User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 5 của 5

Chủ đề: Hà nội trong tôi

  1. #1
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định Hà nội trong tôi

    Cầu Thê Húc




    Có ai đến Hà Nội lại ít nhất không một lần bước lên những tấm ván cầu Thê Húc cong cong, đặt hai bàn tay lên lan can, phóng tầm mắt xuống hướng Nam ngắm tháp Rùa trầm mặc, hay đưa mắt về hướng Bắc còn có phố Hàng Đào, Hàng Ngang và những con đường dẫn vào phố cổ... Riêng một chiếc lược mầu son chải vào sóng tóc nghìn mùa xuân thu vần chuyển đã đủ làm ta phải say mê, làm ngây ngất bao thế hệ thi nhân, vua chúa, làm trầm trồ bao du khách trăm phương.

    Từ khi Hồ Hoàn Kiếm còn là Tả Vọng và Hữu Vọng, đường vào đảo Ngọc chỉ có chiếc cầu tre rung rung mặt sóng, mà ta vẫn có thể gặp những con cầu như thế trên vùng Nam Bộ lắm mương máng. Cũng có thể, muốn làm lâng lâng đôi ba nhịp chèo, rồi chân người bước lên bậc đá khi tay quờ ra phía sau lưng, chưa kịp mở nút chiếc bình rượu bằng quả bầu khô có thêm dây tua đỏ. Đúng như ca dao, sóng nước chỉ rộng ngang tầm dải yếm. Mà xưa nay, dải yếm thì bao giờ cũng có sức hút lạ kỳ, từ dải yếm bắc cầu đến dải yếm hoa đào hoa lý, hồ thủy hay thiên thanh...

    Năm 1865, mới gần một thế kỷ rưỡi, Thần Siêu tức nhà giáo, quan án sát Nguyễn Văn Siêu đứng ra tu bổ ngôi chùa nhỏ trên đảo Ngọc, ông cho bắc cây cầu son làm lối vào đền, mà hình dáng vẫn còn đến ngày nay.

    Nguyên đảo Ngọc là cung Thụy Khánh của vua Lê, rồi chuyển sang tay chúa Trịnh. Sau khi Quang Trung ra bắc, Lê Chiêu Thống trả thù, đã đốt trụi cung nghỉ mát đầy diễm lệ này. Nền xưa thành hoang phế, không hiểu hai câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan tài hoa:

    Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
    Nước còn chau mặt với tang thương

    Có phải lấy tứ từ cảm xúc, trước hưng vong thay đổi, trước hoang tàn và vĩnh cửu của cảnh cũ hay không? Lúc đó có một nhà từ thiện là Tín Trai đứng ra dựng ngôi chùa nhỏ, sau đó biến thành đền thờ Tam Thánh.

    Những Tháp Bút, Đài Nghiên và nhất là cây cầu son là tác phẩm của con người có bút danh Phương Đình, từng dạy học ở phố Nguyễn Siêu ngày nay, một gian nhà không vách, hình vuông. Gần trăm rưỡi năm trước như thế, đứng từ cổng đền, còn bát ngát tầm mắt những bãi dâu bờ chuối phía đê con sông Nhĩ Hà sóng đỏ. Mỗi ban mai, những tia rẻ quạt ánh sáng bình minh còn quét thẳng vào ngọn tháp và lan can tay vịn con cầu. Vì thế cụ Nguyễn mới đặt tên cho nó là cầu Thê Húc tức là cầu đón ánh sáng ban mai đậu lại.

    Cầu Thê Húc bằng gỗ, cột gỗ đỡ cầu, chân choãi ra, tự ghim vào lòng hồ, tay vịn cũng có những chữ nhân bắt chéo, chia ra từng ô nhỏ gần giống như ô tướng sĩ bàn cờ người ngày hội.

    Cầu Thê Húc đã thành quá quen thân với người Hà Nội, hầu như ít ai để ý xem nó có bao nhiêu chân cọc, có bao nhiêu nhịp ván còn hở cái khe cho trẻ nhỏ thả nghiêng cái lá xuống gầm cầu. Năm 1952, đúng đêm giao thừa, người đi đón giao thừa quá đông, cầu son không chịu đựng nổi. Nó gục xuống ngay quãng giữa.

    Từ thế kỷ này, ta mới có nhiều sắt thép, xi-măng. Cây cầu sơn đỏ, mầu hoa vông, mầu nắng sớm, mầu môi con gái được thành phố xây lại, giữ nguyên dáng cũ, nhưng cọc chân cầu và dầm cầu, giá đỡ... đều được đúc bằng xi-măng cốt thép mang mầu áo đỏ như thuở xưa.

    Có ai ung dung chân bước lúc chiều buông hay múa bài thái cực quyền mỗi sáng, giải lao, thư giãn, đứng nhẩm đếm những hàng chân cột vẫn đang choãi ra, đỡ lấy vòm cong đỏ chói, đỡ lấy vòm trời bồng bềnh mây xốp phía trên cao đỡ lấy những gót chân lần đi qua từng thanh ván.

    Xin thưa, đó là 15 đôi chân cầu cao thấp khác nhau. Không kể hai mố cầu, phía ngoài là sau phía Đài Nghiên, phía trong là vọng lâu Đắc Nguyệt. Chẳng thể gọi mỗi khoang kia là một nhịp như cầu Chương Dương hay Long Biên, Thăng Long, cầu Gianh, Bến Thủy... Cầu Thê Húc chỉ là một dải lụa đào, một chiếc lược son, một làn môi tươi tắn nổi lên trên làn nước xanh, bên cạnh những liễu rủ, phượng lăn tăn, cành đa cổ tích...

    Đã có một thời, từ hè đường vào đền có hai bên tường xây cao vút, tạo ra cảm giác bỏ lại những ồn ào của thị thành. Người ta đã cho phá đi, xây thấp như ngày nay (mà chỉ trong một đêm là hoàn tất. Có lẽ sợ có ai phản đối chăng, vì tường cũ và tường mới, cao và thấp là hai ý tưởng rất xa nhau, tương tự như có người đã phản đối trồng 4 cây liễu nơi Tháp Rùa, và quét vôi trắng lốp ngôi tháp cổ ấy. Nay, nếu ai phê phán, thì cũng đã rồi. May thay, hình như không ai cả).

    Hà Nội một trăm năm, dâu bể đổi đời dữ dội. Đứng nơi gốc cây gạo mới trồng, hay trên núi Đào Tai, nay chẳng còn nhìn thấy sông Hồng đâu nữa. Nhưng ánh sáng ban mai vẫn tỏa rộng chứa chan. Cầu Thê Húc vẫn ngời ngời sắc đỏ. Cây cầu đã đi vào tranh, vào nhạc, vào thơ, vào lòng người niềm tự hào và bất tử.

    Những cây cầu qua sông, qua suối, qua hồ, qua mương, nơi nào có được cây cầu son đỏ như Thê Húc của Hà Nội nghìn năm?

    ---------
    Băng Sơn
    Lần sửa cuối bởi chutichhtcbk; 13-05-2005 lúc 04:23 PM
    Việc nước là việc lớn nhất
    Nhưng việc giữa người với người không thể nhỏ hơn

    (Lý Chiêu Hoàng nói với Trần Thủ Độ)



    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA MÃI MÃI LÀ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA BAO GIỜ VÀ KHÔNG BAO GIỜ LÀ CỦA BẤT KỲ MỘT QUỐC GIA NÀO KHÁC NGOÀI VIỆT NAM

  2. #2
    Em vẫn như ngày xưa Avatar của cáo đeo nơ
    Tham gia ngày
    Nov 2003
    Bài gửi
    3.932

    Mặc định

    "Cầu Thê Húc cong cong như chiếc lược ngà", bác lại làm em nhớ đến bài văn em tả cảnh cầu Thê Húc, ngày đó chỉ 1 lần được đi quanh hồ gươm, ngắm nhìn cầu Thê Húc thế mà về em miêu tả cứ gọi là...em miêu tả nó hình con tôm, với những cái càng ngoe nguẩy,...hì hì...Đến mãi gần đây em mới đi qua cầu để vào đền Ngọc Sơn lần thứ 1. Chẳng hiểu vì sao, đi qua Hồ gươm thì nhiều nhưng phải mất 23 năm mới đi được từ đường Đinh Tiên Hoàng vào trong đền ngọc sơn, vì hôm đó dẫn 1 người đi thăm...Thú thực, đứng trên đó ngắm cảnh thì tuyệt lắm
    Mà sao ko có bác nào giải thích vì sao nó lại có tên gọi là "THê Húc"
    Mạn phép Bác Chutich em đổi tên của topic là "Hà nội trong tôi" nhé
    Lần sửa cuối bởi Be4After; 13-05-2005 lúc 04:33 PM Lý do: post nhầm ảnh của anh, coi lại file ảnh đi cáo
    Mặc kệ cuộc đời, mặc nắng mưa
    Mặc kệ yêu thương, mặc dối lừa
    Mặc kệ tình ai, mặc tình tôi
    Mặc kệ vấn vương trói buộc đời
    Mặc kệ thị phi, mặc tiếng đời
    Mặc kệ danh lợi , mặc kệ vui
    Cứ buông tất cả vào trong gió
    Để chút lòng cười với thảnh thơi
    .....

  3. #3
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Hà Nội băm sáu phố phường

    Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
    Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai,
    Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay,
    Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày,
    Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,
    Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than,
    Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Ngang, Hàng Đồng,
    Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông,
    Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè,
    Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,
    Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà,
    Quanh đi đến phố Hàng Da,
    Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.
    Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
    Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
    Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
    Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.

  4. #4
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Sự tích và cảnh vật Hồ Gươm thời Lê


    Hồ Gươm xưa kia được hình thành từ một đoạn cũ của dòng sông Hồng còn sót lại. Trước thời Lê, nhân dân quen gọi hồ là hồ Lục Thủy, bởi nước hồ lúc nào cũng xanh thăm thẳm. Thời đó phạm vi hồ rất rộng, khoảng gấp ba gấp bốn lần bây giờ, có hình gồm hai phần như con bướm châm hoa, giữa hai phần mặt hồ thắt lại như thân con bướm, phía cuối có con ngòi nhỏ ăn thông ra sông Hồng, thuyền có thể ra vào được.

    Cái tên hồ Hoàn Kiếm bắt nguồn từ một truyền thuyết lịch sử mà bất kỳ người Thăng Long nào cũng biết. Huyền thoại kể rằng: Trước khi diễn ra hội thề Lũng Nhai năm 1416, Nguyễn Thận (Lê Thận) người bạn từ nhỏ, rất thân thiết với Lê Lợi, một hôm quăng lưới bắt cá ở sông Chu, bắt được một thanh kiếm lạ, lưỡi rất sắc, trên lưỡi kiếm có khắc sẵn tên Lê Lợi và hai chữ Thuận Thiên, khi tối trời ánh hào quang từ lưỡi kiếm phát sáng rực rỡ. Mọi người đều cho đó là kiếm thần, thần linh có ý giúp Lê Lợi trừ giặc cứu nước. Nguyễn Thận liền đưa thanh kiếm tặng Lê Lợi. Lê Lợi đã dùng thanh kiếm đó cắt máu ăn thề cùng 18 chiến hữu tại hội thề Lũng Nhai, nguyện gian khổ bên nhau, sống chết có nhau, chung sức chung lòng quyết đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, dành độc lập cho non sông.

    Trong 10 năm chiến đấu gian khổ, Lê Lợi luôn đeo kiếm thần bên mình, những lúc xông trận, thanh kiếm từng được vung lên, chém nhiều giặc dữ. Lê Lợi vốn rất thông minh, vũ dũng và mưu lược, khi có kiếm thần bên cạnh thì trí thông minh, sức vũ dũng và tài thao lược của Lê Lợi như được tăng lên gấp bội. Sau ngày toàn thắng năm 1428, Lê Lợi lên làm vua, một hôm ngự thuyền cùng cận thần đi chơi trên hồ Lục Thủy, bỗng thấy một con rùa vàng rất to nổi lên bên cạnh thuyền ngự. Nhà vua vốn luôn đeo kiếm thần bên mình, bèn rút ra dùng đầu kiếm gõ lên đầu rùa, có ý đùa vui với rùa vàng. Rùa vàng dường như hiểu ý, vẻ rất dạn. Đột nhiên rùa ngẩng cao đầu đớp lấy thanh kiếm rồi lặn xuống đáy hồ. Nhà vua sau đó sai lính tát cạn hồ để tìm, nhưng chẳng thấy kiếm và cũng chẳng thấy một con rùa nào. Nhà vua bèn cho rằng đó là thần linh nhận thấy giặc đã yên, nên hiện thành thần rùa thu lại kiếm, nhân đó bèn cho đổi tên hồ thành hồ Hoàn Kiếm tức Hồ Gươm hay hồ Hoàn Gươm.

    Hồ Gươm trở thành nơi nghỉ ngơi của các bậc quyền quý bắt đầu từ giữa thế kỷ 15 trở đi. Vua Lê Thánh Tông sai dựng một tòa nhà lớn ở hòn đảo phía bắc hồ, mùa hè ra câu cá hóng mát. Gặp tiết trăng rằm trời đẹp, nhà vua tổ chức câu cá cùng các đại thần ở trước điếu đài “Yến ẩm xong thì thả cá chép đeo vòng vàng ở đuôi, gọi là kim ngư, các quan ai câu được thì thưởng. Dân chúng tập trung quanh đó để cùng dự cuộc vui”.

    Thời chúa Trịnh, phủ chúa ở gần hồ, tại một địa điểm mà khi hồ được ngăn đôi bằng con đường đi lát đá, thì một bên gọi là hồ Tả Vọng, một bên là hồ Hữu Vọng. Dân gian gọi hồ Tả Vọng là Hồ Gươm và Hữu Vọng là hồ Thủy Quân (do đây là chỗ thuyền chiến của quân đội triều đình luyện tập). Cạnh hồ phía nam có mở trường đúc súng thần công và xưởng thuyền chiến. Sát hồ là một tòa lâu đài có gác, gọi là lầu Ngũ Long vì trên nóc có năm con rồng cuốn. Chúa Trịnh ra ngự ở trên lầu này xem biểu diễn thủy quân . Chúa Trịnh Giang cho xây cung Khánh Thụy ở trên đảo giữa hồ phía Bắc và đắp 2 núi giả ở trên hồ phía đông gọi là Đào Tái và Ngọc Bội. Trên hòn đảo nhỏ phía nam hồ, chúa còn cho xây Tả Vọng Đình làm chỗ bơi thuyền đi lại.

    Thời Trịnh Mạc chiến tranh loạn lạc, nhiều cung điện lầu các bị phá hủy, dân cư chuyển đến tập trung quanh hồ. Làng mạc mọc đến đau thì đình chùa miếu mạo mọc lên đến đó. Ngoài những ngôi đình của riêng từng làng sở tại quanh hồ như Yên Trường, Nghĩa Lâu, Vũ Thạch, Yên Trung, Tự Tháp, Báo Khánh, còn nhiều đền miếu khác. Phía đông bắc hồ có Chân tiên điện, nhân dân gọi là đền Bà Kiệu, nơi các cung phi bà chúa ra ăn chay tu đạo, phía đông bờ hồ có đền Bảo Linh, nơi Lê Thánh Tông cho trưng bày những tượng Phật và voi ngựa đá là những chiến lợi phẩm của trận đánh Chiêm Thành năm 1470. Trong đền có bài vị Thánh Cổn (tức Thái hậu nhà Tống thờ ở đền Cổn Hà Tĩnh đã có công âm phù nhà vua Nam chinh), do thế mà đền có tên thông thường là Chùa Tàu. Cạnh chàu Tàu có miếu Dương Võ thờ các vị tướn thời Hậu Lê chỉ huy và huấn luyện giỏi đội quân voi trận. Tại thôn Yên Trường còn một ngôi đền nhỏ nữa thờ công chúa Huyền Trân đời Trần.

    Những năm loạn li cuối đời Cảnh Hưng, họ Trịnh bị mất ngôi chúa, chiến tranh phe phái, lại thêm sự báo thù nhỏ nhen hèn hạ của Lê Chiêu Thống, nên bao nhiêu đền đài cung điện của họ Trịnh hoặc dính dáng tới họ Trịnh đều bị phá hủy. Tại Hồ Gươm cung Khánh Thụy không còn, lầu Ngũ Long bị đốt cháy thành tro than .

    Năm 1842, đền Ngọc Sơn được xây dựng trên cơ sở đền cũ trên nền cung khánh Thụy. Đền thờ Phật, Quan Đế và Văn Xương. Bên trái cổng đền có một tháp bằng đá xây trên ngọn núi đá, cả tháp và đá cao 28,9m, gọi là cụm kiến trúc Tháp Bút. Trên thân Tháp có khắc bài chí của Nguyễn Văn Siêu - một văn nhân nổi tiếng, có câu đại ý coi tháp là tượng trưng của nền văn vật. Ngày nay tháp có 5 tầng, đỉnh là một ngòi bút lông dựng ngược, có khắc ba chữ “Tả thanh thiên” (Viết lên trời xanh).

    Cầu Thê Húc là lối vào đền có nghĩa là “Chiếc cầu đậu áng ban mai”, thực ra mới được xây dựng ở thời gần đây.

    Giữa hồ có Gò Rùa, tương truyền là nơi rùa hoang lên đẻ trứng.

    Theo truyền thuyết dân gian, một phú hộ đã kiếm cớ đứng lên xây ngôi tháp trên gò để bí mật chôn hài cốt cha mẹ (vì tin rằng phog thủy ở đây tốt). Việc không thành vì ngưòi ta đã bí mật đào hai bộ xương quẳng mất đi mất tích. Chỉ còn lại ngôi tháp sừng sững in bóng giữa lòng hồ.


    ----------
    Hà Nội mới

  5. #5
    Kiếm tiền nuôi con Avatar của chutichhtcbk
    Tham gia ngày
    May 2005
    Bài gửi
    2.596

    Mặc định

    Con số 4 nổi tiếng của Thăng Long - Hà Nội


    Tứ bất tử

    Thánh Gióng, Thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử.

    Tứ trấn
    Huyền Thiên trấn vũ trấn cửa Bắc (kiếp trước là vua Đế Thích và 1 kiếp nữa là tướng của An Dương Vương).
    Thần Mã trấn cửa Đông.
    Thần Linh Lang trấn cửa Tây (con vua Lý)
    Thần Cao Sơn trấn cửa Nam.

    Tứ khí

    Chuông Quy Điền (ngay cạnh chùa Một Cột)
    Tháp Bảo Thiên (phố Lý Quốc Sư)
    Tượng đồng Trấn Vũ (đền Quán Thánh)
    Tượng Phát Lâm (tượng có nụ cười yêu đời ở chùa Bà Đá).

    Nay trong tứ khí chỉ còn có tượng đồng Trấn Vũ

    Tứ quan

    Cầu Dền, Đồng Lầm, Cầu Giấy, Yên Phụ.

    Tứ hồ

    Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, hồ Bảy Mẫu, hồ Ba Mẫu.

    Tứ ca

    Đàm Mộng Hoàn (nổi tiếng những năm 1937 - 1940)
    Hoa Tâm (nổi tiếng những năm 1957 - 1961)
    Ái Liên (nổi tiếng những năm 1938 - 1940)
    Diễm Lộc (nổi tiếng những năm 1959 - 1961)

    Tứ sắc

    1. Cô Síu (phố Cột Cờ, con gái nhà viết tiểu thuyết kiếm hiệp Lý Ngọc Hưng, nổi tiếng những năm 1931 - 1933).
    2. Cô Nga Hàng Gai (nổi tiếng những năm 1939 - 1941)
    3. Cô Vương Thị Phượng (nhân vật chính trong tiểu thuyết "Mồ cô Phượng", có sắc đẹp rực rỡ trong những năm 1925 - 1927).
    4. Cô Đỗ Thị Bính người đàn bà mặc áo đen, không dùng son phấn. Cô là người con gái mà Nguyễn Nhược Pháp yêu trộm nhớ thầm. Cuộc đời cô có mặt đầy đủ trong cả 10 bài thơ tuyệt đẹp của nhà thơ tài hoa họ Nguyễn.

    Tứ Kiều

    Các cô Kiều Vinh, Kiều Dinh, Kiều Hinh, Kiều Hương ở phố Hàng Bông, nổi tiếng xinh đẹp trong những năm 1940 - 1945.
    Kiều Dinh là vợ của kịch sĩ nổi tiếng về đẹp trai và tài hoa là Kỳ Ngang.

    Tứ thái (rau)

    1. Húng Láng
    2. Dưa la
    3. Cải canh
    4. Cà cáo

    Tứ vị

    1. Bún thang Tế Mỹ
    2. Bún chả Đồng Xuân
    3. Bánh cuốn Thanh Trì
    4. Chả cá Lã Vọng

    Tứ thưởng (thưởng thức)


    1. Nước mắt cô Kiều
    2. Nỗi oan thị Kính
    3. Nụ cười Xúy Vân
    4. Lẳng lơ thị Mầu.

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube