User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/3 123 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 26

Chủ đề: Tiểu sử các nhà khoa học trên thế giới

  1. #1
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định Tiểu sử các nhà khoa học trên thế giới

    Anbe Anhxtanh - Người làm nên cuộc cách mạng thế giới vật lý


    Anbe Anhxtanh (1879 - 1955)

    Anbe Anhxtanh là nhà khoa học số 1 của thế kỷ 20. Thuyết tương đối của ông được đánh giá là “một trong những thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng của nhân loại”. Bằng học thuyết của mình, Anhxtanh đã làm thay đổi sâu sắc sự hiểu biết của nhân loại về thế giới vật lý.

    Đúng 11h30 phút ngày 14 tháng 3 năm 1879, Anbe Anhxtanh ra đời tại thị trấn Um nước Đức trong một gia đình Do Thái. Cậu bé Anhxtanh có cái đầu rất to, xương đầu lại còn dô ra nữa. Thuở bé mẹ cậu rất lo sợ cậu bị ... thiểu năng trí não bởi vì đến 4-5 tuổi cậu vẫn chưa biết nói. Ông bố đã mời nhiều bác sỹ đến khám, họ kết luận là cậu bé hoàn toàn khoẻ mạnh và phát triển bình thường. Thuở thiếu thời, Anhxtanh rất lặng lẽ, thường đơn độc đắm mình triền miên trong mơ ước hoặc suy tư, trò chơi mà cậu ưa thích là dùng các mẩu gỗ hoặc mẩu giấy chắp thành các hình phức tạp. Khi đi học, Anhxtanh rất ưa thích các môn tự nhiên và triết học. Ông chú ruột của cậu là Jacôp tặng cho cậu cuốn sách “Hình học thần thánh” của ơclit, cậu lập tức đọc một mạch cho đến trang cuối cùng. Tính cách của cậu bé Anhxtanh rất khác thường, với những vấn đề thắc mắc không những cậu buộc mình phải làm sáng tỏ nó là gì mà còn đào sâu tìm hiểu thêm vì sao lại như thế. ở trên lớp, thầy giáo thường không nhẫn nại chờ được mà phải gõ thước vào bảng thôi thúc Anhxtanh trả lời câu hỏi nhanh lên vì cậu luôn suy nghĩ chu đáo rồi mới chịu trả lời. Khi thầy không hỏi, bỗng nhiên Anhxtanh hỏi lại những điều “kỳ quái” mà cậu đã từng suy nghĩ rất sâu. Thầy giáo thường bị đỏ mặt vì không trả lời được. Các thầy giáo không thích tính cách Anhxtanh, cậu không chịu học những môn học thuộc lòng, thành tích học tập của cậu thường đứng cuối lớp.

    Tháng 10 năm 1896 Anhxtanh 17 tuổi, cậu đã thi đỗ vào trường Đại học liên bang Zurich (Thuỵ Sỹ), đó là một trường ĐH nổi tiếng ở Trung Âu.

    Ở ĐH Zurich, Anhxtanh rất say mê làm việc trong phòng thí nghiệm và phớt lờ những giờ lên lớp. Hồi đó máy quang điện rất quý, ắc-quy cũng hiếm nhưng trong phòng thí nghiệm của trường ĐH lại có rất nhiều máy đo điện, sinh viên có thể tự do đến làm thí nghiệm. Anhxtanh vùi đầu vào nghiên cứu, cậu say mê nghiên cứu về vấn đề bụi vũ trụ mà theo cậu là một mệnh đề quan trọng của vật lý lý thuyết, cũng là một “con hổ” đang cản đường tiến lên của ngành vật lý.

    Sau nhiều đêm trăn trở, Anhxtanh đem bản thảo của mình đến gặp giáo sư Uây-pơ - một giáo sư trong trường ĐH Zurich. Giáo sư nhận bản thảo một cách hờ hững, vốn trong lòng ông không ưa cậu sinh viên hay bỏ học này, nên khi lật xem vài trang bản thảo, thấy suy nghĩ của Anhxtanh xa rời thực tế, giáo sư Uây-pơ trả bản thảo cho cậu và nói: “Anhxtanh, cậu rất thông minh nhưng nhược điểm là không muốn học ai cả”. Nói rồi giáo sư bỏ đi.

    Mùa thu năm 1900, Anhxtanh tốt nghiệp ĐH. Đây là thời kỳ long đong nhất của ông bởi ông lâm vào cảnh thất nghiệp. Ông từng khao khát được giữ lại trường làm trợ giáo nhưng muốn thế cần phải có các giáo sư giới thiệu mà chẳng vị giáo sư nào chịu giới thiệu một sinh viên người Do Thái không chịu thuần phục và hay có những suy nghĩ lạ hoắc này, hơn nữa thành tích tốt nghiệp của Anhxtanh cũng không thuộc loại xuất sắc. Vì kế sinh nhai, Anhxtanh phải bôn ba khắp nơi tìm kiếm việc làm.

    Vào tháng 6 năm 1902 Anhxtanh đã xin được một công việc ổn định là làm giám định kỹ thuật ở Cục bản quyền Becnơ (Thụy Sỹ) với mức lương 3500 frăng Thụy Sỹ một năm. Không phải lo lắng về cái ăn cái mặc nữa, từ đây ông có thể yên tâm nghiên cứu những vấn đề vật lý mà ông yêu thích. Năm 1903, Anhxtanh kết hôn với Mivela là bạn học cũ, năm sau họ sinh một con trai.

    Năm 1905, kỳ tích và vinh quang đã đến với ông. Năm đó Anhxtanh 26 tuổi, ông dồn thời gian rỗi để viết bốn luận văn vĩ đại hoàn thành việc chuẩn bị lý luận cho cụoc cách mạng vật lý thế kỷ 20.

    Anhxtanh hoàn thành luận văn “Phương pháp xác định mới về độ lớn của phân tử”, ông trích phần “Nghiên cứu sự khuếch tán và nội ma sát của các chất trung tính trong dung dịch loãng để xác định độ lớn thực tế của nguyên tử” gửi cho ĐH công nghiệp liên bang Zurich. Trong bốn luận văn thì luận văn này mỏng hơn cả.

    Luận văn thứ hai bàn về “Thuyết quang lượng tử”. Trước kia khi nghiên cứu “Hiệu ứng quang điện”, Niutơn cho rằng ánh sáng là do các hạt cấu thành, trong lịch sử khoa học gọi đó là “thuyết hạt ánh sáng”. Đến đầu thế kỷ 19 các nhà khoa học lại cho rằng ánh sáng không phải do các hạt cấu thành mà là một lọai sóng dao động. Về sau lý thuyết điện-từ của Macxoen tiến thêm một bước đã chứng minh tính dao động sóng của ánh sáng. Học thuyết này có tên là “Động học sóng của ánh sáng”. Lúc ấy Anhxtanh đã từ một góc độ mới mẻ bàn về sự bức xạ và năng lượng của ánh sáng. Anhxtanh cho rằng ánh sáng là do những hạt rời rạc (lượng tử) cấu thành. Kết luận này ngay Anhxtanh cũng cảm thấy “rất cách mạng”. 16 năm sau nhờ luận văn này Anhxtanh giành được giải Nôben vật lý.


    Luận văn thứ ba nghiên cứu về “Chuyển động Brao”. Ngược lại thời gian, vào năm 1827 hôm đó nhà thực vật học Brao người Anh làm thí nghiệm rắc phấn hoa vào nước, sau đó dùng kính hiển vi quan sát. Brao phát hiện một hiện tượng rất lạ: phấn hoa chuyển động không ngừng giống như vô số các sinh linh li ti đang nhảy múa. Chuyển động kỳ lạ này được gọi là “chuyển động Brao”. Mấy chục năm sau để giải thích hiện tượng này các nhà khoa học đã mất nhiều công sức nhưng chưa lý giải được thấu đáo. Anhxtanh bằng nhãn quan độc đáo của mình đã nắm ngay được bản chất của vấn đề: Đó chính là các phân tử nước vô cùng nhỏ bé đang nhảy múa. Hồi đó rất nhiều người còn chưa tin vào sự tồn tại của phân từ và nguyên tử thì Anhxtanh ngược lại đã đi sâu nghiên cứu chuyển động của phân tử. Ông cho rằng phân tử nước rất nhỏ, dùng kính hiển vi không thấy được nhưng phân tử nước vận động không ngừng. Do sự va chạm với các phân tử nước mà phấn hoa có chuyển động Brao không quy tắc. Anhxtanh còn dùng phương pháp tóan học tính được độ lớn của phân tử và hằng số Avôgađrô - số lượng phân tử trong một chất khí bất kỳ ở trạng thái tiêu chuẩn. Như vậy Anhxtanh đã có những căn cứ hết sức thuyết phục để chứng minh sự tồn tại của phân tử. Ba năm sau nhà vật lý người Pháp là Faylan đã chứng minh được định luật của Anhxtanh về chuyển động Brao.
    Lần sửa cuối bởi nothingtolose; 18-06-2005 lúc 01:27 PM

  2. #2
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Luận văn thứ tư được công bố trên Tạp chí Vật lý học là “Bàn về điện động lực học của các vật thể động”, đó là luận văn đầu tiên về thuyết tương đối. Với luận văn dày 30 trang này Anhxtanh đã làm nên thay đổi về bản chất quan niệm về thời gian và không gian. Trước thế kỷ 20 Niutơn là chúa tể của vương quốc vật lý, cơ học Niutơn được xây dựng trên cơ sở thời gian tuyệt đối và không gian tuyệt đối. Niutơn cho rằng trong bất kỳ điều kiện nào độ dài thời gian đo được luôn luôn như nhau, không thể có kết quả thứ hai. Niutơn cho rằng thời gian và không gian là tuyệt đối, không liên quan đến bất kỳ sự vật nào ở thế giới bên ngoài, vậy làm sao biết được sự tồn tại của nó? Lấy ví dụ nếu thời gian phát tiếng của một máy ghi âm trên mặt đất đo được là một giờ thì thời gian phát tiếng của máy ghi âm đó trên mặt trăng đo được cũng là 1 giờ, đó là theo nguyên lý thời gian tuyệt đối của Niutơn. Nhưng Anhxtanh cho rằng một người ở mặt đất mà đo thời gian phát xong cuốn băng đó trên mặt trăng thì kết quả không phải là 1 giờ mà có thể hơn hoặc kém một giờ. Như vậy thời gian là tương đối, tức là độ dài thời gian đo được trong những điều kiện khác nhau là khác nhau. Đến những năm 30 từ các thí nghiệm kích phát nguyên tử hyđrô người ta đã chứng minh được thời gian bị kéo dài. Về không gian cũng tương tự, độ dài theo phương chuyển động của cái thước chuyển động với tốc độ nhanh cũng bị rút ngắn lại so với cái thước ở trạng thái nằm yên. Đó là thuyết tương đối hẹp.

    Luận văn về thuyết tương đối hẹp này của Anhxtanh đã nhanh chóng thu hút sự hứng thú mạnh mẽ của một bộ phận các nhà khoa học có kiến thức cao trong giới vật lý. Qua luận văn này họ nhận được những thông tin mới mẻ về cuộc cách mạng trong vật lý.

    Tuy nổi tiếng vậy nhưng cuộc sống của Anhxtanh vẫn chẳng có gì thay đổi: Hàng ngày 9 giờ ông đến cơ quan làm những việc sự vụ. Sau giờ làm việc ông đến làm thuê cho xưởng làm dấm.

    Nhiều học giả nổi tiếng đinh ninh Anhxtanh phải là một giáo sư, họ tìm gặp ông và rất ngạc nhiên khi thấy ông chỉ là một viên chức quèn, đầu tóc rối bù, áo sơ mi nhăn nhúm. Vị giáo sư nổi tiếng Plăng đã phải kêu lên: “Làm sao lại có thể chà đạp nhân tài đến thế. Một thiên tài sắp phát động một cuộc cách mạng trong vật lý, một Côpecnic của thế kỷ 20 mà lại phải làm những việc lặt vặt của một công chức hạng ba ở Cục bản quyền, thật bất công”.

    Năm 1909, nhờ giáo sư Klein tích cực giới thiệu, ĐH công nghiệp liên bang Zurich đã mời Anhxtanh làm giáo sư, lương 4500 frăng một năm. Anhxtanh rất vui vì bây giờ ông đã có thể nuôi được gia đình bằng việc nghiên cứu vật lý.

    Danh tiếng Anhxtanh ngày càng lớn. Mùa hè năm 1913 Plăng và Lơnxtow ở Viện khoa học Prusi (Đức) đã mời Anhxtanh về làm giáo sư ĐH Beclin, Viện sỹ Viện khoa học Prusi và Cục trưởng Cục nghiên cứu vật lý với mức lương rất hậu hĩnh. Anhxtanh đã nhận lời. Với những thiết bị nghiên cứu vào loại bậc nhất và điều kiện vật chất đầy đủ, Anhxtanh đã đưa thuyết tương đối đi vào con đường phát triển huy hoàng. Chỉ hai năm sau khi ở Beclin, năm 1916 ông đã hoàn thành luận văn có tính tổng kết về thuyết tương đối: “Cơ sở thuyết tương đối rộng” và đưa ra giả thuyết hữu hạn vô biên của không gian vũ trụ, đã tổng kết sự phát triển của thuyết lượng tử, đã lần đầu tiến hành khám phá sóng lực hấp dẫn được công nhận là đỉnh cao của lý luận vật lý thế kỷ 20. Về sau Anhxtanh căn cứ trên phương trình chuyển động của thuyết tương đối đã đưa ra ba dự đoán lớn:

    · Tia sáng bị cong đi trong trường lực hấp dẫn của mặt trời

    · Quy luật chuyển động của sao Thủy ở điểm gần mặt trời nhất: sau mỗi vòng quay quanh mặt trời, vị trí điểm gần mặt trời nhất của sao Thủy bị biến đổi một ít.

    · Tia quang phổ trong trường lực hấp dẫn bị dịch chuyển về phía ánh sáng đỏ (phía sóng dài)

    Ngày 29/5/1919, các nhà thiên văn người Anh thông qua quan sát nhật thực đã chứng minh tính chính xác của Thuyết tương đối rộng của Anhxtanh: Tia sáng bị uốn cong trong trường lực hấp dẫn của mặt trời, không gian là không gian cong, học thuyết mới về lực hấp dẫn hoàn toàn chính xác. Hai dự đoán sau cũng lần lượt được nghiệm chứng. Anhxtanh nhanh chóng trở thành thần tượng được cả thế giới sùng bái, từ khắp nơi trên thế giới lời mời gửi đến Anhxtanh như những đợt sóng triều. Ông đã đến nhiều nơi trên thế giới để thuyết trình về thuyết tương đối, ông được mệnh danh là “Niutơn của thế kỷ 20”.

    Năm 1933, để phản đối chế độ phát xít Đức, Anhxtanh đã rời bỏ nước Đức đến định cư ở thành phố Prinxetôn nước Mỹ. ở Mỹ Anhxtanh đã có nhiều bài diễn thuyết cho hòa bình của nhân lọai. Ông đã sống 22 năm ở Mỹ. Ngày 18 tháng 4 năm 1955 Anhxtanh đx vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 76 tuổi. Thế giới mất đi một nhà khoa học kiệt xuất nhất, nhân lọai mất đi một người lương thiện nhất. Ông mất đi nhưng tên tuổi ông đã trở lên bất tử, đúng như lời ông nói: “Chúng ta chết đi nhưng sự nghiệp sáng tạo chung của chúng ta sẽ còn mãi mãi”.

    (Anh Duy - Nguồn: Trần Khải Trung, Anbe Anhxtanh, NXB Giáo dục, 2003)

  3. #3
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Marie Curie - Nữ bác học đầu tiên nghiên cứu về phóng xạ


    Marie Curie

    Marie Curie là nhà bác học nữ hai lần nhận giải thưởng Nobel. Bà là một trong những người đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về phóng xạ, bà đã tìm ra chất Rađi, chất này khi các nguyên tử của nó bị tách rời sẽ tạo ra sự phóng xạ mà thời đó người ta chưa hiểu rõ bản chất. Nhờ những công trình của bà mà nhân loại có được khái niệm về nguyên tử và tính phóng xạ.

    Cô bé Marie Salome Sklodowska chào đời ngày 7/11/1867 tại thành phố Varsovie (Ba Lan) trong một gia đình trung lưu, cả cha mẹ đều là nhà giáo. Hồi đó Ba Lan bị nước Nga thống trị, nền giáo dục tốt nhất, những vị trí tốt nhất đều giành cho người Nga, người Ba Lan ít có cơ hội học hành. Tuy nhiên vì cha mẹ là những nhà giáo nên các anh chị em nhà Sklodowska được giáo dục nghiêm túc.

    Năm 1883, Marie tốt nghiệp trung học xuất sắc và được thưởng huy chương vàng của nhà trường. Cô muốn đi học tiếp nhưng lúc ấy ở Ba Lan phụ nữ không được học đại học, gia đình cô lại gặp khó khăn. Marie đành nhận làm gia sư cho một số gia đình giàu có. Những lúc rảnh rỗi cô tự học toán và vật lý.

    Năm 1891, lúc này kinh tế gia đình đã khá hơn, Marie quyết định ra nước ngoài học. Cô đã đi trên một toa xe lửa hạng ba từ Ba Lan tới tận Pari (Pháp) để theo học chuyên ngành Toán và Vật lý của đại học Sorbonne. Năm đó Marie 24 tuổi.

    Mới đầu Marie sống ở nhà chị gái là Bronia, khi ấy cô chị đã lấy một thầy thuốc. Rồi cô đến ngụ cư trong một tầng hầm tối tăm ở khu Latinh. Cô ăn uống rất kham khổ và không đủ củi sưởi trong mùa đông. Những khó khăn đó không làm cô nản chí mà càng quyết tâm học tập, cô thường nghiên cứu nhiều giờ liền trong các thư viện. Marie đã được học các giáo sư danh tiếng thời đó như Paul Appell và Gabrie Lippmann. Chỉ hai năm sau cô đã nhận được tấm bằng cử nhân Vật lý một cách xuất sắc và được nhận vào làm việc tại phòng thí nghiệm của Lippmann. Năm sau, 1894, cô nhận tiếp bằng toán học. Từ đó cô chuyên tâm vào nghiên cứu vì lòng say mê khoa học chứ không phải vì lợi ích vật chất.


    Cũng trong năm 1894, Marie gặp gỡ Pierre Curie, một nhà vật lý người Pháp, lúc đó đang giữ một vị trí quan trọng trong phòng thí nghiệm vật lý của đại học Sorbone. Khi đó Marie 27 tuổi còn Pierre 35 tuổi, họ nhanh chóng yêu nhau vì cả hai có cùng chí hướng là đam mê nghiên cứu vật lý. Ngày 20/7/1895, họ cưới nhau (từ đây bà mang họ tên là Marie Curie). Cũng năm 1895, Pierre nhận được học vị Tiến sỹ khoa học vì những công trình đầu tiên của ông về từ học. Sau ngày cưới, Marie về làm việc cùng phòng thí nghiệm của chồng, bà nghiên cứu những đặc tính từ của các hợp kim và đã viết công trình khoa học đầu tiên trong số rất nhiều công trình của đời mình.

    Cùng thời với Marie Curie, nhà vật lý người Đức là Wilhelm Rentgen đã phát hiện ra những “tia xuyên” vô hình từ một ống điện, chưa rõ bản chất của nó, ông đặt tên cho nó là tia X. Những tia này có thể xuyên qua da thịt và nhiều chất khác nhưng không xuyên qua được những vật cứng và dày đặc như xương và kim loại dày. Một thời gian ngắn sau đó, tia X và hiệu quả của nó trở nên nổi tiếng trên thế giới.

    Phát minh ra sự phát xạ này đã thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân, dĩ nhiên Pierre và Marie cũng rất quan tâm đến thành tựu này. Năm 1896, một nhà vật lý khác là Henri Becquerel tìm ra những tia xuyên khác, tia xuyên này phát ra từ một mẩu Urani. Henri để mẩu Urani trong ngăn kéo, đặt trên một tờ giấy ảnh. Vài ngày sau ông thấy tờ giấy ảnh phủ một lớp hơi nước. Marie đã quyết định nghiên cứu sự bức xạ bí hiểm mà Becquerel khám phá để làm đề tài tiến sỹ của mình.

    Marie đã nghiên cứu trong điều kiện nghèo nàn về vật chất: Phòng thí nghiệm của bà chật chội, ẩm ướt và không có lò sưởi. Với chiếc tĩnh điện kế do chồng và em chồng là Jacques Curie sáng chế, bà tìm kiếm các nguồn xạ không phải của Urani. Bà khám phá được một chất là Thori cũng có đặc tính ấy. Bà cũng nhận thấy rằng dù xử lý Urani và các chất có Urani như thế nào thì lượng bức xạ vẫn y nguyên. Từ đó, Marie nhận định rằng bức xạ không phải do các phản ứng hoá học vì nếu như vậy thì nó sẽ thay đổi khi Urani được thêm vào hay bị tách khỏi các hoá chất khác. Phải chăng nó từ những phân tử nhỏ nhất của chính Urani mà ra. Ý tưởng đó trái ngược với các lý thuyết khoa học thời ấy, nhưng sự đúng đắn của nó đã được chứng minh. Marie và Pierre cũng nghiên cứu tác động của những bức xạ mới tìm thấy, nó làm cho một số chất có hiện tượng huỳnh quang. Chất Urani mà Marie sử dụng chủ yếu là ở dạng quặng Uraninit, hỗn hợp tự nhiên chưa được làm sạch gồm đất đá và một số chất khác. Quặng Chancolit cũng chứa Urani. Năm 1898, những thí nghiệm và tính toán của Marie chỉ ra rằng Uraninit và Chancolit phát bức xạ nhiều hơn mức dự kiến do thành phần Urani chứa đựng trong nó. Vậy thì trong quặng đó phải có chất nào khác tạo ra lượng bức xạ dôi dư. Marie dùng phương pháp hoá học, giã viên quặng, rây, đun sôi làm tan rã để chất lỏng bay hơi, lọc bã cặn, chưng cất và cho nó chịu tác động của một dòng điện.Ở mỗi công đoạn, Marie cùng đồng sự kiểm tra thành phần và độ tinh khiết của chất mới thu được. Bà tách phần phát nhiều tia bức xạ nhất và lại xử lý tiếp. Cuối cùng bà có được một chất mới ở thể thuần khiết, một nguyên tố hoá học mới, bà đặt tên là Pôlôni để tôn vinh quê hương của bà (Pôlôni nghĩa là Ba Lan). Trong bản báo cáo khoa học bà đã dùng từ “phóng xạ” để chỉ những chất như Urani hay Pôlôni phát tia xuyên hay bức xạ.


    Pôlôni là chất đầu tiên có độ phóng xạ mạnh được tách ra dưới dạng thuần khiết. Sự bức xạ của nó làm cho không khí xung quanh phát quang và bản thân chất Pôlôni sờ vào cũng thấy nóng. Pôlôni không phải là nguyên nhân duy nhất sự phóng xạ của Uraninit. Marie tiếp tục nghiên cứu và làm sạch một chất chứa một nguyên tố mới mà bà gọi là Rađi. Một số chất phóng xạ được ông bà Curie tinh chế có tính phát quang.

    Năm 1899, Marie chuyên tâm vào một công việc to lớn: tạo được Rađi nguyên chất dưới một dạng có thể chứng minh sự tồn tại của nó. Hàng tấn quặng bã phóng xạ từ Bôhem và châu Phi được gửi đến phòng thí nghiệm ở Pari để đưa vào quá trình làm phân rã bằng hoá học. Giai đoạn cuối cùng rất khó khăn, thường là thất vọng.

    Thời đó những mối nguy do phóng xạ gây ra chưa được biết đến bao nhiêu, vì thế mà sức khoẻ của Marie bị suy kiệt kéo dài. Triệu chứng bệnh lao xuất hiện sau khi sinh cô con gái Irene, bà luôn cảm thấy mệt mỏi, khó tiêu do bị nhiễm xạ. Tay bà cứng đờ ra, bị thương tổn, nổi đầy mụn lở loét do phải pha trộn, đun nấu chất phóng xạ, nhiều năm sau những sổ tay và ghế ngồi của bà ở phòng thí nghiệm còn nhiễm độ phóng xạ rất cao. Bà đã hoàn thành được đến cùng công việc nhọc nhằn như thế, bà vừa nghiên cứu Rađi vừa tiến hành nghiên cứu khác, cùng với nhà vật lý Henri Becquerel và một nhà khoa học khác là Fritz Giesel bà đã khám phá được những đặc tính của bức xạ vào năm 1899.

  4. #4
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Mặc dù danh tiếng của ông bà Curie rất lớn nhưng họ vẫn nhận được rất ít kinh phí để nghiên cứu. Để có thêm tiền mua sắm thiết bị, nguyên liệu, Pierre phải nhận một chân phụ đạo ở trường ĐH Bách khoa, còn Marie thì nhận thêm việc giảng dạy vật lý ở ĐH Sư phạm Sèvres. Công cuộc nghiên cứu của họ vẫn có những bước tiến kỳ diệu: Năm 1902, Marie thu được một loại muối Rađi nguyên chất, chỉ bằng 1/10 gam, nhỏ gần như là không thể nhận thấy (cần 7 tấn quặng Uraninit mới có được 1 gam Rađi). Nhưng lượng nhỏ nhoi thu được đó cũng đủ để biết được đặc tính lý hoá của Rađi. Đó là đỉnh cao trong sự nghiệp của bà. Piere và Marie được mời phát biểu tại viện hoàng gia Luân đôn và đã được tặng huy chương tôn vinh Humphrey Davy. Trở về Pari, Marie được nhận bằng tiến sỹ khoa học vì công trình của bà. Nhưng ông bà đã chịu những nỗi bất hạnh khi đứa con họ sinh ra không sống được do bị nhiễm phóng xạ (hồi đó người ta chưa biết những nguy cơ của phóng xạ). Cũng trong năm này, Piere, Marie và Henri Becquerel đã nhận được giải thưởng Nobel về vật lý vì những công trình nghiên cứu về phóng xạ. Thật đau khổ là vợ chồng bà không ai đủ sức khoẻ để đến Thuỵ Điển nhận giải.

    Năm 1904, Eve, con gái thứ nhì ra đời. Pierre cũng được bổ nhiệm giáo sư ở Sorbonne, ông có một phòng thí nghiệm tốt hơn và Marie trở thành trợ lý chính của ông, năm sau Pierre được bầu vào Viện Hàn lâm khoa học. Chất Rađi đã được công nhận, người ta biết đến đặc tính của nó phát sáng trong bóng tối và bắt đầu dùng nó để chữa một số bệnh, giá trị của nó lên cao vùn vụt. Dần dần một số nhà máy và bệnh viện được thành lập để sử dụng thứ kim loại quý đó.

    Một ngày tháng tư năm 1906, Pierre đang đi trên phố ở Pari, chìm đắm trong suy tư, ông không nhìn thấy một cỗ xe ngựa chất nặng đang lao tới, cỗ xe hất ông ngã văng ra và chết ngay tại chỗ. Cái chết của Pierre khiến Marie rất đau khổ và bà bị hẫng hụt một thời gian dài. Bà tìm sự giải thoát tâm hồn bằng tiếp tục công việc. Bà được nhận chức vị của Pierre và trở thành người phụ nữ đầu tiên làm giáo sư ở Sorbonne. Chú tâm vào công việc hơn bao giờ hết, bà tiếp tục làm sạch Rađi và Pôlôni. Năm 1910, bà đã thu được Rađi nguyên chất, một thứ kim loại màu trắng lóng lánh và tìm được điểm nóng chảy của nó là 700 độ C. Cũng trong năm ấy bà công bố công trình:

    “Chuyên luận về sự phóng xạ” dày 971 trang. Năm sau, 1911, bà được tặng giải Nobel về hoá học vì đã tách được Rađi nguyên chất. Năm 1922, bà được bầu vào Viện hàn lâm y học Pháp.

    Trong thập niên 1920 - 1930, người ta bắt đầu hiểu rõ hơn những hậu quả độc hại của phóng xạ đối với cơ thể con người. Những nhà bác học cùng làm việc bên cạnh ông bà Curie thuở ban đầu của phát minh đều bị những triệu chứng mà phóng xạ gây ra như: khó chịu đường tiêu hoá, rát bỏng, lở loét, ung thư...Tiên phong trong nghiên cứu về phóng xạ, Marie Curie đã phải chịu đựng bệnh phóng xạ trong thời gian hơn nửa cuộc đời. Năm 1934 bà đã mất sau khi chịu đựng những đau đớn do bệnh tật bởi nhiễm xạ.

    Rađi do Marie Curie phát minh ngày nay ít được dùng nhưng các công trình về tinh lọc Rađi và về bức xạ đã góp phần quan trọng vào sự hiểu biết rộng hơn về sự phóng xạ và nguyên tử.

    Những nghiên cứu của bà và nhiều nhà bác học khác đã giúp cho việc nghiên cứu cấu trúc của nguyên tử và những điều kiện tạo ra sự giải toả năng lượng. Sự phóng xạ cũng cho khả năng phát hiện và chữa một số bệnh. Nhờ liệu pháp tia X người ta có thể diệt một số tế bào ung thư bằng cách “bắn phá” nó bằng bom, tức là phát những tia bức xạ của côban vào các tế bào có bệnh. Marie Curie được mệnh danh là nhà khoa học nữ vĩ đại nhất thế kỷ 20, lòng say mê khoa học và những cống hiến của bà khiến nhân loại phải kính trọng.


    (Anh Duy - Nguồn: Steve Parker, Marie Curie và nguyên tố Rađi, NXB Kim Đồng, 2001.)

  5. #5
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Guglielmo Marconi - Cha đẻ của vô tuyến điện

    Guglielmo Marconi

    Ngày 25 tháng 4 năm 1874, tại vùng Bologne nước ý có một cậu bé chào đời, đó là Giuglielmo Marconi - người sau này bằng phát minh của mình đã tạo nên một cuộc cách mạng trong công nghiệp truyền thông.

    Gia đình Marconi khá giàu có, cha cậu là một điền chủ, họ sống trong ngôi biệt thự lộng lẫy ở Pontechio, mùa đông họ chuyển đến sống ở Florence - nơi có khí hậu ấm áp hơn. Guglielmo được chăm sóc rất đầy đủ, cậu có các gia sư riêng nhưng cậu rất lười học và không bao giờ được gọi là một đứa trẻ ngoan. Tuy nhiên cậu cũng có hai nét tính cách mà sau này tỏ ra hữu ích trong công việc, đó là cậu có thể tập trung cao độ để làm việc trong một thời gian dài và cậu có thể thuyết phục được người khác tin vào những cái cậu làm. ở trường học cậu chỉ thích các môn hoá học, vật lý và đặc biệt là điện.

    Trước khi Marconi ra đời 10 năm - năm 1864, một nhà bác học xứ ê-cốt là James Clerk Maxwell đã đưa ra lý thuyết: Sự biến đổi dòng điện trong một vật dẫn sẽ gây ra một sự phát sóng trong không trung, giống như một hòn đá thả xuống nước tất sẽ sinh ra những vòng sóng lan toả ra xung quanh. Những sóng ấy vừa là từ, lại vừa là điện nên người ta gọi nó là sóng điện từ. Chúng có thể được dò ra nhờ các thiết bị điện. Maxwell còn nêu ra ý kiến rằng những tia sáng chỉ là một dạng có thể nhìn thấy được của các sóng điện từ. Tất cả các sóng điện từ đều tự lan truyền với tốc độ của ánh sáng. Điều đó sau này đã được chứng minh hoàn toàn chính xác.

    Vào tuổi 20, Marconi lao vào nghiên cứu khoa học. Marconi say mê nghiên cứu lý thuyết của Maxwell và nhất là các công trình của Heinrich Hertz - một nhà khoa học Đức. Hertz không cần dây dẫn đã phóng được sóng ête (điện từ) trên một khoảng cách vài mét và ông đã dò ra được chúng. Từ việc làm của Hertz, Marconi nảy ra ý định: với máy điện báo và điện thoại, người ta có thể phát đi qua dây dẫn những thông tin dưới dạng những ký hiệu điện. Vậy thì người ta có thể phát đi những sóng điện từ cũng mang những thông tin ấy dưới dạng ký hiệu được không? Thế là từ đó Marconi nghiên cứu tập trung vào ý tưởng “điện báo vô tuyến” đến khi thành công.

    Quá trình nghiên cứu Marconi gặp thuận lợi vì được thừa hưởng một số thành tựu của những nhà bác học đi trước. Năm 1890, nhà vật lý người Pháp là Edouard Branly đã nghĩ ra máy “liên kết bằng mạt” cho phép người ta có thể thu được những ký hiệu vô tuyến. Máy của Branly là một máy dò sóng héc (điện từ) được cấu tạo bởi một ống thuỷ tinh chứa mạt kim loại và hai đầu được đóng kín bằng hai cực điện. Dưới tác động của sóng, các hạt kim loại đó tập hợp lại thành mạch và trở thành vật dẫn điện. Marconi đã dùng hai gian phòng rộng trên gác xép của biệt thự để làm thí nghiệm. Cậu thử lại rồi nâng cao những thí nghiệm của Hertz và những người khác. Những thiết bị chủ yếu trong phòng thí nghiệm đều do Marconi tự chế tạo. Trong gia đình chỉ duy nhất bà mẹ hiểu và khích lệ công việc của cậu, cũng chỉ có bà mới được vào phòng thí nghiệm. Vào một đêm tháng 12 năm 1895, Marconi đánh thức mẹ dậy và khoe với bà thành công đầu tiên của cậu. Phía cuối của gian phòng đặt một máy phát sóng vô tuyến, còn ở đầu kia là một máy thu mắc nối với một cái chuông nhỏ. Khi Marconi ấn vào nút điện đặt ở máy phát, máy phát ra những sóng điện từ và lập tức ở đầu kia máy thu nhận được chúng và tiếng chuông reo lên. Mẹ cậu không ngớt lời ca ngợi thành công này còn ông bố thì thản nhiên cho rằng cậu mất thời gian vào một việc lẩm cẩm, theo ông để làm cho chuông reo có nhiều cách đơn giản hơn nhiều, không việc gì cần đến hai cỗ máy cồng kềnh kia.

    Sau thành công đầu tiên, Marconi chuyển qua chặng đường nghiên cứu tiếp theo. Cậu tiến hành các thí nghiệm ở ngoài trời, giữa khu vườn của biệt thự. Bố cậu không tán thành công việc này bởi ông sợ có người sẽ bị vấp ngã vì vướng phải những sợi dây cáp giăng mắc lằng nhằng ở trong vườn. Marconi đã chế ra chiếc máy phát mạnh hơn và máy thu nhạy hơn. Máy phát mà Marconi sáng chế gồm một máy dao động điện nhanh, gắn với dòng điện có hai cực đặt sát nhau, ở giữa phóng ra những tia sáng tạo sóng. Trên một cực, Marconi mắc một sợi dây nối với một xilanh bằng kim loại, cực kia nối với một tấm kim loại chôn dưới đất. Tia sáng càng lớn thì sóng vô tuyến càng mạnh. Sóng vô tuyến kết tụ những phân tử các-bon hay những phân tử kim loại chứa trong chiếc hộp hình ống để cho dòng điện chạy qua. Marconi cũng cải tiến cả anten. Cậu đã thử nghiệm trên nhiều cự li, nhiều vị trí đặt, nhiều kiểu cấu trúc anten và ở những chiều cao khác nhau để chỉnh anten làm sao cho các sóng có thể lan truyền được xa nhất. Mỗi lần cải tiến lại cho phép Marconi và nhóm công nhân giúp việc của cậu dò ra được những sóng vô tuyến (hay sóng hec) trên một khoảng cách ngày càng xa, mới đầu còn trong khu vườn biệt thự, sau đó vượt khỏi vườn. Máy có thể truyền đi những thông tin được mã hoá bằng ký hiệu Moóc, nghĩa là thay chữ cái bằng các gạch ngang và dấu chấm. Cuối cùng ngay cả ông Giuseppe Marconi cũng bị cuốn hút vào công việc của cậu con trai. Nhóm của cậu con với bộ đồ nghề gồm những cuộn bô bin, những ống thuỷ tinh và dây điện đã có thể phát đi những sóng vô tuyến và thu được nó bằng một máy thu đặt tít phía bên kia đồi, khuất hẳn khỏi tầm nhìn. Đến đầu năm 1896 máy phát và máy thu có thể đặt cách nhau xa tới 2 km. Marconi đã hoàn thành được thiết bị đầu tiên về điện báo không dây. Cậu có thể phát đi những bức điện bằng ký hiệu Moóc trên những khoảng cách mỗi ngày một xa. Thành công này của Marconi là một cuộc cách mạng vĩ đại của công nghiệp truyền thông.

    Năm 1896, Marconi đến London, ông đã gặp William Preece là kỹ sư trưởng của sở bưu điện London. Preece đã đứng ra tổ chức một cuộc giới thiệu về điện báo không dây của Marconi và đã thành công tốt đẹp. Cũng trong năm này Marconi đã nhận được bằng sáng chế đầu tiên về thiết bị vô tuyến điện báo. Giấc mơ của Marconi là tăng thêm tầm xa của sóng vô tuyến. Ông tiếp tục tiến hành những thí nghiệm để cải tiến thiết bị. Vào những năm 1897 - 1898, máy vô tuyến điện đã bước vào giai đoạn ứng dụng trong thực tế. Một trạm vô tuyến đã được xây dựng ở Alum Bay trên đảo Wight với cột tín hiệu cao 37m. Năm 1898, Marconi đã đặt một hệ thống vô tuyến trên bờ biển phía Bắc Ailen, nó được ghép với ngọn hải đăng Rathlin Island, hệ thống thứ hai được dựng lên ở Ballycastle. Từ đó những tàu biển đi lại ngoài khơi có thể nhận được những thông tin từ đất liền. Vào tháng 7 năm 1898, tờ Tin nhanh Dublin của Ailen là tờ báo đầu tiên nhận được tin tức bằng vô tuyến. Trong một cuộc đua thuyền buồm ở biển Island, Marconi đích thân đứng ra đưa tin. Ông theo đoàn đua trên một tàu kéo và điện báo những tin tức của cuộc đua cho một trạm thu đặt ở Kingstown. Cũng trong năm 1898, thái tử xứ Uên (sau này là vua Edouard VII) do bị đau đầu gối nên ở lại trên du thuyền, nữ hoàng thì ở đảo Wight. Để tiện liên lạc giữa hai nơi, Marconi đợc mời đến đặt một trạm vô tuyến trên du thuyền và một trạm nơi ở của nữ hoàng. Trong 16 ngày nữ hoàng và thái tử đã trao đổi với nhau khá dễ dàng khoảng 150 bức điện. Ngày 3/3/1899, một con tàu chạy bằng hơi nước bị mắc cạn ở Goodwin Sands, tàu hải đăng đánh điện về đất liền, lập tức những tàu cứu hộ được điều đến ứng cứu. Tất cả thuỷ thủ đoàn và chuyến hàng trị giá trên 50.000 bảng Anh đã được cứu thoát.

  6. #6
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Ngày 1/3/1899, từ một trạm phát ở Wimereux của Pháp, bức điện đầu tiên bằng vô tuyến điện đã được phát đi, vượt qua biển Manche để tới nước Anh (hai trạm đặt cách nhau 51 km). Cuộc thử nghiệm thành công đã gây ấn tượng mạnh mẽ với chính phủ các nước về tác dụng của vô tuyến. Rất nhiều nước đã đặt hàng vô tuyến điện báo. Thành công này đã khiến Marconi có ước muốn những sóng vô tuyến có thể vượt Đại Tây Dương. Marconi và nhóm của ông bắt tay vào cải tiến các thiết bị vô tuyến thêm một bước. Năm1900, ông nhận thêm bằng sáng chế cho những máy phát và máy thu có gắn thêm một hệ thống điều chỉnh mới và chỉ có một anten có khả năng phát và thu trên nhiều tần số khác nhau. Tháng 7 năm 1900, ông cho xây một trạm vô tuyến có công suất mạnh ở Poldhu (Anh), một trạm thu khác được xây dựng ở Saint Johns thuộc phía đông Canada ở bên kia Đại Tây Dương, cách trạm phát hơn 2700 km. Ngày trọng đại đã đến: Ngày 12 tháng 12 năm 1901, Marconi nghe thấy ba tiếng “tic...tic...” yếu ớt trong máy thu từ nước Anh truyền đến. Những tiếng tic... tic lặp đi lặp lại, đó chính là chữ S trong tín hiệu Moóc. Chữ S được lựa chọn vì nó dễ nhận biết. Thế là vô tuyến đã vượt được Đại Tây Dương, tin này thật bất ngờ và kinh ngạc, ngay cả nhà phát minh vĩ đại của nước Mỹ Thomas Edison cũng phải hỏi lại: “Có thể ông thu phải những tín hiệu nhiễu chăng?”.

    Tuy nhiên vô tuyến giữa hai châu lục lúc này hoạt động rất yếu, không thể bằng hệ thống cáp ngầm đặt dưới đáy biển. Marconi hiểu rằng nếu không cải tiến điều này thì vô tuyến không thể cạnh tranh được với hệ thống điện báo bằng cáp ngầm. Ông và các đồng sự bắt tay vào cải tiến thiết bị, họ phải tạo ra được những tia sáng mạnh có bước sóng dài 5 cm. Giáo sư Ambrose Fleming, một đồng nghiệp của Marconi đã nghĩ ra một biến áp kép để làm cho điện áp mạnh lên rất nhiều trước khi phát. Sang năm 1903, việc truyền tin giữa hai châu lục tiến hành tốt, các bức điện đã chuyển một cách dễ dàng. Thomas Edison rất ca ngợi thành tựu của Marconi, ông khẳng định người ta sẽ khó mà thấy hết được tầm cỡ công trình của Marconi.

    Năm 1906, ứng dụng kỹ thuật điều biên (AM), nhà vật lý người Mỹ Reginald Fessenden đã truyền đi qua vô tuyến tiếng nói của mình đến các tàu đang xuôi ngược trên Đại Tây Dương, đây là một tiến bộ lớn bởi trước đó vô tuyến mới chỉ chuyển được những thông tin điện báo bằng ký hiệu Mooc nghĩa là bằng các gạch và dấu chấm. Sau đó kỹ thuật vô tuyến nhờ phát minh ra đèn 3 cực của Lee de Forest đã có bước tiến lớn. Đèn này có thể khuếch đại những tín hiệu điện yếu mà máy nhận được. Cho đến lúc bấy giờ dòng điện có được là dòng điện sinh ra trong anten bởi các sóng vô tuyến, nó rất yếu và chỉ đủ để chạy một máy nghe. Nay với đèn 3 cực, những tín hiệu ấy được khuếch đại và có thể chạy qua loa phóng thanh mạnh.

    Với những phát minh của mình, Marconi đã lên đến tột đỉnh vinh quang. Năm 1909, ông đã được trao giải Nobel về vật lý vì đóng góp to lớn của ông về điện báo không dây. Càng ngày phát minh của Marconi càng đóng vai trò to lớn trong đời sống con người. Năm 1912, tàu Titanic bị chìm làm 1500 người chết, 700 người khác nhờ có vô tuyến phát đi tín hiệu cấp cứu đã được cứu thoát. Trong chiến tranh vô tuyến đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc liên lạc, truyền tin tức. Vào những năm 20, đài phát thanh - một ứng dụng của vô tuyến đã đi vào đời sống con người. Những năm 1950-1960, truyền hình bắt đầu tiếp bước cho vô tuyến bằng cách sử dụng sóng vô tuyến. Ngày nay sóng vô tuyến có mặt ở khắp nơi: vô tuyến truyền hình, máy thu thanh, điện thọai di động, điều khiển từ xa, Rada... Nhờ Marconi mà thế giới bước vào kỷ nguyên của thông tin vô tuyến điện.

    (Anh Duy - Nguồn: Steve Parker, Giuglielmo Marconi và vô tuyến điện, NXB Kim Đồng, 2001.)

  7. #7
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Thomas Edison - Nhà phát minh vĩ đại của nhân loại


    Thomas Edison

    Thomas Edison sinh năm 1847 tại tỉnh Milan, bang Ô-hi-ô (Hoa Kỳ). Khi lên 5 tuổi, gia đình ông chuyển sang sống ở Po Hu-rôn thuộc bang Michigân. Thuở bé, Tôm (tên thân mật của Edison) là một chú bé luôn tìm hiểu mọi vật quanh mình và muốn hiểu thấu đáo các vật đó. Cái gì cũng làm cậu ngạc nhiên. Nếu không hỏi ai được thì tự mình tìm cách trả lời. Ngay từ bé cậu đã say mê với các cuốn sách và tập làm thí nghiệm. Nhưng chính sự tò mò này đã làm cậu sớm phải rời khỏi trường học. Chuyện là thế này: Vào năm Edison học lớp bốn tiểu học, một hôm cậu xin được hai lọ nhỏ: một lọ đựng Axit, một lọ đựng Amôniac. Tôm muốn làm thí nghiệm xem hai chất đó có hoà tan được với nhau không. Nhưng vì phải ba tiếng sau buổi học mới kết thúc mà cậu nóng lòng muốn thí nghiệm ngay, thế là Tôm quyết định làm ngay ở trường. Khi hai chất này được đổ lẫn vào nhau, lập tức có một tiếng nổ bụp và một làn khói trắng đặc sệt bốc lên mù mịt cùng một mùi khó ngửi. Làn khói lan đi khắp trường, các bạn học sinh chạy ùa đi và hô cháy. Thực ra không hề có ngọn lửa vì Axit phản ứng với Amoniac chỉ sinh khói. Lính cứu hoả đến phun nước khắp trường. Khi “đám cháy” được dập tắt người ta truy tìm thủ phạm và thế là Tôm bị đuổi học. Nhà bác học vĩ đại của nhân loại này chỉ được học đúng đến lớp bốn tiểu học. Về nhà Tôm bị cha đánh cho một trận ra trò. Dưới con mắt của cha và mọi người, Tôm là một thằng bé loạn trí, chỉ có mẹ là luôn thông cảm và yêu quý Tôm, bà tin rằng Tôm sẽ trở thành người có ích.

    Bị đuổi học, Tôm phải sống một cuộc sống rất nặng nề, cha thường xuyên đánh, bạn bè thì chế giễu. Tuy thế lòng ham học của Tôm không hề giảm sút, trong căn hầm nhỏ của ngôi nhà - nơi mà Tôm biến thành phòng thí nghiệm, em vẫn miệt mài đọc các sách lý hoá và dần dần em đã đi sâu vào môn khoa học đó. Một sự việc bất ngờ xảy ra đã đưa cuộc đời Tôm sang một bước ngoặt. Hôm đó Tôm và chị gái Tania ra ga chơi. Lúc đó một điện báo viên nhà ga có vợ và con đến thăm, ông ta chạy ra đón con rồi vào làm việc tiếp, để cậu con 3 tuổi chơi quả bóng. Bất ngờ quả bóng tuột khỏi tay cậu bé, lăn vào giữa hai thanh ray đường tàu và mắc ở đấy. Cậu bé ngồi gỡ, vừa lúc ấy một đoàn tàu lao vào ga với tốc độ nhanh. Muộn mất rồi, không thể chạy đến kéo bé ra. Đúng lúc ấy Tôm quyết định lao ra nằm úp sấp lên em bé, ép chặt em xuống đất. Đoàn tàu chạy ầm ầm trên đầu hai em. Mọi người há mồm, đứng sững kinh hãi. Khi tàu chạy qua, Tôm và em bé đứng lên bình yên vô sự. Người cha em bé đang nhủn người đi vì đau đớn bỗng sướng như điên, ông ôm Tôm vào lòng và định biếu Tôm ít tiền để ăn quà. Tôm từ chối số tiền đó, cậu ngỏ ý muốn học nghề điện báo. Dĩ nhiên người điện báo viên đó đồng ý. Chỉ một thời gian ngắn cậu bé học nghề đó đã vượt thầy. Không những thế Tôm còn làm được cả một máy điện báo xinh xinh dùng được, bằng toàn ống bơ và hộp sắt. Đây là sáng chế đầu tiên của cậu bé thiên tài Edison.

    Nhưng cha cậu - ông Samuen Edison, không hài lòng chút nào. Với ông, những trò của cậu con thật vô bổ, nó coi thường những lời dạy bảo của ông. Một buổi chiều ông Samuen bắt Tôm phải vứt tất cả mọi đồ thí nghiệm của em đi. Tôm quá bực dọc nên quyết định bỏ nhà ra đi. Khi cậu vừa ra khỏi nhà thì mẹ cậu đột nhiên nổi cơn đau bụng dữ dội, lúc ấy cha cậu đi xa chưa về. Chị gái cậu là Tania chạy ra ga kịp gọi Tôm về. Tôm lập tức đi gọi bác sĩ còn Tania lên tàu đi Đi-tơ-roi để tìm anh trai cả là Bin. Bác sĩ đến chẩn đoán mẹ Tôm bị đau ruột thừa phải mổ gấp nhưng lúc ấy trời đã tối, mổ trong ánh sáng tù mù rất nguy hiểm, bác sĩ loay hoay không biết phải làm sao. Tôm chợt nghĩ ra một cách: Cậu đến hiệu tạp hoá định mượn một cái gương to nhưng cửa hiệu đã đóng. Không chút do dự, cậu đập vỡ cửa kính bê cái gương ra. Cậu để gương lên bàn, đốt tất cả các đèn nến để trước gương, ánh sáng phản chiếu từ gương hắt lên hố định dùng làm bàn mổ sáng như ban ngày. Bác sĩ rất mừng, ông lập tức bắt tay vào việc, và mẹ cậu đã được cứu thoát khỏi cơn hiểm nghèo.

    Trưa hôm sau, Tôm ra ga đón chị Tania và anh Bin. Cả nhà ga cũng lo sợ vì vừa nhận được điện báo chiếc cầu trên đường Pathurôn - Đi-tơ-roi bị gãy mà tàu số 7 đang lao vùn vụt trên theo hướng đó. Trên tàu ấy có cả anh Bin và chị Tania. Mọi người ở nhà ga kêu khóc và chạy lung tung, bối rối không biết phải làm sao. Lúc đó, một đầu tàu đi qua chợt kéo một hồi còi dài, một hồi còi ngắn để dẹp đường. Tiếng còi đã làm Tôm nảy ra một kế: cậu chạy đến chiếc tàu, đến bên chiếc tay quay để kéo còi, em kéo từng hồi còi theo tín hiệu moóc-xơ cho Tania: “Tania, hãm tàu lại, cầu gãy”. (Tania đã được Tôm dạy cho biết tín hiệu moóc-xơ). Trong lúc ấy, Tania đang trên tàu số 7, và thiu thiu ngủ, chợt cô nghe mơ màng như tiếng còi gọi đúng tên cô. Đúng rồi, Tôm đang đánh điện nhắc cho cô. Tania chạy vụt ra cửa toa bảo bác lái tàu hãm lại. Bác lái lúc đầu không chịu, tưởng em ngủ mơ nhưng Tania hét toáng lên khiến hành khách hoảng hồn. Bác lái đành hãm tàu lại cách chỗ cầu gãy gần 1 km và cho chạy từ từ. Hú vía, quả là cầu bị nước cuốn trôi, chỉ chút xíu nữa là cả đoàn tàu lao xuống sông, may mà Tôm báo kịp.

  8. #8
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    16 tuổi, Edison lên tỉnh lị Đi-tơ-roi làm điện báo viên, ít lâu sau cậu chuyển sang làm điện báo ở Xitơratpho. Nhưng không lâu sau Tôm nhận thấy rằng công việc đó không thú lắm, vất vả mà lương chỉ vỏn vẹn 25 đô la một tháng, chủ công ty lại là người khắc nghiệt. Edison bỏ đi Mi-chi-gân, đang lang thang không một xu dính túi thì vừa hay đường dây điện báo từ công ty Mi-chi-gân tới ga Ađơrian bị đứt, không tìm được người nối dây vì lúc ấy giữa trưa. Tôm liền xin chữa. Xong công việc giám đốc công ty nhận Tôm vào làm với mức lương 80 đô la một tháng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn Tôm mất việc vì một sự bất ngờ: giám đốc sai cậu điện tới ga một tin khẩn, đường dây lúc đó đang bận, Tôm xin cắt đường dây để điện đi, Giám đốc đồng ý, nhưng ông Tổng Giám đốc biết chuyện bèn gọi Tôm lên quát nạt và sa thải (vì chỉ có Tổng giám đốc mới có quyền cho cắt đường dây), ông giám đốc hèn nhát không dám bênh Tôm. Thế là Tôm lại ra đi, anh đã trải qua nhiều chỗ làm nhưng ở đâu anh cũng bị bóc lột tàn tệ, chế độ làm việc khắc nghiệt. Tôm chẳng có thời gian suy nghĩ làm các thí nghiệm. Vả lại ước mơ của Tôm đâu phải suốt đời làm một điện báo viên, trong đầu anh có biết bao dự định. Anh đã đi NewYork - thành phố lớn nhất nước Mỹ, anh hy vọng thành phố lớn ấy có thể tạo cho anh con đường thoát khỏi mọi khó khăn bế tắc. Edison may mắn xin được vào làm ở công ty Gôn Ri-pôt-tinh, một công ty chuyên theo dõi giá vàng trên thị trường. Để làm được điều này công ty có những tổng đài điện báo khổng lồ, khó vận chuyển và bảo quản, hay hỏng hóc. Anh nhận được chân kiểm tra máy móc với mức lương khá hậu hĩnh. Công việc rất bận, làm 20h mỗi ngày, khiến anh bị kiệt sức rất nhanh. Vậy là sau một thời gian, tích luỹ được chút vốn, Edison đã cùng một người bạn là Flanklin Pop mở chung một văn phòng chuyên hướng dẫn về điện, xây lắp, bảo quản và sửa chữa đường dây điện báo, đường dây cáp, nguồn điện… Công việc của họ khá chạy. Điều quan trọng là Tôm được chủ động trong công việc của mình và không bị ai bóc lột. Năm ấy Edison 22 tuổi, cũng từ đây được giải phóng sức lao động của mình, Edison cho ra đời hàng ngàn phát minh.

    Công trình đầu tiên mà Edison làm là hoàn chỉnh hệ thống điện báo nhận các tin tức hối đoái ngân hàng. Đó là chiếc máy Tic-cơ do Lao-xơ phát minh năm 1867. Flanklin Pop cải tiến vài bộ phận nhỏ, sau đó năm 1869, Edison cải tiến thêm cho thật hoàn chỉnh. Đó là loại máy điện báo duy nhất hồi đó nhận nhanh các tin tức hối đoái ngân hàng. Tin đồn hoàn chỉnh máy Tic-cơ lan đi rất nhanh trong các giới liên quan đến ngân hàng. Lep-phe, một chủ tư bản hồi ấy đã quyết định mua lại của Edison chiếc máy ấy cùng với tất cả hồ sơ lý lịch của máy. Lep-phe hỏi giá máy định tính là bao nhiêu. Edison nghĩ mãi: ba ngàn hay năm ngàn đô. Ba ngàn thì ít mà năm ngàn thì hơi cao. Lưỡng lự mãi, anh trả lời rằng tuỳ Lep-phe định giá. Lep-phe đã trả Edison số tiền mà anh hết sức kinh ngạc: 40 ngàn đô la. Từ đó Edison rút ra kinh nghiệm không nên nói giá phát minh mà để người mua trả trước. Nhờ số tiền này mà Edison đã mở được một xưởng nhỏ chuyên làm theo hợp đồng, công việc rất phát triển, anh phải thuê thêm tới 50 công nhân. Anh em công nhân trong xưởng của Edison được hưởng mức lương cao, tinh thần lao động thoải mái. Từ một xưởng, dần dà Edison phải mở tới ba xưởng mới làm hết việc. Có những công ty điện báo ký hợp đồng vĩnh viễn với Edison về việc trông coi, sửa chữa máy cho họ.

    Edison hăng say làm việc đến nỗi xảy ra một giai thoại hy hữu: Ông quên cả ngày cưới của mình. Trong ngày cưới, ông bỏ mặc quan khách chờ đợi, bỏ xuống phòng thí nghiệm nghiên cứu tiếp chiếc máy. May mà cô dâu biết, cô bảo anh trai cô xuống phòng thí nghiệm tìm. Sau khi lập gia đình, Edison càng hăng say làm việc, tên tuổi ông nhanh chóng vượt ra khỏi khuôn khổ nước Mỹ. Năm 1873, nhận lời mời của Tổng công ty bưu điện Anh, Edison đáp tàu sang Anh. Trong chuyến đi này ông đã thí nghiệm thành công việc đặt máy liên lạc giữa Luân-đôn và Li-vơ-pun. Về nước, Edison lại lao vào những tìm tòi, phát minh mới. Kết quả là chỉ từ năm 1873 đến 1876 ông đã đệ trình tới 45 phát minh lên cơ quan “Tổng quản lý các phát minh và sáng kiến” Mỹ để cấp bằng. Mùa hè năm 1875, Edison viết thư mời cha về ở cùng. Ông Samuen khi ấy đã ngoài bảy mươi, nhận được thư con, ông đi ngay. Tuy già nhưng ông còn rất khoẻ, ông đã giúp con trai trông coi xưởng máy. Ông già còn tìm giúp con trai một khu đất rộng, đẹp, thuận tiện, cách New York 25 dặm, có tên là Menlô Pac- một làng nhỏ và khá đẹp để Edison xây dựng, mở rộng xưởng của mình. Từ đây, Edison cho ra đời rất nhiều phát minh. Edison ký hợp đồng với một liên đoàn sản xuất máy điện thoại nhằm cải tiến loại máy này. Hồi đó điện thoại chỉ nói chuyện và nghe rõ trong một khoảng cách gần. Edison dùng than nguyên chất làm màng rung ở ống nói và thêm một cuộn cảm ứng vào trong máy. Nhờ màng than có độ nhạy cao và tiếp xúc tốt nên dòng điện ở ống nói biến đổi rất đúng với tiếng nói gốc. Nhờ cuộn cảm ứng mà dòng điện một chiều của ống nói được biến đổi thành dòng điện xoay chiều rồi đưa lên đường dây và truyền đi rất xa. ít lâu sau Edison sáng chế ra một số kiểu máy điện thọai khác như điện thoại dùng điện xoay chiều, điện thoại từ thạch, điện thoại cộng điện, điện thoại chạy bằng pin nước, điện thoại chạy bằng pin khô…

    Một phát minh nữa lại ra đời: ống nói. Một nghiệp đoàn ở Anh vội đánh điện cho Edison: Mua phát minh ống nói, trả ba vạn. Edison đồng ý bán, nhưng khi nhận tiền ông ngạc nhiên thấy ngân phiếu là 75 vạn đô la. Thì ra ba vạn trong ngân phiếu là ba vạn Lia Xiteclinh, quy ra đô la là 75 vạn. Phát minh nối tiếp phát minh và tiền cứ đổ về với ông như nước chảy. Ông phải đặt một văn phòng kế toán ở Menlô Pac gồm 10 người để họ tính toán tài sản thay ông.

  9. #9
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Chế tạo được máy ghi âm - thành công chấn động nhân loại
    Từ năm 1877 khi nghiên cứu cải tiến chiếc máy điện thoại tự động, Edison cứ suy nghĩ mãi làm sao giữ được tiếng nói. Ông nhận xét thấy mỗi lần để mũi kim trượt trên một băng bằng kim loại có những rãnh, những lỗ khác nhau thì lại thấy những âm thanh khác nhau phát ra. Đến khi thực hiện cải tiến máy điện thoại, ông lại hiểu thêm rằng những rung động nhẹ của âm thanh có thể truyền đi được bằng dòng điện, như vậy tất phải ghi nó lại được. Thế là ông quyết định làm bằng được “chiếc máy biết nói”. Biết được quyết định này của ông, người thì bảo ông nuôi ảo tưởng, người thì bảo ông suy nghĩ quá hoá rồ, kẻ thì bảo ông ngông cuồng muốn chiếm cả quyền tạo hoá. Mặc, Edison chỉ bảo họ rằng: “Nếu như vậy bao giờ ta mới chế ngự được thiên nhiên”. Sau hai tuần lễ miệt mài trong phòng thí nghiệm, một hôm Edison mời tất cả mọi người vào phòng thí nghiệm. Một chiếc máy kỳ dị đặt trên bàn, Edison mở đầu: “Ai yếu tim thì xin ra ngoài kẻo tôi không chịu trách nhiệm về tính mạng người đó đâu nhé”. Mọi người nhìn nhau, ai cũng rờn rợn, lo sợ, tim đập gấp trong lồng ngực. Edison mở máy và đột nhiên một bài hát quen thuộc của thời đó vang lên rõ ràng “Cô Ma-ri-a có một con cừu bé”. Ai nấy kinh hãi sững người, hết nhìn máy lại nhìn Edison, một người nào đó bảo: “Đức Chúa đã giáng thế”. Khi Edison thông báo cho thế giới biết phát minh của mình thì không ai tin cả, ngay đến ông chủ nhật báo Khoa học Mỹ cũng khăng khăng đó không phải là sự thật. Edison liền mang máy đó đến tận phòng ông ta và mở máy cho hát vang lên những bài ca do chính Edison hát và máy ghi lại. Ông này vội vàng kêu lên: “Ngừng máy lại, trời sụp bây giờ đây này”. Hôm sau trên trang nhất các tờ báo ở Hoa Kỳ đều đăng trang trọng những tít lớn về “Chiếc hộp biết hát”, người ta tranh cướp nhau những tờ báo để đọc, càng đọc càng ngạc nhiên không hiểu nổi. Phát minh này truyền sang châu Âu khiến cả châu lục này ngạc nhiên, nhiều giai thoại thú vị phát sinh quanh chiếc máy này, chẳng hạn ở Nga người ta sợ hãi gọi đây là “chiếc hộp ma quỷ”. Tiếng đồn cũng vang đến tai đức giáo chủ Vanh Xanh ở New York. Giáo chủ không sao tin được nên đến tận nơi đề nghị Edison ghi và phát lại chính tiếng nói của giáo chủ. Sau khi giáo chủ xem xét kỹ … gầm bàn, gầm ghế xem có ai nấp ở đó không, cuối cùng giáo chủ e hèm dọn giọng rồi tuôn ra hàng tràng tiếng La tinh nhanh như gió. Xong việc, giáo chủ xoa tay: “Nào, bây giờ ông cho máy nói thử xem”. Edison mở máy, cái máy đầu tiên cũng e hèm dọn giọng rồi nhắc lại tràng tiếng la tinh đó nhanh y như thế. Giáo chủ sững sờ không đứng lên nổi, người bảo: “Cho đến nay cả nước Mỹ này chưa có ai nhắc lại những lời vừa rồi của cha đâu nhé”. “Nhưng có máy của tôi làm được” - Edison mỉm cười đáp.

    Thoả mãn trong việc giữ lại tiếng nói, Edison tập trung vào nghiên cứu bóng đèn điện bởi vì ông rất khó chịu khi buổi tối cứ phải làm việc trong ánh đèn dầu tù mù. Ông nhiều đêm mất ngủ vì cái dây tóc bóng điện, nhiều nhà vậy lý đã loay hoay thí nghiệm tìm cái dây tóc bóng điện nhưng đều thất bại. Sau rất nhiều thí nghiệm, Edison nhận thấy chỉ có sợi bông là có vẻ bền hơn cả. Và ngày 21/10/1879, đèn điện ra đời. Cả phòng thí nghiệm hồi hộp theo dõi đôi bàn tay quý giá của Edison. Hai đầu dây điện vừa chập lại với nhau thì một luồng ánh sáng trắng, chói loà như chớp bừng lên. Đèn điện sáng đúng 47 tiếng mới tắt. Tin thành công trong việc chế tạo đèn điện lan truyền khắp chốn. Người ta kéo về Menlô Pác xem bóng đèn điện đông như hội. Đèn điện ra đời đã đem ban ngày thay thế cho ban đêm. Chỉ một thời gian ngắn sau, khắp New York đã được dùng đèn điện. Sau thành công đèn điện, nhờ một sự tình cờ, Edison phát minh ra xe điện. Số là có nhiều người đến xem đèn điện, trong đó có một cụ già đi bộ tới 12 dặm, cụ ngồi nghỉ bên đường và vừa bóp chân vừa đấm lưng. Đúng lúc ấy Edison đi qua, thấy bà cụ thế ông bèn dừng lại hỏi thăm. Bà cụ bảo giá mà Edison nghĩ được cái xe không cần ngựa kéo mà vẫn đi được thì tốt. Thế là trong óc Edison loé lên ý nghĩ làm xe điện. Chỉ cần ba tuần sau xe điện đã ra đời.

    Giải quyết xong việc chế tạo đèn điện, Edison lại nghiên cứu tiếp việc giữ lại hình ảnh. Sau nhiều thí nghiệm, cuối cùng Edison đã thành công trong việc chụp nhiều hình ảnh liên tiếp trên cùng một băng nhựa. Cũng như lần trước, những người cộng tác với ông và công nhân trong xưởng là những người đầu tiên được xem thành tựu của ông. Hôm ấy Edison mời mọi người vào phòng kín “xem chiếu bóng” : những hình ảnh quen thuộc hàng ngày như những hàng cây trong vườn, đặc biệt là chúng lay động khi gió thổi. Và kìa, một con chó vẫy đuôi. Cuối cùng mọi người ngạc nhiên đến kinh sợ khi thấy Edison xuất hiện trên truyền hình, ông đi đi lại lại, ngã mũ chào. Rồi thì vợ con ông chơi bóng… Đèn bật sáng, mọi người hoan hô và xô lại chúc mừng thành công mới của ông. Tiếp đó Edison phát minh ra đèn ống. Với phát minh này, Edison đã đi bước đầu tiên khám phá ra điện tử. Sau ba năm, Edison đã nhận thêm một bằng phát minh về vô tuyến điện báo. Rồi nền công nghiệp nặng của Hoa Kỳ bắt đầu phát triển mạnh. Các nhà máy, xí nghiệp đòi hỏi số lượng sắt ngày một nhiều. Edison đã góp phần thúc đẩy sự phát triển đó khi nghiên cứu thành công phương pháp lấy sắt khỏi quặng bằng từ trường.

    Năm tháng trôi qua, phát minh nối tiếp phát minh, Edison chẳng bao giờ chịu nghỉ. Hầu như lúc nào Edison cũng bận rộn với các thí nghiệm, với các ý nghĩ nối tiếp nhau không dứt. Những năm cuối đời, bệnh tình Edison ngày càng nặng nhưng ông vẫn cố gắng làm việc nhiều hơn, có khi suốt đêm trong phòng thí nghiệm. Thầy thuốc và gia đình cố bắt ông nghỉ nhưng cứ xểnh ra lúc nào là ông lại xuống phòng thí nghiệm. Sáng hôm ấy như thường lệ, vợ ông chờ ông ở phòng ăn sáng nhưng mãi không thấy. Bà xuống phòng thí nghiệm gọi ông thì ông đã chết từ khi nào. Đó là ngày 18 tháng 10 năm 1931. Cả bang Vét Orangiơ để tang, cả nước Mỹ đau thương, báo chí mang dải băng tang. Những chiếc máy điện báo - phát minh của ông đã loan báo tin buồn ra khắp thế giới “Edison đã từ trần”. Từng đoàn người nghẹn ngào diễu qua linh cữu ông. Nhà phát minh vĩ đại của nhân loại đã buộc phải nghỉ ngơi vĩnh viễn nhưng tên tuổi ông chói sáng mãi mãi như một vì sao trên bầu trời nhân loại.

    (Duy Anh - Tổng hợp từ Bác-bu A-pê-lê-vi-a-nu, Ê-đi-xơn, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1977)

  10. #10
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Alexandre Yersin – Nhà khoa học, người thầy vĩ đại


    Alexandre Yersin (1863 – 1943)

    Ngày nay người Việt Nam và những người làm công tác khoa học trên thế giới, không mấy ai không biết tên Yersin. Đi qua một số thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt... chúng ta đều thấy những con đường mang tên ông. Tại Bình Dương, một tỉnh nhỏ cũng có con đường lớn và dài xuyên qua trung tâm thị xã Thủ Dầu Một mang cái tên rất đỗi thân thuộc: Đường Bác sĩ Yersin.

    Sinh ra ở Thụy Sĩ ngày 22/9/1863, cha mẹ là người gốc Pháp, tuổi trẻ của Alexandre Yersin đã trải qua hai trường Đại học Y khoa ở Lausanne (Thụy Sĩ) và Menbourg (Đức) nhưng đều không thành đạt. Năm 23 tuổi ông sang Pháp và xin vào làm kỹ thuật viên tại bệnh viện Hotel Dieu Paris. Tại đó ông đã may mắn gặp được Louis Pasteur và được nhận vào làm việc ở phòng thí nghiệm vi trùng của Pasteur. Vừa làm việc, Yersin vừa nghiên cứu một đề tài khoa học nhỏ để làm luận án tốt nghiệp Đại học Y khoa. Hai năm sau ông đã bảo vệ thành công xuất sắc luận án này và được xếp vào loại công trình khoa học có giá trị thời bấy giờ. Khi đó Yersin tròn 25 tuổi và vừa nhập quốc tịch Pháp.

    Ngày 01/01/1889, viện Pasteur Paris chính thức thành lập, đây là nơi mà Yersin và giới y học Pháp mơ ước được làm việc. Thế nhưng tháng 9/1890, ông đã rời Pháp đi Viễn Đông với một niềm đam mê mãnh liệt là nghiên cứu những miền đất này. Ông đã đến Việt Nam, và tháng 7/1891 ông đặt chân đến Nha Trang.

    Tại Việt Nam, ông nhận nhiệm vụ của nhà đương cục Pháp ở Đông Dương đi điều tra vùng rừng núi phía Đông sông Mê Kông tới bờ biển Việt Nam. Từ năm 1892 đến 1894 ông đã thực hiện 3 cuộc thám hiểm trong 13 tháng để tìm hiểu về đất đai, tài nguyên, dân cư, khí hậu... Chính trong thời gian này ông đã tìm ra Đà Lạt trên cao nguyên Lang Bian vào tháng 6/1893 và đề nghị Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer thành lập một thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh tại đây. Đề nghị đó đã được chấp nhận và mấy năm sau thành phố Đà Lạt được khởi công xây dựng.

    Năm 1893, bệnh dịch hạch bùng nổ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hồng Kông. Nạn dịch này lớn chưa từng thấy và đã cướp đi rất nhiều sinh mạng. Tại Hồng Kông lúc đó dân số chỉ có 200.000 người nhưng đã có tới 100.000 người phải bỏ chạy khỏi vùng đất này tỷ lệ tử vong của căn bệnh này lên đến 95%. Yersin đã xin được đi Hồng Kông để nghiên cứu và chỉ 5 ngày sau khi đến nơi, ông đã phát hiện được vi trùng dịch hạch. Sau 49 ngày ở Hồng Kông, ông trở về Việt Nam nghiên cứu và chế tạo thành công vaccin chống dịch hạch để gửi đi các nơi đang có dịch bệnh hoành hành.

    Sau thành công lớn về chống dịch hạch, Yersin thành lập phòng thí nghiệm và nghiên cứu vi trùng ở Nha Trang. Công việc đang tiến hành thì Toàn quyền Đồng Dương bổ nhiệm ông làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Y Hà Nội. Sau hai năm xây dựng và tổ chức, ổn định việc đào tạo cho nhà trường, ông xin được trở lại Nha Trang.

    Về Nha Trang, ông đã dùng toàn bộ tiền dành dụm, tiền thưởng của Viện Hàn lâm Pháp, kể cả vay mượn, để tổ chức khai hoang vùng Suối Dầu, cách Nha Trang 20km, làm khu chăn nuôi, trồng trọt phục vụ cho công tác nghiên cứu, làm một con đường lên đỉnh núi Hòn Bà cách đó 30km để khai hoang trồng thử nghiệm cây quinquina lấy vỏ chiết xuất ra chất quinine điều trị bệnh sốt rét. Tại đây, ông còn đem giống cây cao su về trồng thí nghiệm và sau này thành công, phát triển ra nhiều tỉnh khác trong toàn quốc. Cây cao su và cây quinquina được ông lấy giống từ Indonesia về vì trước đó ở Việt Nam chưa có các giống cây này. Việc trồng quinquina trên đỉnh đồi Hòn Bà không thành công do không hợp thổ nhưỡng. Yersin không nản chí đã chuyển lên trồng ở cao nguyên Dran và Lang Bian. Tại đây ông đã thành công ngoài mong muốn: năm 1926 ông thu hoạch lứa quinquina đầu tiên và chiết xuất được quinine với hàm lượng cao. Sau đó ông đã phát triển trồng ở Đà Lạt được 671 ha quinquina, hàng năm thu được hàng chục tấn vỏ. Lúc bấy giờ trên thế giới bệnh sốt rét vẫn đang hoành hành nên quinina rất quý.

    Hơn 50 năm ở Nha Trang, Yersin đã nghiên cứu thành công 50 công trình khoa học, trong đó có 40 đề tài về y học và 10 đề tài về nông nghiệp. Ông đã từng giữ các chức vụ: Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà Nội, Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp, Chủ tịch danh dự Hội đồng khoa học Viện Pasteur Paris, Viện trưởng Viện Pasteur Đông Dương. Bên cạnh y học và nông nghiệp, ông còn say mê nghiên cứu thiên văn, sử dụng máy quay phim, máy chụp ảnh, vô tuyến điện và ham mê văn học, dịch thuật...

    Là một nhà bác học vĩ đại, nhưng Yersin sống rất giản dị và giàu lòng nhân ái. Hơn 50 năm ở Nha Trang, ông sống trong một căn nhà đơn sơ ở xóm Cồn giữa những người dân chài lưới và đem những hiểu biết của mình nhiệt tình giúp đỡ họ.

    Yersin đã dành hơn nửa thế kỷ cuộc đời mình ở Việt Nam. Ông mất năm 1943 và theo nguyện vọng của ông, những người dân ở Nha Trang cùng các nhà chức trách người Pháp đã đưa ông lên an táng tại Suối Dầu. Trên nấm mộ của ông có khắc dòng chữ giản dị: Alexandre Yersin 1863-1943. Ở đó, ngày nay những người dân Nha Trang và du khách vẫn thường đến tháp hương và đặt hoa trên mộ ông.

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/3 123 CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 14
    Bài cuối: 10-07-2010, 10:13 PM
  2. Câu lạc bộ nghiên cứu khoa học Khoa Điện tử viễn thông
    Gửi bởi WTDOng trong mục Diễn đàn Học tập và Nghiên cứu KH Sinh viên
    Trả lời: 41
    Bài cuối: 22-05-2010, 04:02 PM
  3. Trả lời: 23
    Bài cuối: 25-03-2009, 10:15 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube