User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/2 12 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 14

Chủ đề: Mạng viễn thông thế hệ mới - NGN

  1. #1
    Stanley Ipkiss Avatar của The Fool
    Tham gia ngày
    Jul 2003
    Bài gửi
    867

    Mặc định Mạng viễn thông thế hệ mới - NGN

    Mạng viễn thông thế hệ mới (Next Generation Network-NGN) đang là xu hướng ở nhiều nước trên thế giới do các tính chất tiên tiến của nó như hội tụ các loại tín hiệu, mạng đồng nhất và băng thông rộng. Tại Việt Nam, lĩnh vực viễn thông đang phát triển rất mạnh và nhu cầu của người dùng về các loại hình dịch vụ mới ngày càng cao vì vậy việc tiến lên NGN cũng là vấn đề cấp bách. Bài viết giới thiệu một số thông tin tổng quát về mạng NGN.

    TỔNG QUAN VỀ NGN

    NGN là mạng hội tụ cả thoại, video và dữ liệu trên cùng một cơ sở hạ tầng dựa trên nền tảng IP, làm việc trên cả hai phương tiện truyền thông vô tuyến và hữu tuyến. NGN là sự tích hợp cấu trúc mạng hiện tại với cấu trúc mạng đa dịch vụ dựa trên cơ sở hạ tầng có sẵn, với sự hợp nhất các hệ thống quản lý và điều khiển. Các ứng dụng cơ bản bao gồm thoại, hội nghị truyền hình và nhắn tin hợp nhất (unified messaging) như voice mail, email và fax mail, cùng nhiều dịch vụ tiềm năng khác.

    Các đặc điểm của NGN:

    1. Sử dụng công nghệ chuyển mạch mềm (SW-SoftSwitch) thay thế các thiết bị tổng đài chuyển mạch phần cứng (hardware) cồng kềnh. Các mạng của từng dịch vụ riêng rẽ được kết nối với nhau thông qua sự điều khiển của một thiết bị tổng đài duy nhất, thiết bị tổng đài này dựa trên công nghệ SW được ví như là 'trái tim' của NGN.

    2. Mạng hội tụ thoại và dữ liệu, cố định và di động. Các loại tín hiệu được truyền tải theo kỹ thuật chuyển mạch gói, xu hướng sắp tới đang tiến dần lên sử dụng mạng IP với kỹ thuật QoS như MPLS.

    3. Mạng băng thông rộng cung cấp đa dịch vụ: Mạng truyền dẫn quang với công nghệ WDM (Wavelength Division Multiplexing) hay DWDM (dense WDM).

    CẤU TRÚC MẠNG NGN

    Cấu trúc mạng NGN bao gồm 5 lớp chức năng: lớp truy nhập dịch vụ (service access layer), lớp chuyển tải dịch vụ (service transport/core layer), lớp điều khiển (control layer), lớp ứng dụng/dịch vụ (application/service layer) và lớp quản lý (management layer). Hình 1 thể hiện cấu trúc của NGN.

    Lớp ứng dụng/dịch vụ

    Lớp ứng dụng và dịch vụ cung cấp các ứng dụng và dịch vụ như dịch vụ mạng thông minh IN (Intelligent network), trả tiền trước, dịch vụ giá trị gia tăng Internet cho khách hàng thông qua lớp điều khiển... Hệ thống ứng dụng và dịch vụ mạng này liên kết với lớp điều khiển thông qua các giao diện mở API. Nhờ giao diện mở này mà nhà cung cấp dịch vụ có thể phát triển các ứng dụng và triển khai nhanh chóng các dịch vụ trên mạng. Trong môi trường phát triển cạnh tranh sẽ có rất nhiều thành phần tham gia kinh doanh trong lớp này.

    Lớp điều khiển

    Lớp điều khiển bao gồm các hệ thống điều khiển kết nối cuộc gọi giữa các thuê bao thông qua việc điều khiển các thiết bị chuyển mạch (ATM+IP) của lớp chuyển tải và các thiết bị truy nhập của lớp truy nhập. Lớp điều khiển có chức năng kết nối cuộc gọi thuê bao với lớp ứng dụng/dịch vụ. Các chức năng như quản lý, chăm sóc khách hàng, tính cước cũng được tích hợp trong lớp điều khiển.


    Lớp chuyển tải dịch vụ

    Bao gồm các nút chuyển mạch (ATM+IP) và các hệ thống truyền dẫn (SDH, WDM), thực hiện chức năng chuyển mạch, định tuyến các cuộc gọi giữa các thuê bao của lớp truy nhập dưới sự điều khiển của thiết bị điều khiển cuộc gọi thuộc lớp điều khiển. Hiện nay đang còn nhiều tranh cãi khi sử dụng ATM hay MPLS cho lớp chuyển tải này.

    Lớp truy nhập dịch vụ

    Bao gồm các thiết bị truy nhập cung cấp các cổng kết nối với thiết bị đầu cuối thuê bao qua hệ thống mạng ngoại vi cáp đồng, hoặc cáp quang, hoặc thông qua môi trường vô tuyến (thông tin di động, vệ tinh, truy nhập vô tuyến cố định...)

    Lớp quản lý

    Đây là lớp đặc biệt xuyên suốt các lớp trên. Các chức năng quản lý được chú trọng là: quản lý mạng, quản lý dịch vụ, quản lý kinh doanh.



    CÁC THÀNH PHẦN CỦA MẠNG NGN

    Mối tương quan giữa cấu trúc phân lớp chức năng và các thành phần chính của mạng NGN được mô tả trong hình 2.

    Theo hình 2 ta nhận thấy, các loại thiết bị đầu cuối kết nối đến mạng truy nhập (Access Network), sau đó kết nối đến các cổng truyền thông (Media Gateway) nằm ở biên của mạng trục. Thiết bị quan trọng nhất của NGN là SW nằm ở tâm của mạng trục (còn hay gọi là mạng lõi). SW điều khiển các chức năng chuyển mạch và định tuyến qua các giao thức. Các giao thức này sẽ được xem xét kỹ ở phần sau. Hình 3 liệt kê chi tiết các thành phần trong mạng NGN cùng với các đặc điểm kết nối của nó đến các mạng công cộng (PSTN).

    Mô tả hoạt động của các thành phần:

    Thiết bị SW
    Thiết bị SW là thiết bị đầu não trong mạng NGN. Nó làm nhiệm vụ điều khiển cuộc gọi, báo hiệu và các tính năng để tạo một cuộc gọi trong mạng NGN hoặc xuyên qua nhiều mạng khác (ví dụ PSTN, ISDN). SW còn được gọi là Call Agent (vì chức năng điều khiển cuộc gọi của nó) hoặc Media Gateway Controller - MGC (vì chức năng điều khiển cổng truyền thông - Media Gateway).

    Thiết bị SW có khả năng tương tác với mạng PSTN thông qua các cổng báo hiệu (Signalling Gateway) và cổng truyền thông (Media Gateway). SW điều khiển cuộc gọi thông qua các báo hiệu, có hai loại chính:

    - Ngang hàng (peer-to-peer): giao tiếp giữa SW và SW, giao thức sử dụng là BICC hay SIP.

    - Điều khiển truyền thông: giao tiếp giữa SW và Gateway, giao thức sử dụng là MGCP hay Megaco/H.248.

    Cổng truyền thông

    Nhiệm vụ chủ yếu của cổng truyền thông (MG - Media Gateway) là chuyển đổi việc truyền thông từ một định dạng truyền dẫn này sang một định dạng khác, thông thường là từ dạng mạch (circuit) sang dạng gói (packet), hoặc từ dạng mạch analog/ISDN sang dạng gói. Việc chuyển đổi này được điều khiển bằng SW. MG thực hiện việc mã hóa, giải mã và nén dữ liệu thoại.

    Ngoài ra, MG còn hỗ trợ các giao tiếp với mạng điện thoại truyền thống (PSTN) và các giao thức khác như CAS (Channel Associated Signalling) và ISDN. Tóm lại, MG cung cấp một phương tiện truyền thông để truyền tải thoại, dữ liệu, fax và hình ảnh giữa mạng truyền thống PSTN và mạng gói IP.

    Cổng truy nhập

    Cổng truy nhập (AG - Access Gateway) là một dạng của MG. Nó có khả năng giao tiếp với máy PC, thuê bao của mạng PSTN, xDSL và giao tiếp với mạng gói IP qua giao tiếp STM. Ở mạng hiện nay, lưu lượng thoại từ thuê bao được kết nối đến tổng đài chuyển mạch PSTN khác bằng giao tiếp V5.2 thông qua cổng truy nhập. Tuy nhiên, trong mạng NGN, cổng truy nhập được điều khiển từ SW qua giao thức MGCP hay Megaco/H.248. Lúc này, lưu lượng thoại từ các thuê bao sẽ được đóng gói và kết nối vào mạng trục IP.
    Học như nghịch thủy hành châu, bất tiến tất thoái.
    Tâm như bình nguyên mục mã, dị phóng nan truy.


  2. #2
    Stanley Ipkiss Avatar của The Fool
    Tham gia ngày
    Jul 2003
    Bài gửi
    867

    Mặc định



    Hình 3: Các thành phần chính trong NGN

    Cổng báo hiệu

    Cổng báo hiệu (SG - Signalling Gateway) đóng vai trò như một cổng giao tiếp giữa mạng báo hiệu số 7 (SS7 - Signalling System 7, giao thức được dùng trong PSTN) và các điểm được quản lý bởi thiết bị SW trong mạng IP. Cổng SG đòi hỏi một đường kết nối vật lý đến mạng SS7 và phải sử dụng các giao thức phù hợp. SG tạo ra một cầu nối giữa mạng SS7 và mạng IP, dưới sự điều khiển của SW. SG làm cho SW giống như một điểm nút bình thường trong mạng SS7. Lưu ý rằng SG chỉ điều khiển SS7; còn MG điều khiển các mạch thoại thiết lập bởi cơ chế SS7.

    Mạng trục IP

    Mạng trục được thể hiện là mạng IP kết hợp công nghệ ATM hoặc MPLS. Vấn đề sử dụng ATM hay MPLS còn đang tách thành 2 xu hướng. Các dịch vụ và ứng dụng trên mạng NGN được quản lý và cung cấp bởi các máy chủ dịch vụ (server). Các máy chủ này hoạt động trên mạng thông minh (IN - Intelligent Network) và giao tiếp với mạng PSTN thông qua SS7.

    CÁC GIAO THỨC BÁO HIỆU TRONG MẠNG NGN

    Các giao thức và báo hiệu trong mạng NGN được thể hiện trong sơ đồ hình 4.

    Megaco/H.248
    Megaco và H.248 giống nhau, đều là giao thức điều khiển MG. Megaco được phát triển bởi IETF (đưa ra vào cuối năm 1998), còn H.248 được đưa ra vào tháng 5/1999 bởi ITU-T. Sau đó cả IETF và ITU-T cùng hợp tác thống nhất giao thức điều khiển MG, kết quả là vào tháng 6/2000 chuẩn Megaco/H.248 ra đời.

    Megaco/H.248 là báo hiệu giữa SW/MGC với MG (Trunking Media Gateway, Lines Media Gateway hoặc IP Phone Media Gateway). Megaco/H.248 điều khiển MG để kết nối các luồng từ ngoài. Sơ đồ điều khiển MG của Megaco/H.248 được thể hiện ở hình 5.

    Megaco/H.248 tương tự với MGCP về mặt cấu trúc và mối liên hệ giữa bộ điều khiển và cổng gateway, tuy nhiên Megaco/H248 hỗ trợ đa dạng hơn các loại mạng (ví dụ ATM).


    Hình 4: Sơ đồ các giao thức

    BICC

    BICC (Bearer Independent Call Control) là giao thức báo hiệu giữa 2 MGC/Call Server, có thể là từ các nhà cung cấp khác nhau, nhằm mục đích đảm bảo lưu lượng thoại dùng kỹ thuật gói (VoP - Voice over Packet). Theo ITU-T, BICC được thiết kế để có thể tích hợp hoàn toàn với các mạng hiện hữu và bất kỳ hệ thống nào có hỗ trợ việc chuyển tải bản tin nhắn thoại.

    BICC hỗ trợ các dịch vụ băng hẹp (PSTN, ISDN) một cách độc lập với đường truyền và kỹ thuật chuyển tải bản tin báo hiệu. Bản tin BICC chuyên chở cả thông tin điều khiển cuộc gọi và điều khiển đường truyền. BICC góp phần đơn giản hóa các báo hiệu sử dụng cho việc giao tiếp hoạt động giữa mạng truyền thống vào mạng NGN. Nói cách khác, mạng NGN với nền tảng mạng chuyển mạch gói có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ băng hẹp thông qua báo hiệu BICC.

    Trong BICC, giao thức báo hiệu điều khiển đường truyền phụ thuộc vào công nghệ đường truyền lớp dưới như ATM, IP/MPLS.

    Hình 6 mô tả ứng dụng của BICC trong việc liên kết hoạt động giữa mạng truyền thống (PSTN/ISDN) và mạng NGN. Hai thuê bao điện thoại truyền thống liên lạc với nhau thông qua sự điều khiển của softswitch theo báo hiệu BICC. Báo hiệu SIP sử dụng trong trường hợp 2 thuê bao IP phone hoặc một thuê bao IP phone liên lạc với một thuê bao điện thoại truyền thống.

    SIP

    SIP (Session Initiation Protocol) là giao thức điều khiển lớp ứng dụng được thiết kế và phát triển bởi IETF. Giao thức SIP được sử dụng để khởi tạo, điều chỉnh và chấm dứt các phiên làm việc với một hay nhiều yếu tố tham dự. Một phiên được hiểu là một tập hợp nơi gửi, nơi nhận liên lạc với nhau và trạng thái bên trong mối liên lạc đó. Ví dụ trạng thái có thể bao gồm cuộc gọi điện thoại Internet, tín hiệu đa phương tiện phân tán, hội nghị truyền thông đa phương tiện, hay có thể là trò chơi máy tính phân tán...

    Là giao thức báo hiệu mở, mềm dẻo và có khả năng mở rộng, SIP khai thác tối đa công cụ Internet để tạo ra nhiều dịch vụ mới trong mạng NGN. Sơ đồ giao thức báo hiệu SIP trong NGN được thể hiện trong hình 7. SIP còn được dùng làm báo hiệu giữa 2 SW như thể hiện ở hình 6.

    Giao thức khởi tạo phiên SIP thâm nhập vào thiết kế SW không chỉ như một giao thức báo hiệu cuộc gọi mà còn đóng vai trò của một cơ cấu vận chuyển cho các giao thức khác và cho báo hiệu của thiết bị SW đến các server ứng dụng và cho các hệ thống đáp ứng thoại tương tác hai chiều. Hiện nay SIP được dùng phổ biến cho Voice Over IP. Hiện nay, SIP đang trở thành lựa chọn thay thế H.323 để trở thành giao thức điểm nối điểm (end-to-end protocol) trong công nghệ SW.


    Hình 5: Sơ đồ điều khiển MG của Megaco/H.248

    H.323

    H.323 là giao thức chuẩn cho việc liên lạc bằng thoại, hình và dữ liệu trong hệ thống mạng IP (bao gồm mạng Internet). H.323 là tập hợp các chuẩn của ITU cho việc truyền thông đa phương tiện và là một trong những chuẩn chính cho VoIP như Megaco hay SIP.

    H.323 được công bố lần đầu tiên vào năm 1996 và phiên bản mới nhất (version 5) được hoàn thành vào năm 2003. Các thành phần trong cấu trúc H.323 gồm có terminal, gateway, gatekeeper... (tham khảo bài 'Kiến trúc H.323...' trên TGVT A 1/2004, tr.75).

    MGCP: Media Gateway Control Protocol

    MGCP là giao thức VoIP và là một chuẩn được xác định bởi IETF, được dùng để điều khiển MG từ MGC/SW. MGCP là một giao thức chủ tớ (master/slave) mà qua đó MG sẽ thực thi các lệnh được gửi từ MGC/SW. MG truyền tải các loại tín hiệu như thoại, dữ liệu, hình ảnh giữa mạng IP và mạng truyền thống (PSTN). Có thể hiểu, trong mô hình MGCP, các MG chú trọng vào chức năng phiên dịch tín hiệu âm thanh, trong khi SW đảm nhận chức năng xử lý báo hiệu và cuộc gọi.

    Chú ý, MGCP và Megaco/H.248 đều là giao thức điều khiển MG từ MGC/SW. Tuy nhiên, Megaco/H.248 là giao thức mới hơn và đang có xu hướng thay thế MGCP. Một số thiết bị được sản xuất hỗ trợ cả hai giao thức cùng một lúc.

    Hình 7: SIP trong mạng NGN

  3. #3
    Stanley Ipkiss Avatar của The Fool
    Tham gia ngày
    Jul 2003
    Bài gửi
    867

    Mặc định

    Kết luận

    Việt Nam, với xu thế phát triển và hội nhập, lĩnh vực điện tử - tin học - viễn thông đang có những bước tiến nhanh và mạnh trong việc ứng dụng các công nghệ mới trên thế giới nhằm cố gắng rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến. Kế hoạch phát triển viễn thông của Việt Nam tới năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt với mục tiêu xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông, tin học quốc gia tiên tiến, hiện đại, hoạt động hiệu quả, an toàn và tin cậy. Vì vậy mạng viễn thông thế hệ mới - NGN có khả năng đáp ứng những yêu cầu đặt ra.


    Phan Thanh Hào, Tôn Thất Thiện
    haophanthanh@yahoo.com, thientonthat@yahoo.com
    Bưu điện, TP.HCM

  4. #4
    Laziness is killing me... Avatar của Aprilsnow
    Tham gia ngày
    Oct 2002
    Bài gửi
    1.187

    Mặc định

    thanks, tài liệu rất hay và bổ ích.
    Tuy nhiên đang thắc mắc tại sao TG lại viết là
    3. Mạng băng thông rộng cung cấp đa dịch vụ: Mạng truyền dẫn quang với công nghệ WDM (Wavelength Division Multiplexing) hay DWDM (dense WDM).
    Vì WDM có 2 cấu hình chính là DWDM (dense WDM) và CDWM (coarse DWM). Đã nói là WDM sao lại dùng từ hay DWDM. Chẳng lẽ WDM=DWDM ????

    Kẻ thù lớn nhất của tôi là sự lười biếng và tự mãn
    Điểm yếu lớn nhất của tôi là sự thiếu tự tin và kém cỏi

    canhnguyen@svbkol.org

  5. #5
    svBK's Member Avatar của nohereman
    Tham gia ngày
    Oct 2005
    Bài gửi
    62

    Mặc định

    em đang làm đồ án về NGN, bác có tài liệu nào chỉ cho em cái

  6. #6
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Bandani
    Tham gia ngày
    Feb 2003
    Bài gửi
    599

    Mặc định

    Công nghệ truyền dẫn đâu đơn thuần chỉ là WDM hay DWDM. Phần quang thì có thể nói là thế (ở lớp 1). Còn một phần của lớp 2 vẫn phải sử dung SONET/SDH.
    - Mang NGN là gì: Mạng NGN là một thuật ngữ rất chung chung, NGN đảm bảo các đặc trưng: Dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, Có khả năng điểu khiển kiểm soát QoS, Cung cấp các dịch vụ với yêu cầu băng thông khác nhau...
    -Mạng NGN có thể chia làm 2 phần đó là Core network: bao gồm các Core router (Việt nam sử dụng router của juniper, HNI, DNG, HCM mỗi nơi một cái nối theo kiểu mesh). PHần thứ 2 là phần edge network là phần truy nhập gồm các edge router. Hiện nay phần này viết nam sử dụng giải pháp surpass của Siemens.
    - Chuyển mạch mềm là gì: Chuyển mạch mềm là chuyển mạch tại địa phương (phân tán), điều khiển chuyển mạch tập trung -> ưu điểm lớn nhất là giảm lưu lượng truyền dẫn toàn mạng (trước đây đều phải đưa về trung tâm chuyển mạch để chuyển mạch vì còn liên quan đến quản lí mạng và tính cước, không thể chuyển mạch lung tung tại địa phương mà không có sự quản lí chuyển mạch thống nhất được.
    - Nói lí thuyết thì dài dòng nhưng mà thực sự để có khái niệm chỉ đơn giản có vậy. Chứ nói một thôi một hỏi NGN là gì? Softswitch là gì? thì lại chịu!
    Vũ Trụ Nội Mạc Phi Phận Sự www.traveltovietnam.cc www.bookilook.com

  7. Tớ cảm ơn Bandani đã chia sẻ.


  8. #7
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Quote Nguyên văn bởi Bandani
    .
    - Chuyển mạch mềm là gì: Chuyển mạch mềm là chuyển mạch tại địa phương (phân tán), điều khiển chuyển mạch tập trung -> ưu điểm lớn nhất là giảm lưu lượng truyền dẫn toàn mạng (trước đây đều phải đưa về trung tâm chuyển mạch để chuyển mạch vì còn liên quan đến quản lí mạng và tính cước, không thể chuyển mạch lung tung tại địa phương mà không có sự quản lí chuyển mạch thống nhất được.
    Thắc mắc chú Bandani mỗi câu này, cái định nghĩa của chú hình như là định nghĩa hệ thống chuyển mạch phân tán hay tập trung, nó khác với khái niệm chuyển mạch mềm mà tớ biết "softswitch chỉ đơn giản là sử dụng phần mềm kết hợp với CPU để chuyển mạch, nó khác với các chuyển mạch cơ điện là các HT mạch cứng"
    http://encyclopedia.thefreedictionary.com/softswitch

    Tại sao tớ thắc mắc vì chính câu hỏi này bác H.T đã hạ gục một COCC ở lễ bảo vệ TNBK trong khi vẫn được 10, tớ đứng nghe mà cũng chả chịu được :2) :2) :2)

  9. #8
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Bandani
    Tham gia ngày
    Feb 2003
    Bài gửi
    599

    Mặc định

    Chuyển mạch cơ điện giờ có tồn tại thì cũng chỉ ở PABX thôi. Ở đâu thì cũng dùng chuyển mạch bằng bán dẫn rồi (trường chuyển mạch 64K (loại lớn nhất của Ericsson) mà cũng chỉ để vừa trong một cái tủ ngang tủ lạnh saratop). Cái ưu điểm nổi trội của softswitch được đánh giá là giảm lưu lượng truyền dẫn vì chuyển mạch tại địa phương. Còn điều khiển chuyển mạch thì lại là một con soft switch đặt tại trung tâm. Còn nói là dùng phần mềm để chuyển mạch. Nói gì thì nói ở mức tín hiệu điện thì làm gì có phần mềm. Tổng đài điện thoại giờ phần mêm điều khiển chuyển mạch cũng khủng khiếp lắm mà sao không gọi nó là softswitch.
    Bác nói softswith là dùng phần mềm để chuyển mạch thì cũng không sai. Em ở đây chỉ muốn nhấn mạnh đến cái ưu điểm của softswitch thôi. Ở chỗ em cũng triển khai softswitch dù sao em cũng sờ được con softswitch nó cũng "cứng" lắm.

  10. #9
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Hi hi lại phải thắc mắc với VTN cái nhỉ, chỉ xét riêng cái softswitch thì chú thấy cái gì chiếm vai trò chủ đạo, có phải là cái CT (software) làm nhiệm vụ chuyển mạch(switch) không, bởi vì nếu không sử dụng phần mềm(thuận tiện cho việc quản lí tính cước, nâng cấp và chi phí rẻ), người ta hoàn toàn có thể chế tạo các chuyển mạch cứng kể cả cơ điện lẫn bán dẫn, nhưng lúc đó việc phân tích các khe thời gian, nội dung gói tin để chuyển mạch là do phần cứng (mạch logic) quyết định (chú không thể thay đổi dễ dàng đâu trừ phi chú sử dụng các linh kiện PLD ...)

    Còn việc giảm lưu lượng truyền dẫn ở trung tâm vì chuyển mạch tại địa phương là bản chất của các hệ thống tính toán phân tán nói chung chứ không riêng gì ở kỹ thuật chuyển mạch, đặc tính dễ quản lí tính cước là do bản chất của phần mềm chuyển mạch.

    Hãy giả sử tớ trang bị thật nhiều các chuyển mạch điện tử ở các địa phương thì lưu lượng truyền dẫn về trung tâm có giảm đi không, câu trả lời là có. Nhưng nếu xem xét chi phí cho các chuyển mạch điện tử, thì rõ ràng chuyển mạch mềm có lợi thế hơn chưa kể tính linh hoạt của nó.

    Còn con softswitch thì cũng chả khác CPU là mấy đâu, cái khác chính là giao diện với các ngoại vi (các thiết bị viễn thông khác) và cái phần mềm cài trên nó. Còn nếu là chuyển mạch điện tử cứng hoàn toàn (không có mC/mP, không có CT) thì việc chuyển mạch hoàn toàn là do các phần tử logic quyết định và giữ vai trò chủ đạo (cụ thể là các thanh ghi, các mạch so sánh giá trị ....)

    Hi hi, nếu ai hỏi tớ chuyển mạch mềm là gì thú thật tớ chỉ có thể trả lời rằng "chuyển mạch mềm là sử dụng phần mềm kết hợp với máy tính làm chức năng chuyển mạch", chắc là thiếu nhiều ...

    À bàn thêm về cái tìn hiệu điện (phần cứng) và mối quan hệ với phần mềm. Ở các mức CPU hay các IC dạng general purpose thì phần mềm là số 1, IC là general purpose (GPIC) thì khác gì "xác không hồn", nhưng đối với các IC dạng ASIC (specific purpose) thì phần mềm về số 2 thôi vì khi chế tạo các loại này người ta đã "cứng hóa" CT hay cái thuật toán định sử dụng vào mạch cứng rồi.Người viết CT cho phần cứng(GPIC) đòi hỏi phải hiểu rõ hết khả năng của phần cứng thì mới phát huy hết được tính năng cho CT mình viết ra đồng thời tối ưu được CT. Ngược lại người chế tạo ASIC lại cần hiểu cách "tối ưu" các thuật toán để làm ra các mạch cứng tốc độ cao, tối ưu tài nguyên mà [GPIC + 1 phần mềm tối ưu] cũng khó có thể đạt tới. Có thể coi chế tạo mạch cứng bắt đầu giảm dần độ phức tạp từ CMOS -> Logic Gate ->RTL thì vai trò quan trọng của phần mềm cũng tăng dần theo

    Còn NGN thì đúng là phức tạp, bản thân cái tên của nó cũng đã thấy rồi, mạng của thế hệ sau (tương lai chả biết gần hay xa) nhưng nó không khác gì cái QoS(vừa có tiêu chí kĩ thuật BER, bandwidth, bit rate nhưng lại có thêm cái tiêu chí độ thỏa mãn của user mà cái này thì biết thế nào cho đủ).

    Anyway tớ thấy làm đồ án về NGN không hay lắm (quan điểm cá nhân thôi), nó quá rộng kể cả khi muốn làm ở mức tổng quan.

  11. #10
    binhjuventus
    Guest

    Mặc định

    Mr. Thanh hôm gì có nói, NGN chỉ là bước đệm trong quá trình hội tụ các dịch vụ mạng. Sau này mọi thứ đều over IP hết. Em không nghiên cứu cái này, nói ngô nghê mọi người bỏ quá cho

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/2 12 CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube