876" của Trương Vĩnh Ký in trong tạp chí Xưa & Nay số tháng 11-1998.
    (5): Sách "Đồng Khánh dư địa chí" - NXB Thế Giới-2003.
    (6): Bản đồ Hà Nội 1883: chép tên phố từ số 23-28.
    (7): Sách "Hà Nội giai đoạn 1873-1888" André Masson-NXB Hải Phòng-2003.
    (8): Sách "Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20" (tập 2). Tr13-14 NXB Hà Nội-1995.

    ---------
    Vũ Hoàng

  12. #8
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    VIỆT MINH


    Việt Minh là tên thường gọi và viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, khởi đầu là một tổ chức chính trị/vũ trang với mục tiêu đứng về phía Đồng Minh chống phát xít, giành độc lập dân tộc cho Việt Nam. Việt Minh được thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941, bởi Nguyễn Ái Quốc.

    Năm 1945, Việt Minh là lực lượng chính trị quan trọng, giành chính quyền về tay người Việt Nam từ tay phát xít Nhật. Quốc dân Đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp ở Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh, tuyên bố thành lập chính phủ lâm thời của Việt Minh, khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Sau khi người Pháp tái chiếm Đông Dương, Việt Minh chuyển mục tiêu sang đấu tranh giành lại toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền cho Việt Nam từ tay của thực dân Pháp. Năm 1951, Việt Minh và Liên Việt hợp nhất, lấy tên là Mặt trận Liên Việt (3-3-1951), tuy nhiên vẫn được nhiều người quen gọi là Việt Minh.

    Năm 1954, Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ. Theo điều ước của Hiệp định Geneva được ký kết tại Geneva, Thụy Sĩ, Việt Nam được tạm thời chia cắt thành hai miền và một cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm. Phần lớn lực lượng của Việt Minh được tập trung về bắc vĩ tuyến 17. Các nhà lãnh đạo Việt Minh tin rằng với sự ủng hộ của đa số dân chúng chắc chắn sẽ giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm, tin tưởng vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ thông qua Chính sách Truman, đã đè bẹp lực lượng dân chủ đối lập, kẻ thù cá nhân cũng như các nhân vật tình nghi ủng hộ cộng sản tại miền Nam và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa và từ chối tiến hành tổng tuyển cử. Cùng năm đó Việt Minh tuyên bố thành lập nhà nước cộng sản chủ nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Một phần lực lượng Việt Minh tại miền Nam lui vào hoạt động bí mật và sau này tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào 1960, trong các tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa còn gọi là Việt Cộng, và của nước ngoài là Viet Cong, hay Victor Charlie hay V.C (Vi-Xi).

    Sau năm 1955, Việt Minh tuyên bố hoàn thành nhiệm vụ và tự giải tán. Ngày 10 tháng 9 năm 1955, một tổ chức kế thừa Việt Minh là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời và hoạt động cho đến ngày nay.

  13. #9
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

    Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, sau khi giành độc lập từ thực dân Pháp và Nhật, đã được Hồ Chí Minh soạn thảo, và đọc trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945.


    Lịch sử

    Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ giữa thế kỷ 19. Trong đệ nhị thế chiến, Nhật Bản đã thay Pháp chiếm đóng Việt Nam, từ năm 1940. Khi Nhật Bản thua trận quân Đồng Minh từ giữa năm 1945, Việt Nam có cơ hội lớn lấy lại độc lập. Cơ hội này đã được Việt Minh tận dụng.

    Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong số các quyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa.

    Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số đồng chí đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độc lập do ông soạn thảo.

    Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh bổ sung thêm cho dự thảo Tuyên ngôn độc lập.

    Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinh trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, tại vườn hoa Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.




    Hỡi đồng bào cả nước,
    Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
    Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
    Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
    Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
    Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
    Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
    Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
    Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
    Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
    Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
    Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
    Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
    Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
    Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
    Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
    Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
    Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
    Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
    Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
    Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
    Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
    Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
    Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
    Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
    Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
    Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 19-08-2005 lúc 08:43 PM

  14. #10
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà là tên gọi của cả nước Việt Nam từ 1945 đến 1954 và miền Bắc Việt Nam từ 1954 đến 1976.

    Quốc kỳ VIỆT NAM có hình chữ nhật màu đỏ, ở chính giữa có ngôi sao màu vàng, chính thức từ 30 tháng 11 năm 1955, sau này trở thành quốc kỳ của Việt Nam từ ngày 3 tháng 7 năm 1976.


    Quốc huy của Việt Nam hiện nay đã ra đời khi tại kỳ họp Quốc hội thứ năm, khóa đầu của Quốc hội Việt Nam, từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội đã quyết định chọn mẫu Quốc huy do Chính phủ đề nghị. Mẫu quốc huy này do họa sỹ Trần Văn Cẩn sáng tác.
    Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ sáng lạn của quốc gia; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp; bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa, phía dưới là dòng chữ tên nước.


    Tiến Quân Ca là quốc ca chính thức của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kể từ năm 1946 khi Việt Nam còn là chính thể Dân Chủ Cộng Hòa. Nói một cách chặt chẽ thì quốc ca Việt Nam là lời 1 của bài Tiến Quân Ca. Tác giả bài hát là nhạc sỹ Văn Cao.


    Đoàn quân Việt Nam đi
    Chung lòng cứu quốc
    Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
    Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
    Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
    Đường vinh quang xây xác quân thù,
    Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
    Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
    Tiến mau ra sa trường,
    Tiến lên, cùng tiến lên.
    Nước non Việt Nam ta vững bền.
    Đoàn quân Việt Nam đi
    Sao vàng phấp phới
    Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than
    Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới,
    Đứng đều lên gông xích ta đập tan.
    Từ bao lâu ta nuốt căm hờn,
    Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn.
    Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
    Tiến mau ra sa trường,
    Tiến lên, cùng tiến lên.
    Nước non Việt Nam ta vững bền.





    Lịch sử

    Nhà nước này được thành lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 (ngày quốc khánh của Việt Nam ngày nay), với đóng góp lớn của Hồ Chí Minh. Nhà nước non trẻ này đã phải tiến hành cuộc kháng chiến đơn độc để giành độc lập, và chỉ được quốc tế công nhận, khởi đầu bởi Trung Quốc và Liên Xô vào năm 1950. Thủ đô kháng chiến đặt ở Việt Bắc.

    Năm 1954 sau khi quân viễn chinh Pháp bị đánh bại tại trận Điện Biên Phủ, Pháp phải chính thức công nhận nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Theo Hiệp đình đình chiến tại Genève, nước Việt Nam bị chia thành hai.

    Miền Bắc thuộc quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô là Hà Nội, đặt dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản.

    Miền Nam thuộc quyền kiểm soát của Quốc gia Việt Nam, thuộc khối Liên hiệp Pháp. Năm 1955, vùng lãnh thổ của Quốc gia Việt Nam đổi tên là Việt Nam Cộng Hòa. Thủ đô là Sài Gòn.

    Ngay sau thời khắc chia cắt đất nước, đã diễn ra cuộc di cư vĩ đại của gần 1 triệu người dân miền Bắc, mà đa số là người Công giáo, vào miền Nam, với niềm tin "theo Chúa vào Nam". Một số người cho rằng họ bị chính sách của chính quyền miền Bắc bức hại bản thân họ.

    Những năm sau đó, vì là một đất nước nghèo bị cách ly khỏi vùng sản xuất nông nghiệp miền Nam, nước này bị nhiều người cho rằng cực quyền và hà khắc. Giữa năm 1955 và năm 1956, một cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành. Tuy nhiên cuộc cải cách này vấp phải những sai lầm nghiêm trọng, dù đã được các nhà lãnh đạo chính quyền chính thức xin lỗi trước dân chúng, vẫn để lại những hậu quả nặng nề.

    Năm 1959, Đảng Lao động Việt Nam đã bí mật quyết định hỗ trợ tiến hành chiến tranh ở miền Nam, dù phải trả một giá khổng lồ.

    Với sự viện trợ của đồng minh Liên Xô và Trung Quốc, những người cộng sản miền Bắc đã hỗ trợ cho những người cộng sản miền Nam đối đầu với lực lượng quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa suốt 20 năm (1955-1975). Chính miền Bắc cũng bị cuốn vào vòng chiến với các chiến dịch ném bom của người Mỹ với mục đích ngăn chặn sự chi viện này cho những người cộng sản miền Nam.

    Với sự kiện 30 tháng 4, 1975, miền Nam Việt Nam được tiếp quản bởi chính quyền Cộng hòa lâm thời miền Nam Việt Nam thiên Cộng sản. Miền Nam và miền Bắc hợp lại ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành một đất nước thống nhất: Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, với tên gọi chung là Việt Nam.
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 19-08-2005 lúc 09:30 PM

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/5 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube