User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/6 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 55

Chủ đề: Những cây cầu ở quận Madison

  1. #1
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định Những cây cầu ở quận Madison

    Với tôi, đây là một siêu phẩm không gì sánh được. Tình yêu không quản ngại tuổi tác, cũng không phụ thuộc thời gian (cái này sao giống Thập diện mai phục thế nhỉ?). Một mối tình vỏn vẹn 4 ngày rồi mang theo suôt đời. Đôi khi, tôi thắc mắc không hiểu đây có phải là cách nhìn từ một phía khác của vấn đề ngoại tình? Nhưng dù là gì, tình yêu cũng luôn luôn vô tội.

    Những cây cầu ở quận Madison


    Robert James Waller

    1. Robert Kincaid

    Ngày 8 tháng 8 năm 1965, buổi sáng. Robert Kincaid đóng cửa căn hộ hai phòng nhỏ xíu thuộc tầng ba trong một toà nhà hình dạng khá kỳ cục ở Bellingham, tiểu bang Washington. Ông bước xuống cầu thang gỗ, tay xách vali, còn chiếc ba lô đeo lưng chứa đầy dụng cụ nhiếp ảnh, qua hành lang ra phía cửa dẫn đến chiếc xe tải cỡ nhỏ cũ kỹ của mình hiệu Chevrolet, đang đậu ở chỗ dành riêng cho người sống trong chung cư.Đôi khi họ cũng gặp nhau riêng, đi ăn tối, xem phim, uống vài cốc bia và sau đó, làm tình với nhau. Bà này là một người từng trải - hai đời chồng, từng phục vụ trong quán rượu để kiếm tiền ăn học. Bao giờ cũng vậy, khi họ làm tình với nhau xong, nằm áp người vào nhau, bà bảo ông: ”Anh là người tuyệt nhất. Robert ạ, không ai sánh với anh được, cả bằng một phần mười của anh cũng không sánh được“.Chắc chắn một người đàn ông nào nghe thế cũng rất thoả dạ, nhưng thật ra ông chẳng có cách nào để biết rõ bà này nói thật hay không. Dẫu sao thì bà ta thú nhận một điều làm ám ảnh ông mãi: ”Robert, nơi anh có một sức mạnh mà em không đủ sức để giải phóng nó ra, em cũng không có sức mạnh để đạt tới. Đôi khi em nghĩ rằng anh đã sống từ một thời gian rất xa xưa, dài hơn một đời người, em tưởng như anh đã đi qua những vùng bí ẩn mà những người như em không thể tưởng tượng ra. Anh làm em sợ, mặc dù anh rất dịu dàng với em. Nếu em không hung bạo với chính mình để tự chế ngự, em có cảm giác rằng em sẽ đánh mất mình mãi mãi...“Ông mơ hồ biết bà ta muốn nói điều gì, mặc dù chính ông cũng không thể nắm bắt được. Ông từng biết đến cái ý tưởng hỗn độn ấy, một nỗi buồn man mác đi lần đến chỗ bi thảm, kết hợp với sức mạnh thể chất và trí tuệ rất lớn của ông, khi ông còn rất bé, nơi một thị trấn nhỏ Ohio. Thời đó, khi những đứa bé trai như ông hay hát ”Row, row your boat“ thì ông thích một bài ca hát trong quán rượu có nguồn gốc Pháp.Ông yêu các từ và hình ảnh của bài hát. ”Xanh“ là một trong những từ ông ưa thích nhất. Ông thích thú cái cảm giác có được nơi môi và lưỡi mình khi phát âm ra từ đó. Cái từ không chỉ có nghĩa mà còn có một thực tại vật chất, ông nhớ lại mình thường nghĩ như vậy ngay từ khi còn bé. Ông cũng yêu những từ khác như ”xa“, ”củi hồng“, ”con đường“, ”cổ xưa“, ”lối đi“, ”lữ hành“, ”ấn Độ“... vì chính âm hưởng, khẩu vị và hình ảnh mà chúng gợi lên. Trong phòng, ông treo các từ ông ưa thích lên tường:Quá gần lửaTôi từ phương Đông trở về với một nhóm lữ hànhBùa ơi, bùa ơi, hãy vén màn bí mậtHoa tiêu, hoa tiêu ơi, hãy chỉ cho ta đường về...Trước khi là người, tôi là một mũi tên Từ rất lâu rồi.Rồi ông viết những nơi chốn, xứ sở mà tên gọi của chúng ông rất yêu dấu: eo biển Somalia, rặng núi Bao giờ Hatchet, eo biển Malacca và biết bao tên khác nữa. Vô số tờ giấy rời viết các từ, câu, tên các xứ được dán cho đến khi tường phòng không còn một chỗ trống.Chính mẹ ông cũng thấy ông có cái gì khác thường. Ông không nói một tiếng cho đến khi lên ba, rồi thì bắt đầu nói cả câu trọn vẹn, và đọc giỏi từ lúc lên năm.ở trường, ông là một cậu học sinh hờ hững thường khiến các thầy giáo nhầm về ông. Khi thấy kết quả trắc nghiệm trí thông minh của ông có chỉ số rất cao, một trong các thầy giáo đã viết vào sổ liên lạc đề nghị trao đổi với gia đình.Mẹ Robert Kincaid gặp đủ các giáo viên của trường. Khi các ông này nói sự phản kháng thụ động, về khả năng của ông, bà đã trả lời: ”Robert sống trong thế giới của nó. Nó là con tôi, nhưng đôi khi tôi sinh ra nó, mà nó phát xuất từ một nơi nào khác và nó luôn luôn muốn trở về“.

  2. #2
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Nhưng ông lại rất thích đọc các chuyện phiêu lưu và du lịch tìm được nơi thư viện thị xã. Thì giờ còn lại ông muốn ở một mình. Suốt ngày ông lang thang bên bờ con sông chảy ngang qua thành phố, tránh tất cả buổi khiêu vũ, cuộc chơi bóng của bạn bè. Ông câu cá, bơi lội, đi lang thang hoặc nằm dài trong đám cỏ cao để lắng nghe những tiếng nói từ rất xa mà ông tự bảo chỉ có mình ông nghe thấy. ”Nơi kia có rất nhiều linh hồn. Nếu mình yên lặng chăm chú, chúng sẽ nói chuyện với mình“ - Ông tự nhủ. Và ông cũng ao ước có một con chó để chi xẻ với mình những lúc như vậy.Gia đình không đủ tiền để gởi ông vào đại học, vả lại cũng không hề có ý định đó. Cha ông phải làm việc vất vả; ông ta lo lắng cho vợ và cho con trai, nhưng công việc trong nhà máy chỉ cho phép họ thoả mãn những nhu cầu hết sức tối thiểu chứ không thể có gì khác hơn, ngay cả sắm một con chó cũng vậy. Robert mười tám tuổi khi cha qua đời, và cuộc sống càng khốn khó, ông phải vào quân đội để có thể giải quyết nhu cầu sinh sống cho mình và cho mẹ. Ông chỉ ở quân ngũ bốn năm, nhưng bốn năm đó đã thay đổi cuộc sống của ông.ở quân đội, ông được bổ nhiệm làm phụ tá nhiếp ảnh, mặc dù khi đó Robert Kincaid chưa biết đến cả cách lắp một cuộn phim vào máy ảnh. Thế mà, với công việc mới này, bỗng nhiên ông khám phá ra nghề nghiệp của mình. Chi tiết kỹ thuật đối với ông không có gì khó khăn. Chưa đầy một tháng, ông không những đảm trách được công việc rửa ảnh trong phòng tối mà còn có thể tự mình thực hiện được những đồ án đơn giản nữa.Một trong các nhiếp ảnh gia là Jim Peterson rất thích ông. Ông ta dành rất nhiều thời gian để dạy cho Robert những điều tinh tuý của nghề nghiệp. Robert mượn nhiều sách nhiếp ảnh và sách nghệ thuật tại thư viện địa phương về nghiên cứu ngày đêm. Ngay từ đầu, ông đã đặc biệt yêu thích các hoạ sĩ ấn tượng Pháp cũng như cách sử dụng ánh sáng nơi tranh của Rembrandt. Dần dà, chính ánh sáng mới là cái mà ông tìm cách nắm bắt, chứ không phải đồ vật. Đồ vật chẳng qua chỉ là cái để nâng đỡ sự phản chiếu của ánh sáng. Nếu sử dụng ánh sáng tốt, người ta có thể chụp bất cứ vật gì. Ngoài cái máy 35 li thời ấy đang được ưa chuộng, ông còn kiếm được một máy Leica tình cờ nơi một cửa hiệu nhỏ. Trong tuần nghỉ phép, ông mang máy này đến Cape May ở New Jersey đi chụp ảnh suốt tuần ở bờ sông.Một lần khác, ông đáp xe hàng đi Maine, dừng lại ở bờ biển, chụp ảnh cảnh chiếc tàu chở thư đi giữa Stonington và các hòn đảo kế cận. Ông cắm trại luôn tại bờ biển, rồi sau đó dùng phà vượt vịnh Fundy đến Nova-Scotia. Ông bắt đầu ghi chú những cảnh, nơi ông muốn trở lại khi ông giải ngũ. Mới hai mươi hai tuổi, ảnh của ông được đánh giá cao và ông kiếm được một chức phụ tá cho một nhiếp ảnh viên thời trang có tiếng ở New York.Các cô người mẫu thời trang thì thiếu gì người đẹp, ông quen với một cô và gần như yêu cô này; rồi khi cô ta đi Paris, cô bảo ông: ”Robert, em không biết rõ thực sự anh là ai, nhưng nếu anh muốn, hãy đến tìm ở Paris“. Ông trả lời là ông sẽ đến. Khi đó ông nói thật, nhưng rồi ông chẳng bao giờ đi. Rất nhiều năm sau, khi ông thực hiện một phóng sự ảnh ở bờ biển Normandie, ông tìm thấy tên cô ta trong một cuốn niên giám điện thoại. Ông gọi điện cho cô và hai người gặp nhau nơi sân thượng một quán cà phê ở Paris. Cô đã thành hôn với một nhà làm phim và đã có ba đứa con.Thời trang chẳng làm ông ưa thích chút nào. Người ta chạy theo kiểu này kiểu nọ, đôn đáo bắt chước theo kiểu váy ngắn, váy dài Âu châu. Ông thấy điều đó thật là ngốc và thấy nhục khi phải chụp những kiểu ảnh như vậy. Cuối cùng ông xin thôi việc.

  3. #3
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Mẹ ông qua đời khi ông đã ở New York hơn một năm. Ông về Ohio để chôn cất bà cụ và ngồi trước mặt một luật sư nghe đọc di chúc. Cũng chẳng có điều gì quan trọng lắm. Và ông cũng chờ đợi gì. Nhưng ông khá ngạc nhiên khi biết là cha mẹ ông đã dành dụm được một số vốn nho nhỏ cùng với ngôi nhà bé tí mà họ ở từ khi lấy nhau. Ông bán ngôi nhà, và cùng với tiền họ để lại, mua một số dụng cụ tốt nhất, nghĩ đến những năm tháng cực nhọc để dành từng đô la, nghĩ đến cuộc sống khốn khổ mà cha mẹ ông đã sống.Một số ảnh ông chụp bắt đầu xuất hiện ở các tạp chí nhỏ. Rồi tờ National Geographic gọi ông. Họ có xem tấm ảnh đăng trên cuốn lịch ông chụp mũi May. Ông thảo luận với họ, hoàn toàn tự tin về nghề nghiệp. Họ nhận ông.Nhưng quân đội lại gọi ông một lần nữa năm 1943. Ông theo các thuỷ quân lục chiến đi suốt những con đường dọc bờ biển Nam Thái Bình Dương, với chiếc máy ảnh lắc lư trên vai hoặc lủng lẳng sau lưng, chụp những khuôn mặt. Ông đã thấy những con người bị một lần liên thanh cắt làm đôi, đã thấy họ kêu Chúa trời hoặc kêu mẹ. Ông chịu đựng tất cả, sống sót và không bao giờ biểu lộ tính chất oai hùng hay lãng mạn trong các phóng sự chiến trường.Năm 1945, giải ngũ, ông liền gọi cho tờ National Geographic. Họ vẫn đợi ông. Ông mua một chiếc mô tô lái xuống Big Sur, bắt tình với một cô nàng nhạc công vĩ cầm rồi đi ngược lên tham quan cảnh bang Washington. Ông yêu thích xứ này và quyết định ở hẳn tại đây...Giờ đây, tuổi đã năm hai, ông vẫn luôn luôn quan sát ánh sáng như thuở nào. Ông đã đi thăm hầu hết các nơi mà địa danh viết đầy trên tường phòng ông thuở bé. Ông thấy cảm khái tuyệt vời khi đến các nơi đó, khi ngồi nơi quán rượu ở một xứ xa xôi, khi ngược giòng Amazone bằng chiếc xuồng máy, hay khi lắc lư theo nhịp bước của lạc đà xuyên qua sa mạc Rajasthan...Bờ Thượng Hồ cũng đẹp như sách miêu tả. Ông ghi chú vào địa điểm, chụp vài ảnh rồi đi về nam, dọc song Mississippi. Trước đây ông chưa bao giờ ở vùng Iowa này, nhưng những ngọn đồi xanh mướt bao quanh phía Đông - Bắc con sông quyến rũ ông vô cùng. Ông dừng xe ở thành phố nhỏ Clayton, ở trong một quán trọ dành cho người câu cá và để hết hai buổi sáng để đi chụp ảnh các tàu kéo, còn buổi chiều thì chụp cảnh một chiếc tàu đáy bằng, theo lời yêu cầu của một thuỷ thủ tình cờ gặp trong quá rượu. Cắt đường về phía lộ 65, ông lái sớm ngày Thứ hai, 16 tháng 8 năm 1965, nhắm về phía Tây trên Iowa 92 hướng về quận Madison và những chiếc cầu có mái che chắc phải có ở vùng này, theo lời khẳng định tờ National Geographic. Quả vậy, người ở trạm xăng Texaco xác nhận với ông và còn cho biết có tất cả bảy câu cầu như vậy.Ông tìm thấy sáu cây cầu dễ dàng, và lên kế hoạch chọn góc độ để chụp. Cây cầu thứ bảy, tên là Roseman, thì không tìm thấy. Trời nóng bức, ông cũng nóng và Harry - tên chiếc xe tải nhỏ của ông - máy cũng nóng sùng sục, mà ông thì như đang ở trên đường qua cõi vô tận.Khi đến một xứ lạ, ông dùng phương pháp ”hỏi ba lần“. Ông khám phá ra rằng với ba câu trả lời, dẫu đều sai, cũng sẽ hướng dẫn ta dần dần về nơi ta định đến. ở nơi đây thì có lẽ chỉ cần hai lần là đủ.Ông thoáng thấy một hộp thư, dựng trước một lối đi độ chừng 100 mét. Trên hộp có dòng chữ: ”Richard Johnson, RR2“. Ông cho xe chậm lại, quẹo vào ngõ để hỏi thăm đường. Khi ông dừng xe trước sân, một người đàn bà đang ngồi trên hiên. Ông thấy trời mát hẳn và người đàn bà này đang uống một cái gì đó còn mát hơn nữa.Người đàn bà rời hiên và tiến lại phía ông. Ông xuống xe rồi nhìn bà, nhìn gần hơn nữa, gần hơn nữa. Một người đàn bà tuyệt vời, như thể thuộc về một thời đại nào đó của quá khứ. Và tức khắc ông cảm thấy mình bị tràn ngập bởi cơn choáng váng xa xưa luôn luôn chế ngự ông khi ông đối diện với những phụ nữ mà ông khao khát, dẫu một cách mơ hồ.

  4. #4
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Trong xe, có một ba lô khác, một thùng đựng nước đá cỡ nhỏ, vài bịch Camel, một bình thuỷ, một giỏ trái cây. Sau ”cốp“ xe, để một cây đàn ghi-ta. Ông đặt hai xắc vào chỗ ngồi, còn thùng nước đá và giá máy ảnh thì cho nằm trên sàn. Vòng ra phía sau nhét lại cây đàn và chiếc vali, chèn thêm một bánh xe ”xơ cua“ vào cho khỏi lắc rồi buộc bằng một sợi dây vải. Dưới sợi dây, ông còn phủ một miếng vải dầu cho chắc ăn.Rồi ông ngồi vào tay lái, đốt một điếu Camel và đưa mắt nhìn đồ đạc đem theo một lần cuối: gần 200 tấm phim các loại, nhất là phim Kodachrome tốc độ chậm; mấy cái giá ba chân, thùng nước đá, ba máy ảnh và năm ống kính; mấy chiếc quần jean và ka-ki, sơ-mi. Ô kê. Đủ rồi. Nếu có quên gì thì có thể mua dọc đường.Kincaid mặc một chiếc quần Levi’s bạc màu, ủng đi đương hiệu Red Wing cũ mèm, áo sơ mi ka-ki, dây đeo quần màu vàng. Nơi chiếc nịt bằng da to bự đeo một con dao loại của quân đội dùng, nằm trong bao.Ông nhìn đồng hồ: 8 giờ 17. Chiếc xe tải nhỏ nổ máy. Ông phóng nhanh qua những ngõ hẹp dưới ánh mặt trời đang còn bị che khuất. Ông băng qua Bellingham, theo hướng Nam về đường Washington 11, men đường ở Puget Sound vài kilômét rồi theo đường quốc lộ hơi chếch về hướng Tây trước khi đến giao lộ để đi vào đường 20.Ông chuyển vào con lộ dài và ngoằn ngoèo xuyên qua rặng Cascades dưới ánh mặt trời. Ông thích vùng này và cảm thấy rất tự do, khi ngừng lại chỗ này chỗ kia để ghi chú, đề phòng lần sau có thể ghé lại hoặc để chụp một vài tấm ảnh mà ông gọi là loại ảnh ”aide-mémeire“. Sau đó ông có thể xem lại và nếu thấy thích thì có thể nghiên cứu kỹ càng hơn. Cuối chiều, Kincaid đi về phía Bắc đến lộ 2 dẫn tới phía Bắc Hoa kỳ, tới Duluth của bang Minnesota.Hàng ngàn lần trong đời, ông tự nhủ mình cần có một con chó, chắc là một loại chó săn màu vàng, để đem theo trong những chuyến đi như thế này và làm bạn đồng hành khi về nhà. Nhưng ông thường đi vắng quá, và cuộc sống như thế không phù hợp với súc vật. Dẫu vậy, ông vẫn mãi nghĩ đến điều đó. Một vài năm nữa, ông sẽ quá già, không làm nổi những phóng sự về phong cảnh đất đai như thế này nữa. ”Lúc đó có lẽ mình sẽ kiếm một con chó“ - ông nói với hàng thông đang vút xa nơi kính chiếu hậu.Những cuộc đi xa như thế này càng thôi thúc ông ý định đó. Con chó sẽ là bạn đường. Bởi Robert Kincaid là một người cô đơn. Ông là đứa con duy nhất, cha mẹ đều chết, một gia đình xa vời đã mất dấu, như chính ông đã mất dấu về mình, không một người bạn thân. Ông chỉ biết tên của người chủ hiệu bán thực phẩm ở Bellingham và người chủ tạp chí mà ông cung cấp ảnh. Ngoài ra, ông chỉ giữ mối liên lạc nghề nghiệp hoàn toàn hình thức với người chủ biên của tạp chí. Ngoài những người này ra, ông hầu như không biết một ai và cũng chẳng ai biết ông. Những người du mục là những kẻ khó kết bạn nhất với những người bình thường mà ông thì có một ít chất du mục trong người.Ông nghĩ tới Marian. Bà này đã chia tay chín năm trước đây sau năm năm chung sống. Giờ đây ông 52 tuổi, vậy thì bà ta hẳn phải 40. Marian ước muốn thành nhạc công hoặc ca sĩ dân ca. Bà biết tất cả các bài hát của Weaver và trước đây hát khá hay trong các quán ăn ở Seattle. Vào thời đó, những khi ông ở nhà, ông thường dẫn bà đi nghe nhạc và cố ở lại trong phòng đợi đến phiên bà lên sân khấu.Những lần vắng mặt dài - có khi hàng hai, ba tháng - đè nặng lên cuộc sống vợ chồng của họ. Ông biết thế. Khi cưới nhau, Marian biết cuộc sống của ông là như thế, nhưng cả hai nghĩ mơ hồ rằng họ có thể hòa hợp với nhau. Hoá ra không thể. Lần nọ, khi ông trở về sau một hành trình làm phóng sự ở Băng Đảo, Marian không còn ở nhà. Bà chỉ nhắn lại vỏn vẹn: ”Robert, không thể như thế này mãi được. Em để lại cây ghi-ta. Sẽ liên lạc với nhau“.Ông không liên lạc. Bà cũng vậy. Khi nhận được giấy tờ ly hôn - một năm sau đó - ông ký rồi ngay ngày hôm sau lên máy bay sang úc. Bà không đòi hỏi điều gì ngoài sự tự do.

  5. #5
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Tại Kalispell, bang Montana, khá khuya, ông dừng lại để nghỉ. Quán trọ giá rẻ, phục vụ cũng tốt. Ông chuyển đồ đạc vào phòng, có hai ngọn đèn giường, một bóng mờ. ÔNg duỗi trên giường, nhấp một ngụm bia, đọc Những ngọn đồi xanh ở Châu Phi rồi ngủ tiếp. Sáng sớm, ông xuống chạy bộ độ hơn nửa giờ, là mười lăm cái hít đất rồi đi sửa soạn máy ảnh như thế đó là phần cuối của bài thể dục...Ông đi xuyên qua Montana, tiến vào North - Dakota. Cái vùng đất bát ngát, bằng phẳng và khô khan này cũng quyến rũ ông như là vùng núi hay biển. Nó toát ra một vẻ đẹp khắc khổ và ông phải dừng lại nhiều lần, đặt giá ảnh để chụp mấy tấm ảnh đen trắng các nông trại cũ kỹ. Cái xứ sở khô cằn này hợp với khuynh hướng khắc kỷ, khổ hạnh của ông. Các vùng đất dành riêng cho người da đỏ này mang một vẻ u buồn trầm uất vì nhiều lý do mà người ta có thể biết hoặc không biết.Sáng 14 tháng 8, ông ở lại hai tiếng ở Duluth, rồi quặt về phía Tây Bắc, theo đường đến Bibbing và qua các mỏ sắt. Qua màn bụi đỏ, người ta có thể thấy những chiếc máy khổng lồ và những đoàn toa xe chở quặng sắt đến tận những chiếc tàu bốc hàng neo ở vùng Thượng Hồ. Ông nghỉ lại suốt chiều, đi dạo ở Hibbin và thấy rằng nơi đây không phải là chốn thích hợp với ông, cho dù Bob Dylan có sinh ra ở đây đi nữa.Cô gái từ miền phía Bắc là bài hát duy nhất của Dylan mà ông không bao giờ thích, dù ông có thể vừa chơi ghi-ta bài này vừa hát. Ông vừa hát nhẩm cho mình nghe vừa rời khỏi cái vùng đầy hang hốc màu đỏ khổng lồ này. Trước đây, Marian đã dạy ông để ông đệm đàn cho bà hát. ”Bà ấy để lại cho mình nhiều hơn là mình để lại cho bà“, ngày nọ ông đã nói như thế với một anh hoa tiêu đang chếnh choáng trong quán rượu Mac Elroy, nằm đâu đó ở vùng châu thổ Amazone. Và điều đó đúng.Rừng vùng này đẹp, thật đẹp. Y như một giấc mơ cho người lữ khách. Từ thuở còn trẻ, ông đã ước chi thời đại của những nhà du hành lớn vẫn còn để mình có thể tham dự. Ông lái xe xuyên qua những cánh đồng xanh mướt, trông thấy ba con tuần lộc, một con chồn lông đỏ và rất nhiều nai. Ông dừng xe trước mặt một cái hồ và chụp mặt nước phản chiếu một cành cây có hình dáng lạ. Chụp xong, ông ngồi xuống nơi bậc xe làm môt ngụm cà phê, hút một điếu Camel và lắng nghe tiếng gió lùa qua rặng cây phong.”Thật dễ chịu nếu bên mình có một ai đó, một người đàn bà chẳng hạn“. Ông vừa nghĩ vừa nhìn làn khói thuốc lan dần trên mặt hồ. ”Cứ về già là người ta hay có cái ý tưởng như vậy đó“. Nhưng mà cái kiểu ông cứ vắng mặt hoài như vậy thật khó cho bất cứ người phụ nữ nào đợi ông ở nhà. Thì ông đã có kinh nghiệm về chuyện này rồi mà!Hồi ở bellingham, thỉnh thoảng ông cũng gặp gỡ một bà làm giám đốc mỹ thuật cho một hãng quảng cáo ở Seattle. Ông gặp bà ta khi thực hiện một số tấm hình cho hãng này. Bốn mươi hai tuổi, khá thông minh. Một phụ nữ khá thú vị, nhưng ông không bao giờ yêu bà này

  6. #6
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    2. Francesca

    Sinh nhật của Francesca rơi đúng vào thời điểm đẹp nhất của mùa thu. Những giọt mưa lạnh đập vào vách tường căn nhà gỗ của bà ở vùng quê phía Nam bang Iowa. Bà ngắm nhìn mưa và những ngọn đồi bao quanh sông Middle, nghĩ đến Richard. Ông đã chết cũng vào một ngày thu như thế này, tám năm về trước, bởi một căn bệnh mà bà không muốn nhắc đến tên. Giờ đây bà chỉ nghĩ đến ông, đến tính tình luôn bình dị tử tế của ông, đến cả cuộc sống nặng nhọc mà ông đã trao cho bà.Mặt trời trắng biến thành đỏ thẫm đang khuất dần xuống ruộng ngô. Từ cửa sổ nhà bếp nhìn ra, Francesca có thể thấy một cánh diều lướt theo gió trong ánh hoàng hôn. Đài phát thanh đưa bản tin bảy giờ. Qua chiếc bàn mica vàng, Francesca đưa mắt nhìn Robert Kincaid, người vừa vượt qua một cuộc hành trình dài gần xuyên ngang nước Mỹ để đến ngồi trong bếp nhà bà. Biết bao dặm đường.Ông đưa tay chỉ bếp lò: "Xem ra được rồi đấy. Bốc lên mùi... yên tĩnh". Ông nói và nhìn bà."Yên tĩnh? Cái gì có mùi yên tĩnh?" Francesca tự hỏi. Ông nói đúng. Sau bao năm tháng nấu nướng thịt sườn, thịt bít-tết, rô-ti... lần này quả thật là một lần nấu ăn... trầm lặng. Nơi những món thực phẩm này không thể hàm chứa một ý nghĩa sát sanh nào. Món ăn chín sôi một cách thanh bình và bốc lên mùi thanh bình, trong bếp ăn thanh bình.Ông hơi dựa lui vào ghế, bắc chéo chân. "Nếu bà không thấy chán, bà hãy kể cho tôi nghe ít điều về cuộc sống ngày trước ở bên ý"Thế là bà nói, cũng bởi sự im lặng làm bà bối rối. Bà kể thời thơ ấu, các trường tư thục, các bà xơ, cha mẹ bà- một người đàn bà nội trợ và một ông giám đốc nhà băng - về những buổi bà đứng ngẩn ngơ trước biển ở tuổi dậy thì, nhìn những con tàu đến từ khắp nơi trên thế giới. Những chàng lính Mỹ đến ý sau đó. Việc bà gặp gỡ Richard trong một quán nước khi bà đang cùng bạn bè uống cà phê, đang bàn về tương lai, về cuộc sống bị đảo lộn do chiến tranh. Bà không nhắc đến Nicolo.Ông lặng lẽ nghe, thỉnh thoảng gật đầu đồng tình. Khi bà ngừng kể, ông thêm:"Bà nói và có mấy đứa con?"- Vâng. Michael thì mười bảy, Carolyn mười sáu. Cả hai đều học phổ thông ở Winterset. Chúng có tham gia vào một câu lạc bộ, vì thế vừa rồi chúng đi dự hội chợ ở Illinois. Họ đấu xảo chú bò con của Carolyn.Đó cũng là một điều tôi không bao giờ làm, cũng không bao giờ hiểu nổi là người ta hết sức yêu thương, hết sức chăm sóc gia súc để rồi đem bán cho lò mổ. Tôi không hề nói ra ý kiến này đâu. Bởi nếu tôi nói ra, Richard cũng như những người chung quanh sẽ gạt đi tức khắc. Nhưng tôi cảm thấy như có một cái gì mâu thuẫn, lạnh lùng, tàn nhẫn trong đó.Bà cảm thấy có tội khi nhắc đến tên Richard.Bà cũng chẳng nói gì, làm gì xúc phạm. Có điều bà vẫn cảm thấy tội lỗi, một mặc cảm tội lỗi phát sinh từ những lý do mơ hồ. Bà tự hỏi làm thế nào mà bà hướng cuộc nói chuyện về điểm đó, hay có lẽ chính bà lao vào cái điểm mà bà cũng hiểu rõ. Robert Kincaid vẫn điềm nhiên, lặng lẽ, có vẻ dè dặt nữa.Trong lúc họ nói chuyện, nhiều chuyện, chiều chuyển thành xanh biếc và sương mù phủ nhẹ xuống cánh đồng bên ngoài. Ông mở thêm hai chai bia trong khi món ăn của Francesca đang sôi lặng lẽ. Bà đứng dậy, bỏ thêm vào nồi một vài thứ gia vị rồi quay người tựa vào bếp nhìn lại ông. Lòng bà dâng lên một mối đồng cảm với Robert Kincaid, ở Bellinghan trong Washington. Hy vọng ông không bỏ đi quá sớm.Ông tự múc thức ăn hai lần một cách thích thú và lập lại hai lần rằng thức ăn tuyệt ngon. Bia thì mát lạnh. Buổi chiều thì xanh biếc. Francesca bốn mươi lăm tuổi và Hank Snow hát một bài hát đường trường trên đài phát thanh Iowa.Con bà có gọi điện thoại lại. Lần này cũng vậy, chúng không đến dự sinh nhật bà được, mặc dù đây là lần sinh nhật thứ bảy của bà. Như mọi lần, bà hiểu. Bà luôn luôn hiểu. Cả hai đứa chúng nó đều bận tíu tít, bù đầu vì công việc, đứa thì điều hành bệnh viện, đứa thì dạy học. Michael đang bắt đầu cuộc hôn nhân thứ hai, Carolyn thì đang cãi vã với chồng. Tự thâm sâu, bà hài lòng vì hai đứa con không đến dự sinh nhật. Trong ngày này, bà có những lễ nghi riêng dành cho chính bà.Sáng nay, bạn bè ở Winterset đã đến thăm và tặng bà một cái bánh ga-tô. Bà pha cà phê và nói chuyện linh tinh với họ về chuyện cháu nội cháu ngoại, chuyện thành phố, chuyện Lễ Tạ ơn và chuyện chọn quà Nô-en sắp tới. Những tiếng cười hồn nhiên, những mảnh chuyện rời từ phòng ăn vọng xuống bếp đem lại cho bà một tình cảm quen thuộc, vững bền và làm cho bà hiểu rằng đó là một trong số những lý do nhỏ khiến bà ở lại Winterset sau cái chết của Robert.

  7. #7
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Michael thường khoe với bà về nhà cửa của nó ở Florida. Carolyn thì nói về cơ ngơi ở New England. Nhưng bà vẫn quyết ở vùng đồi núi phía Nam Iowa này, vẫn duy trì cái địa chỉ cũ này bởi một lý do chỉ mình bà biết. Và bà sung sướng vì mình đã quyết định như vậy.Francesca nhìn mấy bà bạn già rời nhà vào lúc gần trưa. Họ đi xuống những con đường hẹp xe Ford hoặc Buick, qua con đường rải đá hướng về Winterset, cần chùi kính xe quay tít trong làn mưa. mấy bà bạn thật tốt bụng, dẫu họ không hề hiểu gì về cái điều nằm sâu kín trong bà, cái điều mà dẫu bà có kể ra họ chắc cũng không thể hiểu.Khi Richard, chồng bà, gặp bà ở Napoli sau chiến tanh, ông đã bảo bà rằng ở đây bà sẽ có những người bạn thật sự. Ông thêm: ”Thì con người ở Iowa cũng có nhiều khuyết điểm, nhưng hờ hững, lạnh nhạt thì không“. Điều đó quả đúng, thật đúng.Bà chỉ mới hai mươi lăm tuổi khi họ gặp nhau. Bà vừa tốt nghiệp sau ba năm đại học, dạy ở một trường nữ tư thục, đang tự hỏi về ý cuộc sống. Phần lớn thanh niên ý lúc đó đã chết, tàn tật, bị tù hay huỷ hoại vì chiến tranh. Francesa quan hệ với Niccolo, dạy hội hoạ ở đại học và vẽ suốt ngày. Anh ta thường dắt bà đi suốt đêm trên những chuyến dạo chơi táo bạo, gần như mê sảng trong những địa đạo từ thời cổ đại ở Napoli. Mối quan hệ chấm dứt không lâu do sự phản đối quyết liệt cha mẹ Francesca, vốn là những người khá cổ hủ.Francesca quan sát Richard trong bộ quân phục lính Mỹ khi họ ngồi cùng nhau trong một quán cà phê dưới ánh mặt trời Địa Trung Hải. Bà thấy nơi ông, nơi cái nhìn của ông sự trung thực, chân tình của cư dân miền Trung Tây nước Mỹ và thế là bà theo Richard về Iowa. Bà đến đây để đẻ ra hai đứa con, để ngắm nhìn Michael chơi đùa và ngắm nhìn những đêm lạnh giá tháng mười, để dắt Carolyn đến Des Moines chọn mua cho con áo đầm dạ hội... Hàng năm, bà thường trao đổi thư từ với em gái ở Napoli, bà cũng trở về đó hai lần, khi cha mẹ bà mất. Nhưng quận Madison là nơi cư ngụ vĩnh viễn của bà từ đó, và bà không bao giờ có ý muốn trở về sống ở quê nhà.Giữa chiều, mưa ngừng, rồi mưa tiếp vào buổi tối. Trong ánh chạng vạng, Francesca rót cho mình một cốc brandy và mở ngăn kéo chiếc bàn giấy có bánh xe của Richard, một chiếc bằng gỗ hồ đào đã truyền từ ba thế hệ trong gia đình. Bà lấy ra một phong bì vàng khè và chậm rãi ve vuốt, như bà từng làm thế mỗi năm, ngày này.Dấu ấn bưu điện ghi ”Seattle, WA, 12 tháng 9 - 65“. Khi nào bà cũng nhìn dấu bưu cục trước. Đó là một phần của nghi thức. Rồi nhìn địa chỉ viết bằng tay: ”Francesca Johnson, RR2 Winterset, Iowa“; sau đó đến địa chỉ người gởi: ”Hộp thư 642, Bellingham, Washington“. Bà ngồi xuống nơi ghế bành gần cửa sổ, nhìn những dòng địa chỉ và tập trung tinh thần, bởi bàn tay ông ta đã viết lên đó và bà muốn tìm lại cái cảm giác từ đôi bàn tay ông đặt lên thân thể bà, hai mươi hai năm về trước...Khi đã cảm thấy bàn tay ông sờ lên người mình bà mới mở phong bì, thận trọng lấy ra ba bức thư, một bản thảo ngắn, một số báo National Geographic cùng với những bài báo cắt ra từ những số khác cũng của tạp chí này. Rồi, dưới ánh sáng xám mờ trong phòng, bà nhấp một ngụm brandy, qua đôi kính, nhìn tập bản thảo găm lại với nhau. Lá thư thì viết trên giấy bình thường, phía trên chỉ ghi“ Robert Kincaid, nhà văn - nhiếp ảnh“ in bằng chữ nhỏ.

  8. #8
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    10 tháng 9 năm 1965Francesca thân yêu,Tôi gởi đây hai bức ảnh. một bức tôi chụp em giữa cánh đồng khi mặt trời mọc. Hy vọng em sẽ thích bức này như tôi. Bức thứ hai là ảnh cây cầu Roseman trước khi tôi nhận tờ giấy nhắn của em gắn nơi cầu.Giờ tôi đang ở đây, đang sực sạo mọi ngóc ngách tối tăm của ký ức để tìm lại từng chi tiết, từng phút giây mà chúng ta đã trải qua. Tôi lặp đi lặp lại mãi: Điều gì đã xảy đến cho mình ở quận Madison, Iowa? Tôi vật lộn với mình để tìm hiểu. Cũng chính vì lý do đó mà tôi viết bài Rơi từ chiều vô tận gởi kèm theo đây, như là một cách thoát ra khỏi mớ hỗn độn của tâm trí mình.Tôi nhìn vào ống kính, và em ở đó. Tôi bắt đầu viết một bài báo và tôi nói về em. Tôi cũng chẳng biết nổi làm thế nào mà tôi trở lại nhà từ Iowa được. Chắc bằng cách nào đó, cái xe tải già nua đã dẫn dắt tôi về đến nơi đến chốn, dù tôi không nhớ nỗi lộ trình. Mấy tuần trước đây, tôi thấy mình vui sướng, hài lòng một cách chừng mực. Có lẽ không hạnh phúc thâm sâu lắm, chắc chắn là hơi đơn độc, nhưng ít ra thì cũng hài lòng.Tất cả đều đã thay đổi.Còn bây giờ thì tôi hiểu rõ rằng tôi đã đến với em, và em đã đến với tôi từ lâu lắm rồi. Cho dẫu cả em cũng như tôi đều không hề biết trước khi ta gặp nhau, vẫn luôn luôn có một điều khẳng định như một lời ca vang hoà theo nỗi vô tư của chúng ta để xác nhận rằng chúng mình sẽ gặp nhau. Như hai con chim đơn độc bay lượn trên những thảo nguyên mênh mông được nâng đỡ bởi những con đường thần thánh, tất cả năm tháng, tất cả mọi cuộc sống đều đưa chúng ta, người này lại với người kia.Đi là một điều lạ lùng. Trên đường đi, tôi nhướng mắt lên và thấy em đang bước qua bãi cỏ về phía chiếc xe tải một ngày tháng Tám. Hồi tưởng lại, tôi thấy có vẻ như điều đó là không thể tránh khỏi - nó không thể nào khác đi được - tôi gọi đó là tính khả thể cao của điều bất khả.Giờ thì tôi đang xoay vần quanh cái con người khác đó nằm bên trong tôi. Dù gì đi nữa thì cái ngày mà chúng ta từ biệt nhau, cả hai chúng ta đã tạo nên một người thứ ba và con người ấy đã đi kèm với tôi từ đó.Bằng cách nào đi nữa, chúng ta cũng phải gặp nhau. Bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào. Hãy gọi ngay cho tôi khi em cần một điều gì hay chỉ đơn giản là em muốn nhìn tôi. Tôi sẽ đến ngay, tức khắc. Hãy cho tôi biết em có thể đến đây không - bất cứ khi nào. Tôi sẽ lo vé, nếu đó là vấn đề khó khăn cho em. Tuần tới thì tôi sẽ đi ấn Độ, nhưng tôi sẽ về Mỹ cuối tháng Mười.Tôi yêu emRobertTB: Phóng sự về quận Madison rất khá. Nhớ theo dõi National Geographic số năm tới. Hay nếu em muốn tôi sẽ gởi một tờ khi phát hành.

  9. #9
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Francesca Johnson đặt ly rượu xuống bệ cửa sổ, nhìn tấm ảnh bà chụp đen trắng cỡ 8x10. Đôi khi bà cảm hấy buồn khi nhớ lại nhân dáng bà ngày ấy, hai mươi hai năm về trước. Trong chiếc quần jean bạc màu bó chặt, giày xăng-đan và chiếc sơ mi vải trắng, đứng tựa vào cột hàng rào, tóc tung bay theo chiều gió. Xuyên qua làn mưa, nơi chỗ ngồi cạnh cửa sổ, bà có thể nhìn thấy cái cột đó, nơi mà hàng rào mục nát cũ kỹ bao quanh cánh đồng.Khi cho thuê thửa đất này sau khi Richard chết, bà đã yêu cầu người ta đừng chạm đến cánh đồng đó, dù giờ đây nó đã thành bãi đất hoang đầy cỏ dại. Trong bức ảnh này, những nếp nhăn đầu tiên đã thoáng hiện trên khuôn mặt bà. ống kính của Robert đã ghi nhận điều đó. Dẫu vậy, bà vẫn hài lòng về con người trong ảnh. Tóc bà đen mướt, thân thể đầy đặn được tấm ảnh làm nổi bật lên dưới chiếc quần jean bó chặt. Dẫu sao, đó là một khuôn mặt mà bà tỏ tường, khuôn mặt một người đàn bà yêu đương say đắm cái con người đang ở sau ống kính.Francesca cũng thấy ông một cách rõ ràng, trong giòng bồng bềnh của kỷ niệm. Hàng năm, bà đều gợi lại hình ảnh về ông, một cách cẩn trọng, kỹ càng, bà nhớ lại tất cả, không bỏ sót điều gì, như in sâu vào ký ức từng chi tiết một, mãi mãi, như người của bộ lạc thời xưa truyền đi câu chuyện kể từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ông cao lớn, thon thả và lực lưỡng. Ông chuyển mình nhẹ nhàng như cỏ mướt, dễ dàng, thoải mái. Mớ tóc xám bạc hơi dài gần như lúc nào cũng rối bù, như thể ông vừa mới trở về sau một chuyến đi biển dài, tóc bị gió xổ tung và vừa mới vuốt sơ lại.Khuôn mặt hẹp với lưỡng quyền nhô cao, với mái tóc xoã lù xù trên trán làm nổi bật cặp mắt xanh lơ như luôn tìm kiếm cái mà ống kính sắp chụp. Ông cười và bảo rằng bà đẹp và gợi cảm biết bao trong ánh sáng ban mai hôm đó. Ông bắt bà dựa vào hàng rào rồi đi quanh bà một vòng, quỳ xuống nhấc máy ảnh lên rồi nằm ngửa lưng ra cỏ, ống kính chĩa thẳng vào bà.Khi đó bà cũng hơi lo về chất lượng của cuốn phim ông sử dụng, nhưng rồi vui mừng ngay khi thấy ông cầm một cách cẩn thận. Bà cũng hy vọng không có một người hàng xóm nào vào giờ sáng sớm đó lái máy cày ra đồng, dù thật tình bà không còn quan tâm lắm đến những người hàng xóm hay ý kiến của họ.Ông chụp ảnh bà, thay cuốn phim khác, thay cả ống kính, chụp lại lần nữa và vừa làm vừa dịu dàng nói với bà, lặp đi lặp lại rằng bà đẹp và ông yêu bà. ”Francesca, em đẹp đến mức khó tin nổi“. Có khi, ông ngừng công việc và say mê ngắm nhìn bà, cái nhìn xâm nhập, xuyên suốt bà.Ngực bà hằn rõ, căng đầy dưới làn áo sơ mi vải trắng. Lạ là bà chẳng hề bận tâm đến điều đó. Bà còn vui khi thấy ông có thể nhận ra đôi vú mình trong ống kính. Trước đây bà chưa bao giờ ăn bận như vậy với Richard. Richard không thích bà ăn mặc như thế. Cho nên, trước khi gặp Robert Kincaid, chẳng bao giờ bà để ngực trần như thế này cả.Robert còn bảo bà hơi ngửa lưng ra trên hàng rào, ông thì thầm: ”Thế, thế - tuyệt vời, đừng cử động“. Đó chính là lúc ông chụp bức ảnh mà bây giờ bà đang ngắm nghía. ánh sáng tuyệt vời - theo cách nói của ông là ”sáng một cách mờ ảo“ - máy ảnh bấm lách tách nhiều lần khi ông vừa chụp vừa đi vòng quanh bà.Ông ta nhanh nhẹn, khéo léo. ở tuổi năm mươi hai, thân thể ông rắn chắn, với các bắp thịt của loại người chuyên làm việc nặng nhọc và biết tập luyện mới có. Ông cũng có kể cho bà nghe là ông đã từng tham chiến ở Thái Bình Dương với tư cách là nhiếp ảnh gia và Francesca có thể hình dung ông chạy qua các bãi biển đầy khói đạn, mắt thì chăm chú nhìn xuống ống kính và máy ảnh nóng lên vì chụp quá nhiều.Bà lại nhìn tấm ảnh, ngắm nghía. Bà tự nhủ: ”Mình quả thật đẹp“, rồi tự chế nhạo về sự khoe khoang của mình. ”Mình quả thật đẹp“, rồi tự chế nhạo về sự khoe khoang của mình. ”Mình chưa bao giờ đẹp như thế trước hoặc sau đó. Chính là do anh ấy“. Bà nhấp một ngụm rượu brandy nữa trong khi mưa vẫn tung theo đợt gió bấc vút lên bên ngoài

  10. #10
    HUT's Engineer Avatar của écho_loves_narcis
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    525

    Mặc định

    Robrert Kincaid giống như một nhà phù thuỷ sống với chính mình trong những miền đất xa lạ gần như hiểm nghèo. Francesca đã cảm thấy vậy ngay trong cái ngày Thứ hai khô và nóng bức tháng Tám năm 65 đó, khi ông xuất hiện trên ngõ nhà bà và bước xuống chiếc xe tải cũ mèm. Lúc đó Richard và bọn nhỏ đi dự hội chợ ở Illinois, nơi diễn ra cuộc đấu xảo gia súc mà Francesca chẳng thích chút nào. Bà có một tuần hoàn toàn độc thân.Ngồi trên ghế xích đu nơi mái hiên, nhấm nháp ly trà lạnh, bà bà thấy một cột bụi tung lên trên đường làng khi một chiếc xe tải chạy qua. Xe tiến chầm chậm, như thể người lái đang dò tìm một cái gì đó, xe dừng ngay trước lối vào nhà bà rồi rẽ vào ngay trước nhà. Bà nghĩ ”Ô, không biết ai vậy kìa?“.Bà đang đi chân trần, mặc một chiếc sơ mi cũ sờn trên chiếc quần jean bạc màu, mái tóc đen buộc lại bằng cái lược đồi mồi mà cha bà đã tặng từ lúc rời quê đi lấy chồng xa xứ. Chiếc xe tải theo lối rẽ và dừng lại ngay trước hàng rào.Francesca rời hiên bước nhẹ về phía bãi cỏ đến tận rào và Robert Kincaid bước xuống xe, như một hình ảnh bước ra khỏi một cuốn sách chưa hề được viết ra.Chiếc áo sơ mi kaki màu be của ông dính chặt vào lưng vì mồ hôi, còn nơi tay áo thì loang thành từng đố thẫm. Ba cúc áo ngực mở toang và Francesca có thể thấy bắp thịt ngực cuồn cuộn của ông dưới sợi dây chuyền bạc đeo quanh cổ. Ông mang dây đeo quần màu cam, giống như phần lớn những người lứa tuổi ông khi đi ra đồng.Ông cười: ”Xin lỗi đã làm phiền hà, nhưng tôi đang đi kiếm quanh đây một chiếc cầu có mái che mà không thấy. Chắc tôi lạc đường rồi“. Ông lấy khăn chùi mồ hôi trán nhễ nhại rồi lại cười. Cặp mắt xanh nhìn thẳng vào mặt Francesca và bà cảm thấy ngay một cái gì đó không tên trỗi dậy trong người. Cắp mắt, giọng nói, khuôn mặt, mái tóc đốm bạc, vẻ tự nhiên khi ông bước đi, một vẻ u buồn thu hút như gợi lên một ký ức xa xưa; như thể một lời thì thầm vào một lúc nhất định làm chấn động ta khi sắp đi vào giấc ngủ, khi những rào cản ngã xuống. Đó là cái trạng thái không thể nào khác được để kết hợp những phân tử đực và cái, cho dẫu thuộc loài nào đi nữa.Giống nòi phải tồn tại và phải có những cách thức để cuối cùng thốt lên cái thôi thúc duy nhất đó, chứ không là gì khác. Cái năng lực để diễn đạt thì vô tận, cách diễn đạt thì tuyệt vời. Cách bày tỏ thì có thể bất di bất dịch, mục đích thì rõ ràng. Thật ra đó chỉ là một điều đơn giản, chỉ có điều con người làm cho nó phức tạp mà thôi. Không hề suy tính Francesca ngay tức khắc cảm thấy điều đó bằng tất cả khí chất của mình. Và ngay khi đó bà đã bắt đầu cái điều sẽ làm bà thay đổi mãi mãi. Một chiếc xe chạy qua ngoài lộ, tung bụi lên và bấm còi inh ỏi. Francesca đưa tay vẫy chào Floyd Clark trên chiếc Chevy rồi quay lại phía người khách lạ. ”Thì ông đang ở rất gần cây cầu, chỉ cách đây độ một kilômét thôi“. Rồi bỗng dưng, sau hai mươi năm dài của một cuộc đời tù hãm, một cuộc đời tuân theo những phong cách chặt chẽ, nơi đó những tình cảm, khát vọng đến đành chịu khuất phục dưới tập tục nông thôn, Francesca ngạc nhiên khi nghe chính mình nói: ”Nếu ông muốn, tôi rất vui lòng chỉ đường cho ông“.Tự thâm sâu, tại sao bà làm vậy, bà cũng không biết. Có lẽ do những cảm xúc thời thanh xuân xưa kia sống dậy, như một bong bóng hơi trên mặt nước, thoát ra sau bao năm tháng giam cầm. Bà không phải là người nhút nhát, cũng không dạn dĩ. Điều duy nhất bà có thể biết là Robert Kincaid cách nào đó đã cuốn hút bà, dẫu bà chỉ mới nhìn thấy ông ta trong vài giây vừa rồi.Rõ ràng ông hơi ngạc nhiên trước đề nghị của bà, nhưng trấn tĩnh ngay và bảo ông rất vui lòng. Francesca chạy vào lấy dưới bậc thềm ra đôi ủng bà thường dùng khi làm việc đồng áng, mang vào và bước lại chiếc xe tải, toan bước vào ca-bin.

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/6 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube