User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/5 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 41

Chủ đề: Trà

  1. #1
    Em vẫn như ngày xưa Avatar của cáo đeo nơ
    Tham gia ngày
    Nov 2003
    Bài gửi
    3.932

    Mặc định Trà

    hôm nay lang thang, đọc đuợc mấy bài về Trà , cũng thấy thú vị. Hôm trước lên một cái quán trà đạo uống, cảm thấy chỉ thích thú cái cách pha trà, còn uống thì,,,, :p ...., nhưng cũng chưa am hiểu nhiều về nó, bà con có ai có cái thú uống trà ko nhỉ thì vào thảo luận
    Trà đạo Nhật Bản

    Trà đạo là hoạt động uống trà đặc thù mang tính nghệ thuật, mang phong cách tình cảm riêng của người Nhật Bản, mà đặc điểm chính là pha trà và thưởng thức trà. Nghệ thuật này đã có hơn 500 năm lịch sử ở Nhật.

    Người sáng lập trà đạo là một hòa thượng tên gọi Muratashu Mitsu. Ông đã tìm thấy hương vị tuyệt vời trong khi uống trà. Sau này, các đệ tử của ông đã phát huy ảnh hưởng và hình thành nên một môn nghệ thuật lưu truyền đến ngày nay.

    Những người Nhật thích uống trà thường thành lập những nhóm nhỏ, chọn ngày mời nhau cùng thưởng thức. Số người tham gia mỗi lần không vượt quá 4 người và hoàn cảnh tổ chức một buổi trà đạo cũng có những quy định đặc biệt. Những gia đình khá giả thường cho xây ba căn phòng nhỏ trong vườn riêng nhà mình, hai phòng nối liền nhau, trong đó một phòng là phòng trà - nơi tổ chức trà đạo, phòng kia đặt than, bộ đồ trà và vòi nước. Phòng còn lại là nơi nghỉ ngơi của khách, phải cách hai phòng kia một khoảng nhất định. Trong vườn có những con đường nhỏ lát đá, quanh co với hai bên trồng hoa và cây cảnh làm cho không gian trong vườn yên tĩnh và thanh nhã. Bố trí trong phòng trà cũng rất được chú ý. Thông thường là treo tranh của các danh họa nổi tiếng, có hoa cắm nghệ thuật để khách mời được thưởng thức nghệ thuật mang hương sắc cổ kính.



    Thời gian tổ chức trà đạo chia ra làm 4 loại: trà sáng (7h sáng), sau ăn cơm (8h sáng), giữa trưa (12h trưa) và câu chuyện buổi tối (6h tối). Khách mời đúng giờ đến phòng nghỉ, gõ vào chiếc chuông gỗ báo hiệu đã đến. Chủ nhà nghe tiếng chuông sẽ từ phòng trà ra đón khách. Trước cửa phòng trà có đặt một chiếc cối đá đựng đầy nước, khách phải rửa sạch tay trước khi vào phòng. Cửa ra vào có một ô cửa cao gần 3 thước để khách tháo giày đi vào. Khi bước vào phòng phải khom mình tỏ ý khiêm tốn. Nếu khách là võ sĩ thì phải tháo kiếm trước mới được bước vào để biểu thị không khí hòa bình. Trong số khách, người tinh thông trà đạo được cử làm người chủ trì. Người chủ trì phải cạo trọc đầu để biểu thị sạch sẽ, thanh khiết. Trong phòng trà, một góc chiếu có đặt bếp lò và nồi nước bằng gốm, trước bếp đặt bộ đồ trà. Bộ đồ trà phải thô, nặng có men màu cam hoặc đen đậm dáng vẻ cổ kính. Trong khi chủ nhân đun nước thì khách dùng điểm tâm. Món điểm tâm này hết sức tinh tế phải được làm căn cứ vào thời tiết. Ví dụ: tổ chức trà đạo vào mùa thu thì món điểm tâm phải làm giống như lá phong hoặc hoa cúc. Trà để pha là loại bột trà xanh được chế biến cẩn thận bằng cách giã nát trong cối đá - người Nhật gọi là nghiền trà.

    Có hai cách pha trà: pha đặc và pha loãng. Trà đặc thông thường ba người thay nhau uống một bát, mỗi người ba hớp rưỡi hết 1/3 bát. Trà loãng mỗi người uống riêng một bát. Trà đặc có màu xanh đậm, hương thơm hơi chát. Chủ nhân múc hai muôi gỗ trà cho vào bát, đổ nước sôi, dùng que trúc khuấy đều để trà có nước đặc như bột đậu. Bát đầu tiên mời người chủ trì, người chủ trì nâng bát trà ngang trán rồi mới uống. Khi uống phải chép miệng để tỏ ý thực sự được thưởng thức trà ngon của chủ nhân. Khi tất cả khách uống xong thì nghi thức trà đạo cũng kết thúc. Nhưng đôi khi còn một nghi lễ cao hơn là ăn cơm thường sau khi uống trà. Tuy gọi là cơm thường nhưng cũng thịnh soạn.

    Trà đạo đã hình thành nhiều trường phái khác nhau, chủ yếu có ba trường phái lớn là: Risenka, Hyosenka và Bushakoro Senka. Mỗi nhà đều theo chế độ gia truyền - tức là con thường kế nghiệp bố làm người chủ trì trà đạo của gia đình đó.

    Chỉ một ly trà xanh nho nhỏ nhưng với người Nhật nó lại như một ốc đảo trong tâm hồn. Họ cho rằng thông qua trà đạo có thể phát hiện được giá trị tinh thần cần có của bản thân. Có người dùng 4 chữ "hòa, kính, thanh, tịnh" để khái quát tinh thần cơ bản của trà đạo. "Hòa" là hòa bình; "kính" là tôn trọng người trên, yêu thương bè bạn, con cháu; "thanh" tức là thanh tịnh, thanh khiết; còn "tịch" là giới hạn mỹ học cao nhất của trà đạo: an nhàn.

    Trà đạo ngày nay càng phổ biến hơn ở Nhật Bản, rất nhiều cô gái trẻ dồn tâm sức học tập trà đạo, tu nhân dưỡng tính để cuộc sống gia đình cũng như cuộc sống tinh thần phong phú và đẹp đẽ hơn.
    Mặc kệ cuộc đời, mặc nắng mưa
    Mặc kệ yêu thương, mặc dối lừa
    Mặc kệ tình ai, mặc tình tôi
    Mặc kệ vấn vương trói buộc đời
    Mặc kệ thị phi, mặc tiếng đời
    Mặc kệ danh lợi , mặc kệ vui
    Cứ buông tất cả vào trong gió
    Để chút lòng cười với thảnh thơi
    .....

  2. #2
    Em vẫn như ngày xưa Avatar của cáo đeo nơ
    Tham gia ngày
    Nov 2003
    Bài gửi
    3.932

    Mặc định

    I. Trà sử
    a. Lịch sử cây trà
    Nguồn gốc cây trà theo huyền thoại

    Một huyền thoại phổi biến nhất kể rằng Đạt Ma Tổ sư vì ngủ quên trong một buổi tọa thiền nên bức tức cắt mí mắt vứt đi. Chỗ ông vứt mí mắt mọc lên cây trà, và trở thành một thức uống thông dụng cho những nhà sư để tỉnh táo khi tu tập. Huyền thoại này có ý nghĩa là trà, và nghệ thuật dùng trà có nhiều điểm liên quan đến thiền gia, đạo gia. Chính những vị này đã dùng trà đầu tiên, và biến trà thành một nghệ thuật tinh vi.

    Ở thời Chiến Quốc có một danh y tinh thông 84 000 cây thuốc. Ông dạy cho con chỉ được 62 000 cây thì chết. Những tưởng rằng kiến thức về 22 000 cây thuốc kia sẽ không còn tìm được ở đâu. Nào ngờ trên mộ danh y đó mọc lên một cây chứa đủ tinh hoa của 22 000 cây còn lại. Đó chính là cây trà.

    Nguồn gốc cây trà theo thực vật học

    Hiện nay cả thế giới uống trà và trồng trà. Tất cả các giống trà này đều lấy giống từ cây trà Trung Quốc có tên khoa học là Camelia sinensis, thuộc họ theacae, một loại cây xanh lá quanh năm có hoa màu trắng.

    Cho đến năm 1935 người Anh trong quá trình khai thác thuộc địa ở Ấn Độ đã phát hiện ra một rừng trà cổ chưa ai biết đến trước đó ở vùng Assam. Các cây trà này cao đến 30 mét, đây là cây trà nguyên thủy, cùng họ, cùng chủng với cây trà Trung Quốc. Sau khi tìm thấy các cây trà cổ ở Assam người ta còn tìm được các cây trà rừng ở các vùng biên giới Ấn Độ, Tây Tạng, Miến Điện, Trung Quốc, đây chính là vùng biên giới của nước Lạc Việt trước đây. Như vậy, người Việt cổ đã biết đến cây trà từ rất lâu. Thêm nữa, chính trong cuốn Trà Kinh nổi tiếng của Lục Vũ cũng khẳng định “trà là loại cây quý ở phương Nam”. Như vậy, chúng ta có thể tạm kết luận Việt Nam xưa cũng là quyê hương của cây trà và đã biết uống trà từ hơn ngàn năm trước khi trà được dùng ở phương Tây.

    Nguồn gốc tên gọi trà

    Cho đến thời nhà Đường, cây trà có tới bốn tên gọi khác nhau: trà, già, minh, suyễn. Từ khi cuốn Trà Kinh nổi tiếng của Lục Vũ ra đời thì người ta mới dần thống nhất một tên gọi duy nhất là Trà. Sau đó chữ trà được dùng ở các nước vùng Viễn Đông (Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ) với các cách phát âm gần giống nhau. Ở Việt Nam, người ta có thể đọc chệch thành “chè”, nhất là đối với các vùng phía Bắc, vì người dân tại các vùng này phát âm không rõ các âm “ch” và “tr”. Có nhiều người thắc mắc “trà” và “chè” khác nhau như thế nào? Xin được trả lời là về bản chất hai từ đấy hoàn toàn giống nhau, đều là phiên âm từ một từ của Trung Quốc.

    Cho đến nay cũng chưa có một quy định thống nhất nào về việc thống nhất cách gọi trà hay chè. Nói chung gọi theo cả hai cách đều đúng và chỉ là thói quen của mỗi người, hoặc có những hoàn cảnh để thuận tiện cho việc phát âm thì bắt buộc phải dùng một từ. Ví dụ như trường hợp gọi Trà Đạo của Nhật, gọi Chè Đạo cũng không sai, nhưng gọi thế phát âm không dễ bằng Trà đạo. Xét về phương điện ngôn ngữ học, âm “tr” tạo nên cảm giác sang trọng và chuẩn mực hơn, còn âm “ch” tạo ra cảm giác gần gũi và bình dị hơn. Hơn nữa, trong tiếng Việt, từ “chè” còn được dùng để chỉ các đồ ăn/uống được nấu với đường và mật, không có liên quan chút gì đến cây chè chúng ta đang nói ở đây. Nên gọi là trà có thêm một lợi điểm là tránh được sự đa nghĩa của ngôn từ.Vì vạy, cuốn cẩm nang này xin được thống nhất dùng từ trà.

    II. Trà danh
    1. Phân loại trà
    a. Phân loại trà theo cách thức chế biến

    Theo cách chế tạo, trà được chia ra làm ba loại trà chính là trà đen (tức hồng trà), trà xanh (lục trà) và loại thứ ba trung gian nửa giống hồng trà, nửa giống lục trà, loại trà này thường được gọi là trà Ôlong. Cả ba lại trên đều cùng từ một loại cây tức là cây trà mà tên khoa học của nó là Camelia sinensis, thuộc họ theacae, một loại cây xanh lá quanh năm có hoa màu trắng.

    Sản xuất trà trải qua ba giai đoạn chính là Ái Trà, Ủ Trà, và Xấy Khô. Các loại trà sở dĩ khách nhau chủ yếu do cách ủ trà.

    Ái trà:Trà tươi mới được hái về phải được hong khô hoặc phơi nắng từ 8 đến 24 giờ. Mục đích của giai đoạn này là làm cho trà tái đi, mất nước, và mềm hơn.

    Ủ trà: Trà sau khi đã qua giai đoạn ái trà đã mất đi nửa trọng lượng cũ. Trà lúc này đã mềm, được đưa vào máy quay đều; đánh vào thân trà cho bật chất nhựa ra. Khi hất nhựa bốc ra trà sẽ có mùi chua chưa và chuyển từ màu tái xanh thành mày xám đậm. Trà bây giờ được để yên trên các mẹt tre hoặc các tấm phản, hoặc rải trên thềm xi măng, để yên trong phòng rộng mát và ấm, ta gọi là giai đoạn ủ trà.

    Xin được nhắc lại một lần nữa là các loại trà khách nhau do cách ủ trà. Trà xanh (lục trà) hoàn toàn không ủ, Trà đen (hồng trà) ủ 100%, trà Ô Long là các loại trà trung gian có mức ủ từ 15-70%.

    Xấy khô: trà được xấy khô trên lửa hoặc đặt trong máy, dùng hơi nóng và khô thổi qua nhiều lần.

    Trên đây là ba giai đoạn chính của sản xuất trà được phân loại theo cách cơ bản và đơn giản nhất. Trên thực tế, trà sẽ trải qua nhiều tiến trình khác nhau trước khi đến được người tiêu dùng. Phức tạp nhất là các loại trà sản xuất theo cách thức Á Đông, đặc biệt là đối với các loại trà ướp hương. Trà sen ướp hương của người Hà Nội có thể được coi là một trong những loại trà được chế biến cầu kỳ nhất trên thế giới.

    b. Các cách phân loại trà khác

    Phân biệt theo hình thức, hay hình thể của trà thì ta có: trà lá (trà rời), trà bột, trà bánh (trà gạch), trà hạt. Trà lá hay trà rời (từ Hán Việt là Diệp trà) là loại trà mà chúng ta thường hay dùng tại Việt Nam, các búp trà sau khi được xấy khô vẫn còn rời nhau tiện cho việc bảo quản và đóng gói. Trà bột (Mạt trà) là trà tồn tại dưới hình dạng bột. Loại trà này hiện nay chỉ tồn tại trong Trà Đạo của Nhật Bản, được gọi là Matcha. Matcha thuộc dòng trà xanh, được chọn lọc từ các nguyên liệu cao cấp, đem hấp bằng hơi rồi sấy khô, sau đó được hong gió, rồi nghiền thành bột. Trà bánh (còn gọi là Bính Trà) là loại trà sau khi đã phơi, xấy được nghiền nhỏ ra cho vào khuôn đóng thành bánh, có lỗ có thể xâu được.

    Phân loại trà theo phẩm lượng của đọt trà, hay cách hai trà:
    - Trà thượng hạng: trà một lá, nghĩa là chỉ hái búp non và một lá non gần nhất
    - Trà hạng nhất: trà hai lá, một búp non và hai lá
    - Trà từ ba lá trở lên là các loại trà phổ thông và hạ phẩm.
    Các danh từ trà một lá, hai lá, ba lá chỉ dùng trong giới sản xuất trà mà thôi, quần chúng thường ít được biết đến.

    Phân loại trà theo hương trà ta có trà ướp hương và trà không ướp hương. Bản chất mọi loại trà có thể ướp hương. Trong trà ướp hương lại có nhiều cách phân chia: trà hoàn toàn ướp hương tự nhiên, trà ướp hương bằng tinh dầu tự nhiên, trà ướp hương kết hợp giữa hương tự nhiên và tinh dầu tự nhiên; rồi thì phân loại theo các loại hương: lài (nhài), ngâu, sói, xen, cúc, v.v.
    - Dương Hải Đăng-

  3. #3
    HUT's Master Avatar của nhanbachkhoa
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    1.380

    Mặc định

    Trà à, cũng hay đấy. Chỉ khác chút xíu so với một thán từ "Chà!" mà đã mang trong mình bao nét lịch sử oanh liệt, được đứng lên hàng văn hóa ẩm thực.

    Một khung cảnh tĩnh lặng và trầm mặc, mang trong mình một nét cổ kính uy nghiêm, ẩn trong một ngõ vắng, lý tưởng là bên cạnh có cái ao con con, chút bóng mát của một cây cổ thụ. Một ông cụ tóc bạc như cước, râu dài chấm ngực, mắt nhìn tay làm, chăm chú vào từng động tác châm ấm, pha trà. Róc rách, tiếng nước chảy từ ấm trà qua bàn tay rót khéo lẹ làng tuồn sang cái tách con con, không một gợn bọt. Nước trong trà sánh, một vài cánh trà nhỏ gợn lăn tăn trong tách. Khề khà ngụm trà, phì phèo ống điếu, những tưởng thế sự, ưu tư vụt mất tận đâu, chỉ còn hơi khói nghi ngút của trà nóng lẫn với khói thuốc lởn vởn trước mặt.

    Trà xưa là thế. Trà nay của những người sành điệu và mộ điệu cũng phải gần đạt được đến thế thì mới gọi là biết thưởng thức trà. Lần vào những ngõ sâu nhất, hay vào những danh trà tửu quán, còn không à, nghỉ nhé, xin bố, con đi uống bia hơi cho mát.

    Còn trà của sinh viên thì sao? Với một cái ví mỏng, đôi khi không đủ để làm dày cái dạ lép kẹp chốc chốc lại sôi lên từng chặp, uống trà như vậy chỉ là mơ ước. Năm trăm một cốc trà, đồng giá cho cả hai loại nóng và đá. Mấy thằng tụ tập với nhau, ngồi lúp xúp trên mấy cục bê-tông đúc vụng, thoáng qua tưởng ngồi chích, hay đang ngồi... công tác. Nước trà nhạt phèo, vô phúc thì còn có cả mùi thiu. Đá chắc làm từ nước ao, nhờ nhờ, vẩn vẩn. Dăm ba câu chuyện: năm trăm, hoặc giả đang rảnh rỗi, khhông phải ôn thi thì ngồi cả ngày cho bà cụ bán hàng mất khách cũng chỉ năm trăm. Nhưng mà vui, cũng hình thành một bản sắc trong cuộc sống vốn giàu bản sắc của tầng lớp sinh viên - tầng lớp xung sức nhất, lớp lõi tương lai của xã hội.

    Quả là văn hóa uống trà: trà đá sinh viên.

  4. #4
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Trà có "bình dân" mà cũng có "cao quí", quan trọng chỉ là cái tinh thần của người uống trà. "Trà đạo" thì đâu là đạo, không chỉ là phương thức pha trà tỉ mỉ và cao quí, hương vị cử trà thanh khiết và thơm ngon mà cái chính là thái độ và hành vi của người uống trà, thưởng thức từ tốn, tinh thần sảng khoái, để cho bao ưu tư mệt mỏi tan đi.

    Dù có nhiều loại Trà dù được pha chế công phu thì trà khô vẫn là loại bình dân và chiếm vai trò quan trọng nhất trong cuộc sống, trà khô được là đơn giản, pha chế dễ dàng và phổ biến trong tâng lớp bình dân. Rất tiếc tớ không thể uống được trà vì cái bệnh mất ngủ, hik không hiểu sao, uống caphe thì không vấn đề gì, nhưng pha trà thì hình như bỏ nước thứ nhất (không được để lâu" và uống nước thứ 2, khi rót trà ra nhiều chén thì giót liên tục, luân phiên giữa các chén chứ không rót hết chén 1 rồi mới sang chén thứ 2.

    Nhưng cuối cùng chính là "Trà ngon phải có bạn hiền" hì hì câu này hình như là rượu. Có một người cùng uống trà bên mình mới là loại trà được ướp hương vị tuyệt hảo nhất.

  5. #5
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    TRÀ ĐẠO

    Quyển Trà Đạo của Okakura Kakuzo được tạm phân tách ra nhiều mục nhỏ để tiện theo dõi. Gồm có Lịch Sử về Trà, Môn Phái Trà, Trà Thất và sau đó là vài nhận xét. Phần trích thuật báo chí gồm Các Công Dụng Của Trà; Những Điều Cần Biết Khi Uống Trà và sau đó cũng có vài nhận xét về việc uống trà.
    Bài nầy được trích trong Tập San số 4 Hoài Bão Quê Hương phát hành trong tháng 3 năm 2000.

    Lịch Sử Về Trà

    Nghe nói người ta tìm thấy tại Aâu Châu bản văn đầu tiên viết về trà, ở trong truyện của một du khách người Á Rập kể lại rằng sau năm 879 mấy nguồn lợi chính của Quảng Đông là thuế đánh vào muối và trà. Marco Polo có ghi chép một vị Hộ Bộ đại thần Trung Hoa năm 1285 bị cất chức vì đã chuyên quyền tự ý tăng thuế trà lên. Vào cuối thế kỷ 16 , người Hòa Lan truyền cái tin ở Đông Phương có một món làm bằng thứ lá cây uống rất ngon. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh và ca ngợi là "Một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống mà người Trung Hoa gọi là "trà"., Pháp gọi là "Tê", Anh gọi là "Ti". Tập quán uống trà bành trướng mau lẹ. Trong nửa đầu thế kỷ 18, những quán cà-phê ở Luân Đôn đã biến thành những Phòng Trà, nơi hẹn của những bậc anh tài như Addison và Steele…Trà cũng dự một phần trong lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cho đến khi sức nhẫn nhục của con người phải nỗi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào trà. Nền độc lập của Mỹ Bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston.

    Môn Phái Trà


    Trà, cũng như nghệ thuật, có những thời đại và môn phái của nó. Sự phát triển của trà có thể chia làm ba giai đoạn:Trà nấu(đoàn trà), trà khấy (mạt trà) và trà ngâm (diệp trà hoặc tiễn trà). Hiện tại, chúng ta thuộc về môn phái thứ ba. Đoàn trà tức là trà bánh mà người ta đem nấu lên. Mạt trà là trà vụn người ta đem khuấy lên. Diệp trà là trà lá người ta đem ngâm trong nước sôi. Cây trà, nguyên thổ sản miền Hoa Nam, đã được các nhà thực vật học và dược học biết đến từ những thời đại rất xa xưa. Các văn gia cổ điển gọi nó bằng những tên khác nhau:Đồ (Tou), Thiết (Tach)Thuấn (chung), Giả((kha) và Minh (Ming). Các môn đồ Đạo Gia coi trà là một vị trọng yếu trong môn thuốc trường sinh bất lão; còn các tăng đồ Phật Giáo thường dùng trà để chống lại cơn buồn ngủ trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng dài đăng đẳng. Vào thế kỷ thứ tư và năm, trà đã thành món đồ uống ưa thích của dân chúng ở thung lũng Dương Tử Giang. Chính thời gian này mới nẩy ra tiếng biểu ý văn tự "Trà", là tiếng nói chệch của tiếng "Đồ" cổ điển. Hồi đó, vua thường lấy trà quí, loại thượng hão hạng chế biến ra để thưởng cho các công thần. Tuy nhiên, phương pháp uống trà hãy còn cổ lổ hết sức. Người ta lấy lá trà đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng muối, vỏ cam, hương liệu, đôi khi có hành nữa. Tập quán nầy còn thịnh hành trong dân xứ Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ. Lục Vũ (Luwuh), khoảng giữa thế kỷ thứ 8, là đệ nhất sứ đồ của trà. Trong tác phẩm danh tiếng của ông "Trà Kinh", ông đã định pháp hóa về trà. Oâng được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà Trung Hoa. "Trà Kinh gồm ba cuốn và 10 chương. Chương tư dành để liệt kê và mưu tả 24 thứ trà khí, và cũng từ đó ta thấy ảnh hưởng của trà đối với nghề làm đồ gốm Trung Hoa. Trong nghề đồ gốm, người ta đã biết, khởi thủy với ý định tái tạo màu sắc tuyệt vời của ngọc thạch. Kết quả, dưới đời Đường, ở phương Nam, người ta chế được nước men xanh (Thanh Từ) và ở phương Bắc, nước men trắng (Bạch Từ). Lục Vũ cho màu xanh là màu lý tưởng của chén đựng trà, vì nó tăng thêm màu lục cho nước trà, còn màu trắng thì làm cho nước trà có vẻ hồng hồng kém ngon. Đó là vì ông dùng trà bánh. Về sau, khi các tay trà tượng đời Tống dùng trà vụn, họ ưa những chiếc bát nặng màu thanh mặc, tức xanh đen, và màu hạt , tức nâu sẫm. Người đời Minh uống trà ngâm lại thích dùng những chiếc nhẹ men trắng.

    Bộ Trà Kinh xuất hiện đã gây một kích động lớn thời bấy giờ. Lục Vũ được Đại Tôn Hoàng Đế(763-779) sủng ái, và danh tiếng của ông đã lôi cuốn cho ông rất nhiều môn đệ. Đến đời Tống, mạt trà thịnh hành và dựng nên đệ nhị phái trà. Người ta bỏ lá trà vào cối đá, xây thành bột rồi đem khuấy trong nước sôi bằng một chiếc "Trà Tiển" vót rất khéo bằng tre tốt, một đầu chẻ tách ra thành nhiều mãnh. Trong Phật giáo đồ, phái Thiền phương Bắc đã đặt thành một nghi thức đầy đủ về trà. Các tăng lữ tập họp nhau trước tượng Đức Bồ Đề Đạt Ma và chung nhau uống trà trong một chiếc bát với tất cả nghi thức thâm trọng của một thánh lễ. Đối với người Trung Hoa ngày nay, trà là một món đồ uống ngon, nhưng không là một lý tưởng. Những nỗi thống khổ triền miên của đất nước đã làm cho họ mất cả hứng thú của lẽ sống. Lá trà của họ thường làm cho người ta kinh ngạc vì hương của nó thơm như hoa, nhưng cái thi vị của nghi thức Phẩm Minh Hội dưới đời Đường, đời Tống không còn thấy trong chén trà của họ nữa.

    Tại Nhật, năm 801, nhà sư Tối Chừng (Saicho) đem về một ít hạt giống trồng ở Duệ Sơn. Nghe nói trong thế kỷ sau, có nhiều vườn trà được khai thác và giới quí tộc cùng tăng lữ rất hoan hỉ với món đồ uống này. Trà đời Tống đến Nhật Bản vào năm 1191, khi Vinh Tây Thiền Sư (Yeisaizenji) đi nghiên cứu về phái thiền ở Nam Hoa về. Vào thế kỷ thứ 15, dưới quyền Mặc Phủ Tướng Quân Túc Lợi Nghĩa Chính (Shogun, Ashikaga-Voshinasa), nghi lễ Trà thang được đặt ra và biến thành một tổ chức độc lập và hoàn toàn có tính cách thế tục. Từ đó, trà đạo được thiết lập hẳn hoi ở Nhật Bản. Nó là một tôn giáo của thuật sống. Món đồ uống này đã thành một cớ để tôn thờ sự tinh khiết và thanh cao, một nghi thức thiêng liêng mà chủ nhân với tân khách nhân dịp đó cùng tiếp tay nhau để tạo nên cái hạnh phúc tối cao trên cõi đời nầy. Trà đạo là biến thể của Đạo giáo.

  6. #6
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Trà Thất

    Trà Thất (Sukiya) không đòi hỏi gì hơn là một chiếc nhà nhỏ nơi thôn dã-một chiếc lều tranh-như thường gọi. Nguyên lai biểu ý văn tự của danh từ "Sukiya" là "Thị Hiếu Cư Trú". Về sau, các tay "trà tượng"(cũng gọi là trà nhân) theo quan niệm riêng của họ về trà thất thay thế bằng nhiều chữ Hán khác, khiến cho danh từ Sukiya có thể có nghĩa như "Hư Không Trú Cư" hay "Phi Tương Xứng Cư Trú". Nó là trú cư của hư không, vì nó không có đồ trang trí, trừ những vật có thể bày ra để thỏa mản một vài nhu cầu lâm thời về phương diện thẩm mỹ mà thôi. Nó là trú cư của phi tương xứng, vì nó tôn thờ sự bất hoàn toàn, cố tình bày ra một sự vật gì còn dang dở để tùy cho trí tưỡng tượng hoàn thành.

    Thoạt kỳ thủy, trà thất chỉ là một phần của chiếc phòng khách thông thường, ngăn ra bằng những tấm bình phong. Phần ngăn lại gọi là Vi (Kakoi), một cái tên hiện vẫn còn dùng để gọi những trà thất đắt tiền ngay trong nhà, chứ không xây cất riêng biệt ra một nơi. Còn Sukiya thì gồm một phòng trà chính dự trù tiếp đón không quá 5 người. Một phòng thủy ốc (midsuya), phòng để rửa và sắp xếp các bộ đồ trà trước khi bưng vào trà thất. Một cái trì hợp (machiai)-hành lang ở cửa vào để khách đợi cho đến khi chủ nhân mời vào trà thất và một lộ địa (roji)-lối đi ở trong vườn nối liền trì hợp với trà thất.

    Trông bề ngoài, trà thất không có gì đáng chú ý cả. Nó nhỏ bé hơn cả những nhà Nhật nhỏ bé nhất, ngay cả đến vật liệu dùng xây cất cũng cố ý làm ra vẻ thanh bần. Những bộ phận nhỏ nhặt còn được làm kỹ lưỡng, tỉ mĩ có lẽ hơn cả chững đền đài cung điện. Một trà thất tốt, mắc tiền hơn một nhà ở thường, vì sự chọn lựa vật liệu cũng như thợ thuyền cần phải hết sức cẩn thận và tinh xác. Vì thế, thợ mộc làm cho các trà tượng hợp thành một giai cấp riêng biệt hết sức danh giá.

    Tất cả trà tượng đều là những nhà tu Thiền Tông và cố đem truyền tinh thần Thiền Tông vào những vật hiện hữu ở đời. Vì thế, cũng như tất cả các đồ dùng cần thiết cho trà trang đều phản ảnh rất nhiều giáo lý của Thiền. Kích thước chính thống của trà thất là bốn chiếc chiếu rưỡi. Còn cái lộ địa (roji) lồi đi trong vườn từ hành lang trì hợp (machiai) tới trà thất, có ý nghĩa là giai đoạn minh tưởng, là đường đi đến chỗ tự giác. Lộ địa dùng để cắt đứt hết liên lạc với thế giới bên ngoài, và để gây cho khách một cảm giác lâng lâng thư thái, sẵn sàng đón nhận những thú vui hoàn toàn của duy mỹ chủ nghĩa đang đợi khách ở trong trà thất. Sau khi tâm hồn đã được chuẩn bị như vậy, khách lặng lẽ tiến gần đến nơi tôn nghiêm, và nếu là một võ sĩ, khách sẽ tháo kiếm gác trên cái giá trước mái nhà. Rồi khách sẽ cúi thấp người xuống chui vào phòng, qua một cửa không cao quá ba bộ. Động tacù nầy chủ ý nhắc đến tính khiêm nhượng. Trong khi đứng đợi ở trì hợp (machiai), khách đã thỏa thuận vấn đề phân ngôi thứ, rồi từng người tiến vào chỗ ngồi của mình. Trong phòng hoàn toàn yên lặng ngoại trừ tiếng nước sôi reo trong ấm sắt. Aám sắt ca rất hay, vì người ta đã xếp những mãnh sắt nhỏ ở đáy để phát ra những âm thanh đặc biệt nghe như tiếng vang của một thác nước bị mây phủ bít đi, tiếng những làn sống biển xa xa hay tiếng thông reo vi vu từ một ngọn đồi khuất nẻo…

    Vài Nhận Xét

    Đọc suốt gần trăm trang Trà Đạo của Okakura Kakuzo, Phó Cối tôi không thấy ông ta nói gì về "Đạo" của trà cả. Oâng ta chỉ góp nhặt linh tinh những ý nghĩa, vài câu chuyện ngụ ngôn của Phật Giáo, Lão Giáo, …rồi gán ghép cho là trà đạo..

    Tác giả viết trong thời kỳ Nhật xăm lăng Mãn Châu và đánh tan hạm đội Nga ở eo Đối Mã nên giọng văn kiêu kỳ, mục hạ vô nhân. Người đọc tuy có được chút hiểu biết về lịch sử của trà nhưng để ý tìm xem cái thú vị, cảm khoái khi uống trà thì chẳng thấy đâu! Cho nên khi đọc xong quyển Trà Đạo, bạn chẳng còn nhớ được gì, vì nó không gây ra trong trí chút ấn tượng nào. Uống trà là để tìm sự thanh thản, đơn giản của tâm hồn và cả của việc uống trà nữa. Đừng rắc rối, nhiễu sự! Bạn cứ pha một bình trà cho thơm, rót trà vào một cái tách cho sạch rồi bạn thử nhìn qua cửa sổ. Một khung thiên nhiên nho nhỏ với ánh rạng đông, với cảnh vật. Rồi bạn nâng chén trà lên…chừng đó thôi. Bạn sẽ thấy thú vị biết bao, cuôïc đời đẹp biết bao!


    CÁC CÔNG DỤNG CỦA TRÀ

    Uống mỗi ngày ít nhất một ly trà thì nguy cơ bị công tim (heart attack) có thể giảm đến 40%. Đây là kết quả của một nghiên cứu mới nhất, do chuyên gia về tim bác sĩ Micheal Gaziano thuộc Harvard Medical School vừa công bố tại hội nghị y khoa tổ chức tại Luân Đôn vào ngày 8-7-1999. Đây là cuộc nghiên cưú kéo dài một năm trên 340 người, cả nam lẫn nữ. Họ được cho uống trà thường, trà đen, trà xanh hay các loại thảo trà (herbal tea) khác, cuối cùng trà đen (black tea) chứa nhiều chất flavonoid (chất trà) hơn loại trà xanh, trong khi các loại thảo trà không cho biết có chất trà nào không. Flavonoid là những chất dinh dưỡng, giống như chất sinh tố, có tác dụng khiến các tế bào bớt đi hiện tượng vón cục lại. Nó cũng là chất chống ốc xy hóa (antioxidant) mạnh nhất, ngăn ngừa các hậu quả xấu của dưỡng khí trong cơ thể con người.

    Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chưa khẳng định được việc uống trà tốt cho những người hút thuốc lá, uống rượu, người có lịch sử di truyền bị bệnh tim trong giòng họ hay không? Người ta cũng chưa xác quyết được uống trà có lợi cho việc ăn các thực phẩm béo vào và cho tỷ số chống mập không. Nghĩa là uống trà có tiêu mỡ hay giảm cân không? Hơn nữa, uống trà pha đậm nhạt ra sao cũng chưa nghe nói đến.

    Tuy nhiên, bảng nghiên cứu nhận định mạnh mẽ rằng, so với những người từ trước đến nay không hề uống trà thì những ai uóng mỗi ngày từ một ly trà trở lên có thể giảm tới 44% hiểm nguy bị công tim. Người ta thử nghiệm trên loài vật và thấy rằng chất Polyphenols trong trà có tác dụng ngăn ngừa ung thư, nhất là ung thư miệng và toàn bộ tiêu hóa. Trà xanh (green tea), là loại trà mộc mạc nên ít đem lợi ích cho sức khỏe. Trà đen (black tea), qua một quá trình ủ và phơi. Trà đen gồm nhiều hóa chất bảo vệ sức khỏe hơn trà xanh. Trà ô long, phẩm chất trung bình, nghĩa là hơn trà xanh nhưng kém trà đen. Hầu hết các loại không chế biến từ trà, mà chỉ có hương vị trà đều không có tác dụng chống ốc-xít-hóa của ba loại trà kia.

    Như vậy, từ xưa, ông bà chúng ta thường bảo"Sáng một bình trà, chiều một chén rượu, lương y không quấy ta". Kinh nghiệm nầy đến nay khoa học mới xác nhận.

  7. #7
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI UỐNG TRÀ

    -Không nên uống trà khi đói bụng, trà sẽ nhập vào phế phủ, làm lạnh tì vị. Oâng bà ta có câu "Bất ẩm không tâm trà"; Không uống trà khi trong ruột không có gì.

    -Không nên uống trà quá nóng. Nước trà quá nóng sẽ kích thích mạnh đến họng, thực quản, dạ dày. Theo một nghiên cứu, uống trà vượt quá 62 độ C, vách dạ dày dễ bị chứng đau bao tử. Nên uống trà dưới 56 độ C.

    -Không nên uống trà nguội. Trà nóng làm cho tinh thần sản khoái, tỏ tai, tỏ mắt. Trà nguội có tác dụng phụ như hàn, tụ đờm, không tốt.

    -Không uống trà quá đặc. Trà đặc có nhiều cafein và theocin, kích thich khá mạnh, dễ làm đau đầu và mất ngủ.

    -Không uống trà pha thời gian quá dài vì chất mỡ, phenon trà, chất thơm có thể tự động ốc-xy-hóa, không những trà biến sắc mà giảm vitamin C, vitamin P, acid amin và số vi sinh vật (vi khuẩn) tăng, ảnh hưởng vệ sinh.

    -Không nên uống trà pha nhiều nước. Pha đến 3-4 nước thì không còn chất chè nữa và có thể làm cho những nguyên tố vi lượng có hại trong lá trà tan ra.

    -Không uống trà trước lúc ăn cơm vì trà có thể làm giảm dịch vị, có thể giảm chức năng tiêu hóa, thu hút anbumin.

    -Không nên uống trà ngay sau khi ăn cơm. Trong trà có chất tannice acide có thể phát sinh đông kết với anbumin và chất sắt trong thức ăn, ảnh hưởng đến sự hấp thụ anbumin và chất sắt.

    -Không nên uống trà cách đêm, chất đường và anbumin trong trà có thể trở thành chất nuôi dưỡng tốt cho vi khuẩn và nấm phát triển. Tuy nhiên, trà cách đêm, nếu chưa biến chất, có chất chua, chất flo có thể ngăn chặn xuất huyết ống mao tế như bị viêm xoang, đau lưỡi, ra máu chân răng, xuất huyết dưới da…Mắt thường xuất hiện tia máu hay chảy nước mắt, hằng ngày rửa mắt bằng trà cách đêm sẽ thấy ngay hiệu quả. Mỗi sáng trước khi đánh răng hoặc sau khi ăn sáng, ngậm súc nước trà cách đêm mấy lần, đã sạch miệng còn làm chắc răng.

    -Không nên dùng trà uống thuốc. Trong trà có chất tantic, có thể phân giải thành tantic acid khi kết hợp với nhiều loại thuốc làm trở ngại hô hấp và ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc. Tục ngữ có câu"Nước trà giải thuốc " là vậy.

    KẾT LUẬN

    Người Việt ta, uống trà là một tập quán. Giàu thì có trà đắt tiền, có bộ đồ trà rắc rối, chén tống chén con…sang qua sớt lại nhiều lần mới uống. Dân trung lưu, dân nghèo có cái bình tích với mấy chiếc ly. Nông dân, thợ thuyền phải nấu cả nồi uống mới đã khát. Nhiều nơi, nhất là nông thôn, có người trồng trà trong vườn, mỗi buổi ra hái vào nấu. Chẳng hiểu chè và trà khác nhau chỗ nào, nơi thì gọi là trà, nơi thì gọi là chè, nhưng chè xanh là lá chè còn tươi, trà xanh là trà khi sản xuất chỉ ủ chứ không sấy. Tiếng chè còn chỉ một thức ăn nấu đường với đậu, hoặc gạo, hoặc bột, nhưng chỉ nói ăn chè chứ không nói uống.

    Tiếng "ăn chè" còn dùng chỉ mấy ông đi lăng nhăng, nó phát xuất từ câu chuyện một ông nhạc sĩ nỗi tiếng dẫn một cô ca sĩ cũng nỗi tiếng xuống Nhà Bè tù ti sao đó, có người biết được hỏi, ông ta bảo "Đi ăn chè thôi".

    Tiếng chè cũng để chỉ nước mía mới ép ra, chưa nấu thành đường. Ở Huế, các nơi tụ tập của người lao động như trước ga Huế, góc đường trước cửa Thượng Tứ, bến đò, chợ…thường có chè xanh. Dân Huế quen uống, đi xứ khác không có, thèm như người thất tình. Ở Nghệ An vùng Đô Lương, Nam Đàn, Thanh Chương có tục luân phiên mời nhau uống nước chè xanh. Hôm nay nhà này, mai mốt nhà khác. Hàng xóm kéo đến vừa uống chè vừa trò chuyện. Ở đó, mọi tị hiềm xích mích, những khó khăn của cá nhân, xóm giềng được giải quyết trong tình thân ái, giúp đỡ nhau. Nước chè nước trà làm trí óc sản khoái, sáng suốt, khác với rượu khiến người say mất cả lý trí.

    Chúng ta, nơi xứ người thích uống trà buổi tối, buồi sáng. Đó là cái thú thanh tao. Có điều lạ là các bà, các cô ít thích uống trà. Có chăng, thấy sẵn bình trà ghé rót một tách uống chơi. Hy vọng sau khi biết được uống trà, nhất là trà đen, chữa được nhiều bệnh về tim mạch, ung thư, các bà sẽ tham gia cùng các ông thưởng thức trà. Đó là thuốc "An tâm" vì tin rằng mình uống trà sẽ khỏi phải lo bệnh hoạn gì cả.

    (TG: Phó Cối)

  8. #8
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Nước pha trà:

    Theo các cụ thì nước pha trà phải lấy từ nơi có nguồn nước tinh khiết.Đó là:Nước ngầm ở nơi cách xa khu dân cư,nước ở giữa dòng sông,nước suối đầu nguồn.Ngoài ra còn là nước sương sớm trên lá,nước mưa thứ hai [tất nhiên phải ở nơi thôn quê,ko bị ô nhiễm bởi khói bụi]Nước phải được để trong chậu,bình bằng đất,gốm..Tuyệt đối ko dc để trong đồ bằng KL --> làm tanh nước.
    Nước có 3 độ sôi ,tạm gọi là "mắt cua","mắt cá","mắt thuồng luồng".Nước ở 2 độ sôi đầu rất tốt để pha trà,còn độ sôi thứ ba thì trà sẽ ko ngon [trà bị "khê">

    Ấm dùng để pha trà:

    Pha bằng ấm như thế nào đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định hương vị của trà.Thường người ta pha bằng ấm sứ bởi vì đây là loại ấm tương đối ưu việt.Pha trong ấm đất thì trà đậm đà hơn nhưng có nhìu người cho rằng trà sẽ bị "tạp",ấm bằng ngọc thì ngon song ko phải ai cũng tìm dc.Ở TQ có rất nhiều loại ấm pha trà ngon,nhưng nổi tiếng nhất là loại ấm có màu "xanh da trời sau mưa".Riêng loại tuyệt phẩm này đã có đến 12 loại.Loại ấm này dc làm theo 1 quy trình vô cùng phức tạp,khắt khe.[Rất tiếc là về lĩnh vực này tôi ko có nhiều hiểu biết nên ko dám lạm bàn nhiều]

    Trà:

    Có rất nhiều loại trà ngon.Trà ngon là trà có búp to,cánh mẩy,dc nưóc.Trà thường dc ướp hương liệu để tạo mùi thơm như ướp sen,sói,nhài...nhưng phải theo một nguyên tắc là "khách ko dc lấn chủ" - tức là dù ướp bằng gì thì vẫn phải giữ dc mùi hương ngai ngái đặc trưng của trà.TQ có rất nhiều loai trà.Mỗi địa phương có 1 loại trà đặc trưng,ngay cả cùng 1 loại nhưng hái và sao vào thời điểm nào cũng mang những cái tên rất khác nhau.Nổi tiếng nhất là Trảm mã trà,Trinh nữ trà,Bạch viên trà [thực chất cũng là trà tuyết cổ thụ như ở Tân Cương ta thôi]...

    Pha trà:

    Trước tiên là đun nước ở độ sôi vừa phải.Cho trà vào ấm,ko nên dùng thìa sắt, inox hay KL mà phải là thìa gỗ,sứ..Đổ nước sôi vào ấm từ trên cao để tráng trà.Dùng lực của nước đổ từ trên cao để khoả hết bụi bẩn bám vào trà.(**).Đổ nước trong ấm ra,châm nước vào ấm,đầy tới miệng để khi đậy nắp vào sẽđẩy phần bọt trên miệng ấm ra ngoài cùng với những bụi bẩn còn sót lại.(***)Chờ trà ngấm,chú ý chỉ để vừa chín tới .

    Thưởng trà:

    Rót trà ra chén.Thông thường 1 bộ ấm chén có cả chén tướng[tống] và chén quân.Mục đích của chén tống là để trà khi rót ra chén quân sẽ đều nước.Nhưng tôi dc biết 1 cách do cụ Lư bảo cho để đơn giản hoá thưởng thức.Đó là đặt các chén sát nhau thành hình tròn,rót vòng quanh 1 vòng,mỗi chén khoảng 1/4.Đến chén cuối cùng thì gấp đôi và lại quay ngược lại.Đến khi đầy các chén thì thôi [vòng đi vòng lại 2 lần].Như thế trà trong các chén sẽ có độ đậm tương đối bằng nhau.
    Khi đưa chén lên để thưởng thức,bạn hãy đưa chén trà qua lại phía trước,để hương trà toả lan trong KK,xông lên mũi,để mùi hương tinh khiết lan toả khắp tâm hồn.Sau đó,đưa chén trà lên miệng,hớp 1 ngụm nhỏ,mím môi,đưa trà xuống cổ họng..Vị chát toả lan trên đầu lưỡi,xuống cổ họng.....Nuốt nước miếng để thưởng thức vị ngọt hậu.Lần thứ nhất...Lần thứ hai...Lần thứ ba...Chiêu thêm 1 ngụm chè và tiếp tục thưởng thức...
    Tiêu chí để đánh giá 1 chén trà ngon là phải xanh nước [trà vừa chín tới,nếu quá sẽ chuyển dần sang màu đỏ],có vị chát,ngọt hậu lâu,giữ dc hương trà đặc trưng...

    Khung cảnh thưởng thức:

    Khung cảnh yên tĩnh,có hoa có cỏ,có bạn hiền.Lí tưởng nhất là giữa khung cảnh thiên nhiên thơ mộng,giữa buổi sáng tinh mơ,con người sảng khoái,không khí trong lành,hơi sương lất phất.Khi uống trà phải là lúc tâm hồn thoải mái,thư thái,mong muốn giao hoà cùng vũ trụ to lớn,thiên nhiên tươi đẹp.

  9. #9
    Uỷ viên ban điều hành Box khoa ĐTVT Avatar của nothingtolose
    Tham gia ngày
    Sep 2004
    Bài gửi
    1.817

    Mặc định

    Tương truyền các loại trà quý hiếm cực kỳ thơm ngon như Trảm mã trà, Bạch mao hầu trà, Trùng điệp trà... mà người thường khó có điều kiện thưởng thức cũng sinh ra từ thời này.


    Trảm mã trà :
    là loại trà mọc hoang lưu niên trên núi cao Vu Sơn tỉnh Tứ Xuyên. Sơn dân ở đây dùng các con ngựa núi từ nhỏ đã được luyện uống nước trà thành nghiện để thu trà. Buổi sáng các con ngựa còn đói được lùa lên ăn lá trà và uống nước suối ở đỉnh núi. Chiều đã no căng bụng, chúng kéo nhau xuống và bị bắt mổ bụng để moi trà. Rồi trà được đem sấy khô, ủ kín.


    Bạch mao hầu trà
    : là loại trà ở núi Vũ Di tỉnh Phúc Kiến được hái nhờ những con khỉ trắng do người nuôi dạy.


    Trùng điệp trà
    : là phân của các con sâu trà ở núi Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây sau khi ăn lá trà thải ra được thu về sao tẩm lại...


    Long Tinh trà
    : Trà Long Tinh (Lung Ching Tea) có nguồn gốc từ làng Lung Ching thuộc Hangzhou, tỉnh Zhejiang, Trung Quốc. Truyền thuyết kể rằng có một con rồng đã làm mưa để cứu dân làng khỏi hạn hán và trận mưa đó đã làm cho cây trà trồng ở đây trở nên nổi tiếng. Trà Long Tinh thuộc loại trà xanh(Green Tea) được sấy khô, và nổi tiếng nhờ 4 đặc điểm sau : màu xanh (green color) , hương thơm (fragrant aroma) , vị ngọt và đậm đà (mellow flavour) và hình dáng đẹp của cánh trà (graceful shape). Trà Long Tinh được chia làm 4 loại do lịch sử "lion, dragon, cloud, tiger" nhưng nổi tiếng nhất là lấy từ những cây trà thuộc giếng cổ (Old Well)trên đỉnh núi sư tử (Lion Peak).

    Trà Ô Long: Loại trà này sản xuất dựa trên sự kết hợp giữa trà xanh và trà đen, được cho lên men rồi mới sao, chủ yếu có ở Phúc Kiến, Quảng Đông và Đài Loan. Sau khi sao trà có màu đen, nhưng nuớc trà lại có màu ngà ngà. Có khỏang 150 loại trà Ô long, và đây là loại trà phổ biến, đặc biệt ở phương Tây.
    Lần sửa cuối bởi nothingtolose; 06-06-2005 lúc 10:33 PM

  10. #10
    HUT's Master Avatar của nhanbachkhoa
    Tham gia ngày
    Dec 2003
    Bài gửi
    1.380

    Mặc định

    Mình thích uống trà với một cái gì đó vị gắt gắt một chút: mứt bí, ngô cay, bimbim cay, ... Nhất là ngày tết, thừa mứt bí, mời mãi, nhét vào tận tay, đút vào tận mồm khách mà nó chẳng chịu ăn cho, mình đành tự ăn lấy vậy. Chờ lúc vắng khách, ngồi một mình, nhâm nhi mứt bí với trà trong tiết xuân thì kể cũng khá phê. Cắn một miếng mứt ngọt sắc lẹm như dao mới mài, đợi 2, 3 giây cho nó ngấm ra từng xúc tu trong lưỡi, rồi chiêu một ngụm trà đặc. Cái đắng của trà quyện vào cái ngọt của mứt bí, quả là "duyên kỳ ngộ", không sao tả được...

    Còn ngày thường, kể ra, bây giờ mứt miếc đầy rẫy, nhưng không sao thú bằng ăn ngày Tết. Vì vậy, tạm xa rời món mứt bí độc hại toàn đường hoá học, xực tạm bimbim với trà cũng đủ sướng. Bimbim giòn cay, trà nóng đắng ngọt, kết hợp với nhau làm cho người ăn (hay gọi là người uống nhỉ) sảng khoái và mềm mồm tức khắc.

    Vậy đấy, trà và văn hoá, trà và ẩm thực!!!

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/5 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube