Khi trong nước lòng dân không yên, chính sự lục đục thì ngoài biên cương nổi lửa ngay. Đó là một bài học lớn trong lịch sử VN. Năm 1406 – sáu năm sau khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, lên ngôi vua, lập ra nước Đại Ngu, nhà Minh thừa cơ xâm lược nước ta là một dẫn chứng sinh động.

“Vừa rồi: Nhân họ Hồ chính sự phiền hà.
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa.
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”


– Bình Ngô đại cáo.

Tám mươi vạn quân Minh, do Trương Phụ, Mộc Thạnh chỉ huy, tràn sang xâm lược nước ta. Quân nhà Hồ chống cự không nổi. Cha con Hồ Quý Ly và các triều thần bị bắt, đưa về TQ. Trong số các triều thần bị bắt ấy, có Nguyễn Phi Khanh là thân phụ của Nguyễn Trãi. Hai anh em Nguyễn Trãi lên biên giới, muốn theo cha sang TQ để hầu hạ cha lúc về già. Đau xót biết chừng nào!

Ai lên ải bắc ngày xưa ấy
Khóc tiễn cha đi mấy dặm trường
Hôm nay biên giới mùa xuân dậy
Núi trắng hoa mơ cờ đỏ đường


(Mục Nam Quan – Tố Hữu)

Nhưng, biên giới Việt – Trung không chỉ có hoa mơ trắng núi đồi và cờ đỏ đường, mà còn đầy máu và nước mắt. Đó không chỉ là chuyện của ngày xưa. Bấy giờ, Nguyễn Phi Khanh nói với Nguyễn Trãi, con là người có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu. Thế là Nguyễn Trãi quay trở lại, tìm con đường trả thù nhà, đền nợ nước như lời cha dặn.

Hơn mười năm sau đó, Nguyễn Trãi tìm đến với Lê Lợi, thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn. Gạt ra dự cảm thiên tài về số phận của mình sau này khi lần đầu nhìn thấy Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã trao bản Bình Ngô sách cho Lê Lợi. Bình Ngô sách vạch ra chiến lược, chiến thuật đánh quân Minh, hiến mưu chước lớn, không nói việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người. Từ đấy, Nguyễn Trãi làm quân sư bên cạnh Lê Lợi, không những vạch ra đường lối cuộc kháng chiến chống quân Minh mà còn nhân danh Lê Lợi đứng ra giao thiệp với kẻ thù.

Một trong những việc giao thiệp ấy của Nguyễn Trãi là viết thư cho bọn chỉ huy quân Minh như Sơn Thọ, Phương Chính, Vương Thông. Những bức thư đánh giặc nổi tiếng. Sách Lam Sơn thực lục viết: “Vua từ khi khởi binh đến khi bình Ngô phục quốc, bao nhiêu văn thư qua lại trong quân đều sai Nguyễn Trải làm cả”. Khi cương khi nhu, lúc hòa lúc chiến, ngòi bút Nguyễn Trãi vô cùng biến hóa, tài tình, làm cho kẻ thù cũng kính nể.

Ta hãy xem thư của Nguyễn Trãi viết cho Phương Chính:
“Bảo mày ngược tặc Phương Chính: Kể đạo làm tướng, lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của. Nay bọn mày chỉ chuộng lừa dối, giết hại kẻ vô tội, hãm người vào chỗ chết mà không xót thương, việc ấy trời đất không dung, người người đều giận, cho nên liền năm chinh phạt, hằng đánh hằng thua. Thế mà không biết trước tự cải quá, lại còn bới bẩn cho thêm thối, hối sao được!..”.

Gọi tướng giặc là “ngược tặc”, nào có sợ gì nó. Giọng thư vô cùng đanh thép. Phương Chính sau khi xem xong thư, trả lời, ý muốn nhử cho quân ta ra chỗ đồng bằng đất phẳng mới đánh nhau, hòng giành lợi thế.

Nguyễn Trãi lại viết thư cho y:
“Bảo cho mày ngược tặc Phương Chính: Kể người dùng binh giỏi thì không có đâu là hiểm, đâu là không hiểm, không có đâu là dễ, đâu là không dễ. Thắng hay phụ là ở tướng, chứ không ở đất hiểm hay dễ. Vào chỗ hiểm mà đánh nhau không khác gì hai con hổ đánh nhau ở trong thung lũng, giỏi thì được, vụng thì thua. Bởi vậy, đất không có hình thưởng nhất định, trận không có thế thưởng nhất định. Nếu mày không lui, thì phải đem binh ra mà quyết chiến thôi”.

Ấy là Nguyễn Trãi tiếp tục khiêu chiến, nhử chúng lên miền núi để quân ta tiêu diệt theo lối mai phục – lối đánh sở trường của quân ta.

Thế nhưng, quân giặc không dám ra đánh. Rồi thành Nghệ an bị quân ta vây, giặc được tăng viện, mở đợt phản công giải vây nhưng thất bại, chúng lại xây thành, đắp lũy, đóng chặt cửa thành cố thủ. Nguyễn Trãi lại khiêu khích chúng, dụ giặc ra khỏi thành để tiêu diệt – ngay ở địa hình đồng bằng:
“Bảo cho mày ngược tặc Phương Chính: Ta nghe nói người danh tướng trọng nhân nghĩa, khinh quyền mưu. Bọn mày gửi thư cho ta, cứ cười ta núp náu ở nơi rừng núi, thập thò như chuột, không dám ra nơi đồng bằng đất phẳng để đánh nhau. Nay ta đã đến đây, ngoài thành Nghệ an đó đều là chiến trường cả, mày cho đấy là rừng núi chăng? là đồng bằng chăng? Thế mà mày cứ đóng thành bền giữ như mụ già là làm sao? Ta e bọn mày không khỏi cái nhục khăn yếm vậy”.

Ba lần liên tục Nguyễn Trãi gọi tướng giặc là “ngược tặc”, phân tích rất thuyết phục về binh pháp, cái thế của địch, của ta, khiêu khích chúng, dụ chúng vào trận mình dàn sẵn. Chúng ta đọc những bức thư đánh giặc ấy, thấy thật hào sảng, tự hào. Nó khác xa những công hàm “phản đối”, những “giao thiệp” hay những “phát ngôn” thời nay, nghe xong, đôi lúc chúng ta không khỏi cảm thấy hổ thẹn. Rồi quân địch bị quân ta vây hãm ở thành Đông Quan. Các tướng lĩnh của Lê Lợi muốn đánh thành, giết cho kỳ hết quân giặc. Nhưng Nguyễn Trãi, đứng ở một vị thế rất cao, nhìn rất xa, lại nghĩ khác. Ông cho rằng, tìm cách dụ hàng Vương Thông là kế hay hơn cả. Như thế, “có thể dập tắt muôn đời chiến tranh, mở nền thái bình muôn thuở”.

Những bức thư đánh giặc của Nguyễn Trãi lại bay đi bay về giữa ta và quân giặc. Cuộc chiến ngôn từ ấy không hề dễ dàng. Vương Thông, một mặt làm ra vẻ giảng hòa; một mặt lại sai đắp lũy, xây thành, chờ quân tiếp viện. Nguyễn Trãi đã vạch ra cho y thấy tất cả những mưu mô ấy, cũng như tình thế tuyệt vọng của quân Minh.

Và đây là một bức thư đặc biệt của Nguyễn Trãi gửi Vương Thông:
“Nay tôi tính cho các ông nghe, các ông có sáu điều đáng thua: Trời và người không ưa, vận hưng thịnh gần hết, là một điều đáng thua; Đóng quân ngồi giữ thành trơ trọi, thế đã cùng quẫn, quân cứu viện không đến được, là hai điều đáng thua; Khí thế của quân lính nhụt kém, không chịu theo lệnh sai bảo, là ba điều đáng thua; Hết đường kiếm củi, cắt cỏ, lương cô túng thiếu, là bốn điều đáng thua; Nước lụt mùa hè tràn ngập, tường và cừ sách sạt đổ, là năm điều đáng thua; Người nước tôi bị hãm lâu trong thành, bị cùng khốn, muốn được về nhà, tất có nội biến xẩy ra, là sáu điều đáng thua”.

Cùng với sức mạnh quân sự, những bức thư đánh giặc của Nguyễn Trãi góp phần làm cho Vương Thông không đợi mệnh vua Minh, tự ý giảng hòa với quân Lam Sơn rồi kéo quân về nước. Cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược hoàn toàn thắng lợi.

Hơn 500 năm sau, cuộc chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, sau khi Chính phủ Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể làm nhằm tránh cuộc chiến ấy. Nhưng người Pháp không muốn dễ dàng từ bỏ Đông Dương. Ta gặp lại tướng Ra-un Xa-lăng, Tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam – người đã nói chuyện rất nhiều lần với Hồ Chí Minh, từng tháp tùng Hồ Chí Minh đi Pháp năm 1946. Cuộc chiến Việt – Pháp bùng nổ và số mệnh buộc họ lại là đối thủ của nhau.

Một bức thư bằng tiếng Pháp của Hồ Chí Minh, đề ngày 10.6.1947 viết cho tướng Xa-lăng:

“Tướng quân thân mến! Tôi vừa nhận được tin ông trở lại đất nước tôi. Năm ngoái (đối với tôi, tưởng chừng như mới chỉ hôm qua mà cũng như là đã nhiều thế kỷ), chúng ta đã cùng đi với nhau trên chặng đường dài. Chúng ta đã nói chuyện nhiều với nhau. Về rất nhiều vấn đề, về các nhân vật, các sự kiện, chúng ta đều thống nhất ý kiến. Nói tóm lại một câu, chúng ta là những người bạn rất thân. Những tình huống ngoài sự mong muốn của chúng ta đã làm chúng ta trở thành những địch thủ của nhau. Thật rất đáng tiếc! Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, nếu ông đã có mặt ở đây và có những quyền hành cần thiết, những sự việc đau lòng đã có thể tránh được. Tôi biết ông khá rõ để tin rằng, trong thâm tâm ông không đồng tình với cuộc chiến tranh huynh đệ này, chẳng giải quyết được cái gì cả mà chỉ tổn hại đến tình thân thiện và chậm lại sự hợp tác có tính chất xây dựng giữa hai nước chúng ta. Nhưng thôi! Đối với tôi, bổn phận thiêng liêng của người yêu nước ra lệnh cho tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và vì đồng bào của mình. Đối với ông, chức trách quân nhân ra lệnh cho ông làm điều mà trái tim ông phản đối. (….) "

Vì chúng ta đã bắt buộc phải đánh nhau, vậy thì hãy là những hiệp sỹ cao thượng và những địch thủ đứng đắn, trong khi chờ đợi lại trở thành bạn của nhau. Chúng ta đã từng là bạn. Về mặt cá nhân, chúng ta vẫn còn là bạn. Ông có muốn thế không? Nhân danh tình yêu nhân loại và nhân danh tình bạn giữa cá nhân chúng ta, tôi đề nghị ông hãy nghiêm cấm quân đội Pháp, không được giết hại thường dân, cưỡng hiếp phụ nữ, thiêu cháy những xóm làng không có gì tự vệ, hủy diệt các nhà thờ, đền chùa như đã làm cho mãi tới nay. Tôi đảm bảo với ông, các quân nhân và dân sự người Pháp trong tay chúng tôi đều được đối xử rất tử tế. Tôi mong, người của chúng tôi cũng được các ông đối xử tương tự. Ông đại úy Các-chi-ê tốt bụng còn đi theo ông không?

Nhờ ông chuyển lời chào của tôi tới bà Xa- lăng và những cái hôn âu yếm của tôi tới hai cháu trai lớn và cháu bé mới sinh của ông bà. Mong tướng quân hãy tin vào những tình cảm đặc biệt nhất của tôi”.


Một bức thư “địch vận” cực kỳ khéo léo, được viết bằng lời văn Pháp rất uyên bác, thể hiện phong cách và tình cảm của Hồ Chí Minh. Tướng Xa-lăng cho biết, “sau khi đọc xong, một hoài niệm tràn ngập trong tôi”…

Đánh giặc, không gì hơn là đánh vào lòng người. Những bức thư đánh giặc của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã chứng minh điều đó. Chế độ nào để mất lòng người, sẽ mất tất cả – lịch sử luôn nhắc nhở chúng ta.