Văn hoá mặc Việt Nam truyền thống Thời xa xưa

Người Việt bắt đầu văn hóa mặc bằng một quan niệm rất thô sơ: Ăn trắc, mặc bền.

Khi cuộc sống còn khó khăn thì ăn là ưu tiên hàng đầu, Có ăn thì mới có sống. Mặc chủ yếu để che thân, để ứng phó với những biến đổi của thời tiết, nóng lạnh, mưa bão...

Đông Nam á là một trong những trung tâm phát sinh nông nghiệp lớn nhất thế giới. Việt Nam đã biết trồng lúa nước từ vài nghìn năm trước công nguyên, đến nay Việt nam được coi là một trong 5 trung tâm trồng lúa lớn nhất thế giới. Nền văn hóa lúa nước lâu đời đã là tạo nên các thành tựu văn hóa cơ bản và rực rỡ.

Sau cái ăn, người Việt Nam cổ truyền đã nghĩ ngay đến cái mặc. Cùng với cây lúa, đã xuất hiện và lên ngôi một thứ cây thứ hai, nhằm giải quyết vấn đề mặc, đó là cây dâu.

Vậy là cây dâu đã được trồng trọt, chăm bón để làm thức ăn cho con tằm, con tằm ăn lá dâu rồi nhả tơ cho người Việt cổ quay tơ, dệt lụa và trở thành cái mặc, để từ đó thành văn hóa mặc của người Việt qua các thời kỳ lịch sử.

Sinh hoạt nông nghiệp cổ truyền phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thiên nhiên. Người nông dân đi làm đồng, nghe ngóng từng động tĩnh thời tiết, vừa để cày bừa cấy hái, vừa để làm lụng một nắng hai sương... Việc ăn, mặc cũng vì vậy mà phải giản dị, thiết thực "ăn lấy chắc, mặc lấy bền".

Nếu đủ cơm, đủ áo thì chẳng sợ thế lực nào nữa: Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết. Người Việt cổ chính vì đã có một quan niệm về mặc rất thông minh và thiết thực như vậy nên đã phân biệt rất rõ, hai cử chỉ văn hóa khác nhau trong việc mặc, ấy là khi đi làm đồng vất vả thì mặc trang phục khác và khi đi trẩy hội, lúc Tết lễ hội hè, cách mặc phải phù hợp.

Đi tìm nét riêng, nét văn hóa của người Việt cổ trong cách ăn mặc phù hợp với sinh hoạt văn hóa nông nghiệp trước hết phải lưu ý đến chất liệu may mặc. Không hề là một ngẫu nhiên lịch sử khi người Việt chọn tơ tằm làm đồ mặc đầu tiên trong lịch sử thời trang của mình.

Như trên đã nói, cách đây hàng dăm nghìn năm, người Việt cùng với cấy lúa đã biết trồng dâu (gọi theo ngôn ngữ nghề nghiệp, đó là hai nghề nông và tang). Tơ tằm được người Việt dệt ra nhiều "biến tấu" rất phong phú, đó là: tơ, lụa, lượt, là, gấm, vóc, đũi, nái, thao the, vân, sồi, nhiễu, đoạn, lĩnh... Về sau người Việt còn sử dụng các chất liệu khác như tơ chuối, tơ đay, tơ gai, sợi bông... nhưng chất liệu đầu tiên cho may mặc cổ truyền vẫn là tơ tằm.

Theo cách phân chia của người Việt cổ tùy theo chủng loại, chức năng, trang phục gồm có đồ mặc phía trên, phía dưới, đồ đội đầu, đồ đi chân và đồ trang sức. Cách phục sức của người Việt thường bị chi phối bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa dầm, gió bấc, đặc biệt là sự nóng bức.

Tuy nhiên, trong cách phục sức người Việt có sự phân biệt giới tính nam và nữ. Trang phục tiêu biểu cho con gái Việt là váy yếm và người nam là chiếc khố - để trần phía trên, hoặc quần lá tọa (thứ quần ống rộng, thẳng, đũng sâu, cạp quần to bản). Khi đi hội, phụ nữ thường mặc áo dài tứ thân, năm thân, còn khi lao động thì họ mặc áo ngắn và váy ngắn. Vào dịp hội hè, đàn ông cũng mặc áo dài the đen.

Về màu sắc:

Toàn bộ các trang phục nam nữ người Việt cổ truyền đều dùng màu trầm với hai màu chủ yếu là nâu, đen. Riêng yếm rất nhiều màu sắc với chủ yếu là đen và đỏ thắm. " Yếm trắng mà vã nước hồ, vã đi vã lại anh đồ yêu thương".

Cùng với thắt lưng, khăn, nón, mũ và đồ trang sức, trang phục người Việt cổ truyền đã tỏ ra linh hoạt, thích ứng với hoàn cảnh sống nông nghiệp.

Trong văn hóa mặc, người Việt đã thể hiện cách ứng xứ tế nhị với tự nhiên, luôn hướng tới cái đẹp một cách kín đáo, trang nhã





<theo vietnammart.vn>