User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/3 123 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 22

Chủ đề: Chuyên đề luyện thi tốt nghiệp môn văn

  1. #1
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Icon7 Chuyên đề luyện thi tốt nghiệp môn văn

    Nguyễn Tuân và Người lái đò Sông Đà
    TPO - Chuyên đề này nhằm củng cố các kiến thức xoay quanh tác giả Nguyễn Tuân và tuỳ bút “Người lái đò Sông Đà”.
    - Đặc điểm con người Nguyễn Tuân. (Tại sao người ta cho rằng: Cái tôi của Nguyễn Tuân chính là một định nghĩa đích thực về nghệ sĩ?)
    - Các chủ đề chính trong sáng tác.
    - Phong cách nghệ thuật độc đáo và sự vận động của phong cách, từ đó rút ra bài học về sáng tạo.
    - Hình tượng Sông Đà như một sinh thể sống động với những nét tính cách đối lập mà thống nhất: hung bạo, dữ dội, hùng vĩ nhưng cũng không kém dịu dàng, êm đềm, trữ tình.
    - Hình tượng người lái đò Sông Đà dũng cảm, tài hoa, vừa là một dũng sĩ vừa là một nghệ sĩ trong nghệ thuât leo ghềnh vượt thác.
    - Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    A. NGUYỄN TUÂN
    1. Tiểu sử
    - Quê: làng Nhân Mục, Thanh Xuân, Hà Nội.
    - Xuất thân: gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn, cha tài hoa bất đắc chí, sinh bất phùng thời > môi trường gia đình, đặc biệt là người cha có ảnh hưởng sâu sắc tới cá tính con người và cá tính nghệ thuật Nguyễn Tuân.
    2. Con người
    + Trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc: có những nét riêng biệt
    - Gắn bó với các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc: tiếng mẹ đẻ, kiệt tác văn chương, nhạc điệu hoặc đài các của thể ca trù hoặc dân dã của các điệu hòa xứ Quảng…
    - Say mê cảnh sắc đẹp của quê hương đất nước.
    - Trân trọng những thú chơi tao nhã của trí thức nho gia tài hoa sinh bất phùng thời.
    + Ý thức cá nhân phát triển rất cao:
    - Quan niệm “Đời là một trường du hí” > Sống là chơi mà viết cũng là chơi > Viết là một hình thức chơi văn độc đáo nhưng đã đẩy việc chơi đến đỉnh cao – chơi một cách nghệ thuật > Viết văn trước hết là để khẳng định cá tính độc đáo của mình.
    - Ham du lịch, nâng niềm ham thích này thành lý thuyết - “chủ nghĩa xê dịch”, với lối sống tự do, phóng túng, quá khuôn khổ chế độ thuộc địa đương thời.
    + Con người rất mực tài hoa, uyên bác:
    - Tuy chỉ viết văn nhưng am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh…
    - Biết vận dụng con mắt nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác để tăng cường khả năng quan sát, biểu hiện thế giới của nghệ thuật ngôn từ.
    - Sự uyên bác: ham đọc, tạo cho mình vốn tri thức sâu rộng, bề thế > làm giàu chất tài hoa nghệ sĩ > vẽ nên bức tranh đời sống, con người chân xác, đầy “sinh sắc” ngay cả những nơi mà ông chưa đặt chân tới.
    + Biết quí trọng nghề nghiệp văn chương:
    - Quan niệm lao động nghệ thuật là hình thức lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”.
    - Trân trọng nghề viết là trân trọng độc giả, trân trọng chính mình – lòng tự trọng, ý thức giữ gìn nhân cách.của bản thân. (Nhân cách của nhà văn chính là văn cách của anh ta – ý của Trần Dần).
     Dứt khoát phân biệt nghề văn với thói con buôn vụ lợi (“Nghệ thuật là cái mà bọn con buôn cho là vô ích. Ở đâu có đồng tiền, ở đó cái đẹp không tồn tại” - Nguyễn Tuân)
    3. Sự nghiệp sáng tác
    a. Quá trình sáng tác và các đề tài chính
    + Quá trình sáng tác
    - Thử bút qua nhiều thể loại: thơ, bút kí, truyện ngắn hiện thực trào phúng…
    - Năm 1938, nhận ra sở trường: tùy bút > bắt đầu có những tác phẩm thành công xuất sắc.
    - Sau cách mạng tháng Tám, vẫn tiếp tục khai thác thế mạnh tuỳ bút và có một số tuỳ bút nổi tiếng: “Sông Đà”, “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”.
    + Những đề tài chính:
    - Trước cách mạng: 3 đề tài chính:
    • Vẻ đẹp một thời vang bóng
    o Khơi nguồn từ những cảm giác mới lạ của những vẻ đẹp trong quá khứ còn vương sót lại trong hiện tại.
    o Đối tượng miêu tả: phong tục, thú tiêu dao lành mạnh, cách ứng xử đầy nghi lễ…
    o Giá trị:
     Phát hiện đầy trân trọng về chất tài hoa, nghệ sĩ của lớp nhà nho xưa trong đời sống văn hoá, sinh hoạt hàng ngày.
     Tình yêu, niềm tự hào truyền thống văn hoá dân tộc.
    o Tác phẩm: “Vang bóng một thời”, “Tóc chị Hoài”.
    • Chủ nghĩa xê dịch:
    o Nguồn gốc: lý thuyết từ phương Tây, chủ trương:
    Đi là:
     Không cần mục đích.
     Thay đổi chỗ ở, tìm cảm giác mới lạ, thoát li mọi trách nhiệm với gia đình, quê hương.
    o Với Nguyễn Tuân:
    Xê dịch là:
     Thay đổi thực đơn cho các giác quan.
     Biểu hiện thái độ bất mãn với hiện thực xã hội “ối a ba phường” - một sân khấu hề kịch.
     Thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc qua những “trang hoa”, “tờ hoa” về phong cảnh > có những khám phá thú vị, bất ngờ bằng ngòi bút tài hoa, tấm lòng gắn bó, tự hào, kiêu hãnh về đất nước, về giá trị truyền thống mà nhờ đi mới biết.
    o Tác phẩm: “Một chuyến đi”, Chiếc lư đồng mắt cua”.
    • Đời sống trụy lạc:
    o Cung cấp cho Nguyễn những kích thích mạnh về giác quan: rượu cồn, thuốc phiện, hát ả đào…
    o Nội dung:
     Cái tôi hoang mang, hoảng loạn, không phương hướng, bế tắc.
     Khao khát vươn tới cái thanh cao, thánh thiện nhờ đôi cánh nghệ thuật.
    o Tác phẩm: “Chiếc lư đồng mắt cua”.
    - Sau cách mạng:
    Tiếp tục đề tài: chủ nghĩa xê dịch.
    • Động lực: Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc > chào đón, phục vụ cách mạng nhiệt tình.
    • Mục đích xê dịch:
    o Kiếm tìm vẻ đẹp của non sông.
    o Phát hiện chất “vàng mười”, chất ngọc tiềm ần trong các tầng lớp nhân dân - những người lao động đang tiến hành xây dựng, chiến đấu và bảo vệ đất nước.
    • Hình tượng nghệ thuật trung tâm: nhân dân > vừa dũng cảm, anh hùng vừa là nghệ sĩ tài hoa.
    • Nội dung:
    o Tôn vinh tầm vóc, vị thế một dân tộc có văn hoá, sang trọng, sinh ra trên mảnh đất có bề dày lịch sử, ngàn năm văn hiến.
    o Nhuận sắc cho vẻ đẹp của con người Viêt Nam, dân tộc Việt Nam (miêu tả độc đáo chất tài hoa, nghệ sĩ)
    b. Phong cách nghệ thuật
    + Nhận định chung: gói gọn trong một chữ “ngông”
    - Ngông là:
    • Một việc làm khác đời, ngược đời, bất bình thường một cách tài hoa để khinh đời, nhạo đời. Ngoài tài hoa, người chơi phải có nhân cách.
    • Thường thích những cái độc đáo không giống ai.
    - Nguyễn Tuân chơi ngông:
    • Bằng văn chương > băn khoăn: viết cái gì cũng phải khác lạ (đề tài, nhân vật, kết cấu, cách hành văn, sáng tạo hình ảnh, dùng từ, đặt câu…) > văn khoe tài hoa, uyên bác.
    • Cơ sở:
    o Đối lập với môi trường thị dân tầm thường ngày xưa.
    o Khẳng định văn cách, cá tính.
    o Truyền thống chơi ngông trong văn chương: Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà…
    + Đặc điểm:
    - Sự tài hoa, uyên bác:
    • Tài hoa:
    o Cơ sở: quan niệm viết một tác phẩm cần có cái độc đáo, khác đời
    o Biểu hiện:
     Tiếp cận đối tượng ở phương diện: văn hóa nghệ thuật thẩm mĩ
     Tiếp cận con người ở góc độ: nghệ sĩ > mở rộng phạm vi khái niệm: không chỉ là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật mà bất kể ai, làm nghề gì, nếu biết nâng công việc của mình lên một cách phi thường, siêu phàm, độc đáo đều là nghệ sĩ > phát hiện chất “vàng mười” trong những con người, những công việc tưởng như rất bình thường, dung dị.
     Tiếp cận thiên nhiên: như một tuyệt tác nghệ thuật của tạo hóa, vừa kì vĩ vừa nên thơ quen thuộc.
    • Uyên bác:
    o Vận dụng tri thức của nhiều ngành nghệ thuật, nhiều lĩnh vực đời sống để miêu tả đối tượng.
    o Giàu thông tin, giàu giá trị tư liệu > lối viết bới lông tìm vết, khám phá tới sơn cùng thủy tận đối tượng.
    • Cảm quan sắc nhọn, phong phú
    o Hứng thú đặc biệt trước những cảnh tượng gây ấn tượng mạnh với giác quan nghệ sĩ.
    o Cơ sở: quan niệm sống hay viết cũng không chấp nhận cái gì phẳng lặng, dễ dãi, chung chung, nhàn nhạt, đơn chiều > luôn thèm khát những cảm giác mạnh, hứng thú với những cái đẹp tuyệt vời hoặc tuyệt đỉnh dữ dội.
    o Biểu hiện: đối tượng của những trang viết ấn tượng: thác (sông Đà), đèo (Cổng Trời), bão (Cô Tô), gió (Lào)…
    • Chữ nghĩa giàu có
    o Cơ sở: quan niệm viết văn là dốc cạn kho tàng chữ nghĩa để chạy đua cùng tạo hóa, để khoe chữ.
    o Biểu hiện:
     Sáng tạo từ ngữ, hình ảnh trong văn mới lạ, ấn tượng, giàu sức biểu cảm nhờ liên tưởng chính xác, tài hoa: nước Hồ Gươm xanh màu xanh “canh rau muống luộc nhừ”, nước Sông Đà mùa thu “lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”, “chuối ngự ngọt còn thơ Tú Xương rất chát”…> tạo khoái cảm thẩm mĩ cho người đọc.
     Biệt tài cá biệt hóa sắc độ các sự vật, hiện tượng: trăng “vàng nẫu”, áo cà sa “vàng sư sãi”, chuối vàng “giẫy nẫy”…
     Câu văn co duỗi nhịp nhàng giàu nhạc điệu.
    • Tùy bút tài hoa:
    o Đặc trưng thể loại:
     Thuộc thể kí, dạng có tính chất trung gian, vừa có tính chất kí (ghi chép), vừa có chất thơ (trữ tình) vừa mang màu sắc triết học trong tư duy.
     Thể văn tự do, tùy hứng nhưng cũng không quá phóng túng.
     Nguyên tắc kết cấu: vừa tán, vừa tụ
    Bề mặt: tản mạn, lắp ghép, chắp vá, đầu Ngô mình Sở.
    Bề sâu: nhất quán về ý nghĩa, tư tưởng: chủ đề > tạo trục xuyên suốt > người viết tùy bút tài hoa: trường liên tưởng phong phú, biến hóa, tán tụ như khối vuông ru bích.
    o Tùy bút Nguyễn Tuân: đỉnh cao tùy bút Việt Nam:
     Viết một bài tùy bút hay không quá khó nhưng để viết như một sở trường chỉ có Nguyễn Tuân.
     Qua tùy bút, thấy một cái tôi tài hoa, uyên bác.
     Viết nhiều tùy bút, nhưng mỗi tùy bút đều có nét riêng, với khả năng sáng tạo dồi dào.
    + Sự thống nhất và vận động của phong cách Nguyễn Tuân qua những sáng tác trước cách mạng tháng Tám.
    - Sự thống nhất (4 đặc điểm)
    - Sự vận động:
    • Đối tượng: những con người đặc chủng, đặc tuyển > những con người bé nhỏ, bình thường.
    • Cảm quan sắc nhọn: tìm trong đời sống trụy lạc > tìm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
    • Tùy bút: hướng nội, cái tôi khinh bạc, choán ngợp mọi đối tượng > làm giàu bởi chất kí, thiên về hướng ngoại, giọng văn đôn hậu, nếu có khinh bạc là với kẻ thù.
    Và tình đến như loài hoa quỳnh
    Nở bừng trắng xóa trong màn đêm
    Tình tôi hiền lắm
    Có gió lốc sẽ lớn khôn thêm
    Ngoài vườn tối riêng loài hoa quỳnh
    Làm thành đốm sáng soi lòng tôi
    Sao em lại sinh ra như cơ duyên biết trước?

  2. #2
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    B. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
    1. Giới thiệu chung
    a. Tùy bút Sông Đà:
    + Ra đời năm 1960, tái bản năm 1978.
    + Cấu trúc: 15 tùy bút và một bài thơ phác thảo.
    + Giá trị:
    - Phát hiện kì thú về tài nguyên, phong cảnh miền Tây.
    - Khám phá đầy trân trọng về vẻ đẹp – chất “vàng mười” của tâm hồn con người Tây Bắc: ngược về quá khứ miêu tả chiến sĩ cách mạng nhà tù Sơn La, những cán bộ cách mạng hoạt động cách mạng thời giặc tạm chiếm, những bộ đội, dân công trong chiến dịch Điện Biên…, trở lại hiện tại để tìm những lớp người mở đường kiến thiết Tây Bắc…
    - Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân.
    + Vị trí văn học sử: đỉnh cao sáng tác Nguyễn Tuân sau cách mạng.
    b. Tùy bút “Người lái đò Sông Đà”
    + Rút từ tập “Sông Đà”.
    + Nhan đề: “Sông Đà” > “Người lái đò Sông Đà” > tác dụng: nổi rõ hình tượng trung tâm của tùy bút là người lái đò.
    + Giá trị:
    - Giá trị thông tin, tư liệu: công trình khảo cứu về Sông Đà > cung cấp những hiểu biết chân xác, lí thú về Sông Đà .
    • Lịch sử Sông Đà.
    • Địa thế đặc biệt của Sông Đà và phong cách vượt thác của người lái đò.
    • Lịch sử đấu tranh của nhân dân Tây Bắc.
    • Sự chuẩn bị của nhà nước để chinh phục Sông Đà.
    - Giá trị văn chương.
    2. Phân tích:
    a. Hình tượng Sông Đà
    + Lời đề từ:
    - Thơ Nguyễn Quang Bích:
    “Chúng thủy giai đông tẩu/Đà giang độc bắc lưu”
     Nét riêng của Sông Đà: thế chảy độc đáo, nghịch ngược, không giống ai của Sông Đà > Nguyễn Tuân tìm thấy sự đồng cảm với cái “ngông” của thiên nhiên.
    - Thơ của nhà thơ Ba Lan:
    “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông”: cảm thán về vẻ đẹp nên thơ, thi vị của các dòng sông > hé mở vẻ đẹp trữ tình của Sông Đà.
    + Phân tích hình tượng con Sông Đà:
    + Khái quát: Sông Đà được miêu tả như một sinh thể sống động, có diện mạo, tính cách, nội tâm, hoạt động như con người > hiện lên như một nhân vật văn học với 2 tính cách nổi bật: vừa hung bạo, dữ dội, hùng vĩ vừa trữ tình, dịu dàng, nên thơ.
    + Tính cách hung bạo, vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ:
    Khúc thượng nguồn: lắm thác, nhiều ghềnh, độ dốc lớn, nước chảy xiết.
    - Vách đá: “dựng vách thành”, được đặc tả bằng một loạt các liên tưởng, so sánh cụ thể, độc đáo:
    • Mặt sông chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời
    • Chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu.
    • Có quãng con nai con hổ đã có lân nọt từ bờ này sang bờ kia.
    • Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh…
     Hẹp, sâu, dốc thẳng đứng, tạo cảm giác rợn lạnh.
    - Âm thanh tiếng nước:
    • Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt.
    • Thở và kêu như cửa cống cái bị sặc
    • Nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo.
    • Rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa như nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng > gợi không khí của một trận cuồng lửa, hủy diệt, dùng lửa để tả nước – hai yếu tố vồn tương khắc, giờ lại hòa hợp để tương sinh một so sánh độc đáo, gợi cảm > nhấn mạnh đặc tính hủy diệt ghê gớm của Sông Đà.
     Câu văn có kết cấu trùng điệp, liên hoàn, nhịp ngắn tạo giọng văn dồn dập, gấp gáp, cắng thẳng, từ ngữ cực tả trạng thái dữ dội > ấn tượng hãi hùng, rùng rợn và sức tàn phá khủng khiếp.
    - Hút nước:
    • Giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu.
    • Mặt giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh.
    • Cốc pha lê nước khổng lồ.
    • Từ đáy hút nước nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải.
     Nhận xét:
    • Đặc tả hút nước Sông Đà: sâu, sáng, xanh trong thăm thẳm.
    • Kết hợp thủ pháp của văn học và thủ pháp của điện ảnh > truyền đến độc giả cảm giác chân thực, sống động như tận mắt chứng kiến > Sông Đà không chỉ hung bạo mà còn nên thơ một cách hùng vĩ.
    - Thạch trận:
    Thạch trận không chỉ có vẻ hung hãn, dữ dằn của vách đá, hút nước mà còn bộc lộ bản chất nham hiểm, xảo quyệt
    • Đá:
     Mặt hòn đá nào cũng ngỗ ngược, “nhăn nhúm”, méo mó
     Đứng, ngồi, nằm, nghiêng với những nhiệm vụ riêng > bày sẵn thạch trận thành 3 tuyến.
    • Bày 3 trùng vi nhằm tước đoạt và hủy diệt đến cùng sự sống của con người: giở mọi thủ đoạn, miêu ma chước quỷ để dẫn dụ, phục kích > “binh pháp” sâu hiểm của “thần sông thần đá”.
     Chọn khúc ngoặt – khi tầm nhìn bị hạn chế để đánh phục kích.
     Dụ người vào sâu thế trận, đánh quật vu hồi > cô lập hóa, chặn mọi đường sinh.
     Khi giáp lá cà: giở mọi ngón đòn hiểm ác: nước thác reo hò làm thanh viện…> uy hiếp tinh thần đối phương.
     Nhận xét:
    • Ngôn từ phong phú, sử dụng thuật ngữ, hệ từ vựng của nhiều ngành khoa học, nghệ thuật khác nhau (quân sự, võ thuật, thể thao…)
    • Diễn tả tính chất cuộc đấu tranh giữa con người – tự nhiên: quyết liệt, căng thẳng, một mất một còn.
     Bản chất Sông Đà: vừa “khắc nghiệt như gì ghẻ, chúa đất”, vừa hùng vĩ dữ dội.
     Ấn tượng về con sông:
    • Mang diện mạo một kẻ thù
    • Thách thức đối với con người, gợi ham muốn chinh phục, khám phá, chế ngự.
    Tiểu kết:
    Thần thoại “Sơn Tinh, Thủy Tinh”: lý giải cái hung bạo, khắc nghiệt của Sông Đà bằng tư duy thần thoại cổ xơ “năm năm báo oán đời đời đánh ghen”. Nguyễn Tuân lại dựng lên vẻ đẹp dữ dội, hung bạo, hùng vĩ của Sông Đà bằng những trang văn cụ thể, chân xác, giàu liên tưởng.
    + Vẻ đẹp nên thơ và trữ tình:
    Tập trung ở khúc hạ lưu > dòng chảy êm, phẳng, rộng > nét tính cách tương phản với sự hung bạo được miêu tả cụ thể, chân thực bằng rất nhiều hình ảnh gợi cảm.
    - Điểm nhìn động: theo mùa; trên cao, xa; ngồi thuyền đi trên mặt sông.
    - Cụ thể:
    • Trên cao, xa:
    o Dây thừng ngoằn nghèo.
    o Tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân > vẻ đẹp duyên dáng, thơ mộng, e ấp như mang cả hương thơm quyến rũ của núi rừng (áng tóc thơm hương hoa ban hoa gạo).
    • Theo mùa:
    o Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông Lô.
    o Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về.
     Khả năng quan sát tinh tế, ngôn ngữ cá thể hóa cao độ nhờ những so sánh độc đáo, chân xác.
    • Cảm nhận con sông Đà gợi cảm trên tư cách một “cố nhân”
    o Màu nắng tháng ba Đường thi > liên tưởng độc đáo > nắng sông Đà như ngậm thơ, ngậm họa.
    o Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng >
    • Ngồi trên thuyền: “như một tình nhân chưa quen biết”
    Thuyền tôi trôi trên Sông Đà.//B Cảnh ven sông ở đây lặng tờ.//B Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê,/B quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi.//B Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa.//B Mà tịnh không một bóng người.//B Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp.//T Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm.//B Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử.//T Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.//B Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp – lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu.//B Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương,/B chăm chăm nhìn tôi lừ lừ trôi trên một mũi đò.//B Hươu vểnh tai,/B nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành:/B “Hỡi ông khách Sông Đà,/B có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?//B” Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi.//B Sông Đà bọt nước lênh bênh/B – Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình”/B của một người tình nhân chưa quen biết”//T (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc.//T Và con sông đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi,/B và con sông đang trôi những con đò mình chở buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.//B
    (Qui ước: /: nhịp ngắn; //: nhịp dài; B: thanh bằng; T: thanh trắc)
    o Thanh B là chủ đạo
    o Dùng động để tả tĩnh ( hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt, thuyền trôi, tiếng còi sương…) > đặc tả cái thanh tịnh tuyệt cùng của bờ bãi sông Đà.
    o Hình ảnh: đẹp, trong trẻo, thanh khiết, liên tưởng giàu chất thơ
     Lá ngô non đầu mùa, cỏ gianh đồi núi ra những nõn búp, con nai thơ ngộ, áng cỏ sương > tinh khôi, đọng hương sữa ngào ngạt, non tơ.
     Tiếng còi sương > âm thanh trong tâm tưởng, dội về từ quá khứ > chi tiết độc đáo, diễn tả sâu sắc cái yên lặng khôn cùng của bờ sông, tĩnh đến mức người và vật giao cảm để lặng tìm âm thanh tự tâm hồn, tự thời gian thăm thẳm.
     Bờ sông: hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa > không xác định, không cụ thể nhưng giàu sức gợi, gợi về quá khứ, gợi trăm năm cổ tích, khơi lại những trầm tích tâm hồn người Việt trong những trang viết cổ sơ > lấy những giá trị văn hóa truyền thống để so sánh > vĩnh viễn hóa bờ bãi sông Đà.
    Tiểu kết:
    o Ngòi bút tài hoa và biến hóa của Nguyễn Tuân đã thổi linh hồn cho Sông Đà, để vật thể vô tri hiện lên với những tính cách đối nghịch mà thống nhất.
    o Sông Đà hiện lên với 2 vẻ đẹp: vừa dữ dội, hung bạo, hung vĩ vừa dịu dàng, nên thơ, trữ tình > nguồn cảm hứng vô tận cho nghệ thuật.
    o Nét tài hoa, uyên bác trong nhìn nhận, khám phá, miêu tả thiên nhiên
    b. Hình tượng người lái đò
    + Khái quát:
    - Khắc họa trong tương quan với hình ảnh Sông Đà hung bạo, hùng vĩ.
    - Dụng ý: phẩm chất dũng cảm, gan dạ, kiên cường chỉ bộc lộ rõ nhất khi nhân vật đương dầu với khó khăn, thử thách. Giả sử đặt ông lái trong khung cảnh thi vị trữ tình của Sông Đà thì nhân vật sẽ trở thành một nghệ sĩ đa tình, lẫn vào thế giới nhân vật của Nguyễn Tuân trước cách mạng > Ông lái đó trở thành người anh hùng - nghệ sĩ trong thiên sử thi leo ghềnh vượt thác.
    + Tài năng:
    - Nắm chắc qui luật của thần sông thần đá.
    - Thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở.
     Hé mở vấn đề mang ý vị triết học sâu sa: trong cuộc chiến đấu một mất một còn với kẻ thù bốn chân, con người am hiểu và làm chủ qui luật là con người tự do, dẫu đó là qui luật đầy khắc nghiệt, chỉ cần một chút lơi tay, do dự và mất bình tĩnh là có thể trả giá bằng cái chết.
    + Giao tranh với thạch trận: Bút pháp tương phản dựng lên cuộc tranh chấp quyết liệt, gay gắt, căng thẳng trên thạch trận Sông Đà.
    Thạch trận Sông Đà (thiên nhiên) Ông Đò (con người)
    + Lực lượng: đá hậu, đá tướng, đá tiền vệ với nhiều thủ đoạn nham hiểm > hùng hậu, đông đảo, dữ dằn, hung hãn.
    + Giăng sẵn trận đồ bát quái: ba trùng vi, tập đoàn cửa sinh cửa từ, hệ thống boongke, pháo đài đá chìm nổi. lộ diện hay giấu mặt
    - Trùng vây 1:
    • 4 cửa tử, 1 cửa sinh.
    • Sóng trận địa phóng thẳng
    • Mặt nước hò la vang dậy(…), ùa vào mà bẻ gẫy cán chèo võ khí trên cánh tay ông lái > dọa dẫm, sấn sổ, hiếu chiến.
    • Sóng nước như quân liều mạng đội thuyền lên > hùng hổ.
    • Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình giữa trận nước vang trời thanh la não bạt > hung hăng như một đấu sĩ bất bại.
    • Miếng đòn hiểm độc nhất: luồng nước(..) bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò > giở ngón đòn hiểm hóc quyết định nhằm nốc ao đối phương.
    - Trùng vây 2:
    • Tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn > nham hiểm, xảo quyệt.
    • Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá > thiên nhiên hùng mạnh như thú dữ.
    • Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đòn cửa tử > dai dẳng, quyết liệt.
    • Không ngừng khiêu khích.
    - Trùng vây 3:
    • Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả.
    • Luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. + Một ông đò và 6 tay chèo > ít ỏi, cạn kiệt sức lực.
    + Như một đại tướng lão luyện, dày dạn kinh nghiệm trận mạc, ông đò bình tĩnh tiến vào trận địa, lần lượt vượt qua từng trùng vây:
    - Vượt trùng vây 1:
    • Hai tay giữ mái chèo .
    • Cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch.
    • Chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo.
    - Vượt trùng vây thứ 2:
    Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt.
    Nắm chặt lấy cái bờm song đúng luồng > ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vòa cửa sinh, lái miết một đường chéo về phía cửa đá > thành thạo, chính xác, dũng mãnh trong từng động tác.
    - Vượt trùng vây 3:
    • Phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa.
    • Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép.
    > dũng cảm, nhanh gọn, dứt khoát.
    Nhận xét:
    - Nhịp văn gấp gáp, hơi văn căng thẳng, câu văn dồn dập > gợi không khí cuộc giao tranh quyết liệt, một sống một chết.
    - Tương phản hai lực lượng: một bên là thiên nhiên – thác đá Sông Đà bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song, một bên là con người – ông lái đò bé nhỏ, cạn kiệt sức > tạo ra một tương phản để nhấn mạnh bản lĩnh, sự dũng cảm và khả năng chinh phục tự nhiên của con người.
    - Kết hợp kiến thức uyên bác của nhiều lĩnh vực: võ thuật, thể thao, quân sự… và trí tưởng tượng phong phú cùng kho chữ nghĩa phong phú, tài hoa > biến câu chuyện bình thường thành bản trường ca về người anh hùng – nghệ sĩ lái đò trong nghệ thuật vượt thác > ông đò vừa là một dũng sĩ vừa là một nghệ sĩ.
    Tiểu kết:
    - Hình ảnh ông lái hiện lên với tư cách người lao động - nghệ sĩ làm chủ thiên nhiên > vẻ đẹp của “chất vàng mười” trong tâm hồn con người Tây Bắc.
    - Sự uyên bác, trí tưởng tượng phong phú, kho chữ nghĩa giàu có là vốn liếng để nhà văn xây dựng thành công hình tượng người lái đò Sông Đà mang vẻ đẹp độc đáo.
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Nêu ngắn gọn đặc điểm con người Nguyễn Tuân.
    Đề 2: Trình bày ngắn gọn sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân.
    Đề 3: Nêu và phân tích ngắn gọn phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
    Đề 4: Phân tích vẻ đẹp hình tượng con sông Đà.
    Đề 5: Phân tích vẻ đẹp hình tượng con sông Đà
    Đề 6: Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lái đò.
    Đề 7: Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”.
    Gợi ý giải đề:
    Đề 1: Đặc điểm con người Nguyễn Tuân.
    + Lưu ý:
    - Tách đặc điểm con người Nguyễn Tuân thành một đề bởi Nguyễn Tuân là một trong số ít các nghệ sĩ có cá tính độc đáo. Nguyễn dường như là một minh chứng rõ rệt cho quan niệm: “Văn là người”, “Phong cách ấy là người” > Phong cách văn học và đặc điểm con người gần như trùng khít > hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam.
    - Gắn với quan niệm sống và viết của Nguyễn Tuân.
    + Hướng dẫn:
    - Giới thiệu khái quát về vị trí văn học sử của Nguyễn Tuân > dẫn dắt tới đặc điểm con người Nguyễn.
    - Nêu ngắn gọn các đặc điểm con người Nguyễn Tuân (trọng tâm)
    • Trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc
    • Ý thức cá nhân phát triển rất cao
    • Con người rất mực tài hoa, uyên bác
    • Biết quí trọng nghề nghiệp văn chương.
    - Nhận xét:
    • Khẳng định: con người có cá tính độc đáo, khác thường.
    • Mối quan hệ con người – phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: gần như trùng khít (nêu tên các đặc điểm phong cách cho thấy sự gắn bó mật thiết với các đặc điểm con người)
    • Cơ sở: xuất phát từ quan niếm sống và viết của nhà văn.
    Đề 2: Sự nghiệp sáng tác Nguyễn Tuân
    Dựa vào phần Kiến thức cơ bản để làm
    + Quá trình sáng tác và các đề tài chính
    + Phong cách nghệ thuật
    Đề 3: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
    + Giới thuyết nội hàm khái niệm phong cách nghệ thuật (xem lại chuyên đề Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và “Nhật kí trong tù”)
    - Là gì?
    - Vai trò?
    + Nêu và phân tích ngắn gọn phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.
    - Nhận định chung
    - Đặc điểm:
    • Sự tài hoa, uyên bác
    • Cảm quan sắc nhọn, phong phú
    • Chữ nghĩa giàu có
    • Tùy bút tài hoa:
    - Sự thống nhất và vận động.
    Đề 4: Hình tượng con sông Đà.
    + Khái quát
    - Vị trí hình tượng Sông Đà trong tác phẩm.
    - Sông Đà được miêu tả như một sinh thể sống động với những tính cách đối nghịch mà thống nhất
    - Nhận diện tổng quát 2 đặc điểm của Sông Đà gắn với lời đề từ.
    + Phân tích:
    - Sông Đà hung bạo, hùng vĩ.
    - Sông Đà nên thơ, trữ tình..
    + Nhận xét:
    - Sông Đà từ lâu là mạch thơ, nguồn hoạ, ý nhạc. Nguyễn Tuân miêu tả vẻ đẹp độc đáo của Sông Đà một cách độc đáo. Qua ngòi bút của Nguyễn, Sông Đà không đơn thuần là một cái tên trên bản đồ địa lí mà hoá một sinh thể sống động với những nét tính cách phong phú.
    - Gắn với phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân.
    Đề 5: Hình tượng người lái đò
    + Khái quát:
    - Vị trí của hình tượng người lái đò trong tác phẩm (gắn với nhan đề): hình tượng trung tâm.
    - Nhận diện tổng quát.
    + Phân tích:
    - Tài năng.
    - Giao tranh với thạch trận
    + Nhận xét:
    - Ông lái được miêu tả mang dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân
    - Hình tượng có sự kết hợp của cả 3 cảm hứng: hiện thực, lãng mạn, sử thi.
    - Làm phong phú thêm thế giới nhân vật những con người tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn.
    Đề 6: Dấu ấn phong cách Nguyễn Tuân trong “Người lái đò Sông Đà”.
    Phân tích theo 4 đặc điểm phong cách Nguyễn Tuân, có so sánh với các tác phẩm trước cách mạng để thấy sự vận động phong cách nghệ thuật và vị trí tác phẩm - một trong những tuỳ bút đặc sắc nhất của Nguyễn sau cách mạng.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  3. #3
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn ngữ văn: Hồn Trương Ba, da hàng thịt
    TPO - Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố những vấn đề cơ bản về tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.
    + Hình tượng Hồn Trương Ba mang bi kịch đau đớn.
    + Ý vị triết học nhân sinh sâu sắc.
    + Nghệ thuật viết kịch: xây dựng hành động và ngôn ngữ nhân vật.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Vài nét về tác giả, tác phẩm
    a. Tác giả:
    + Vị trí văn học sử:
    - “Hiện tượng” đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm 80 của thế kỉ XX.
    - Một trong những nhà soạn kịch tài năng của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.
    + Nhân tố tạo nên thành công:
    - Nhân tố chủ quan: Cảm hứng và tài năng nghệ sĩ.
    • Nguồn cảm hứng: động lực thôi thúc viết kịch cũng là động lực khiến tác giả viết thơ => khát vọng được bày tỏ tâm hồn mình và thế giới, muốn tham dự vào dòng chảy cuộn xiết của đời sống, được trao gửi và dâng hiến => sẵn bầu cảm hứng rạo rực, trăn trở, khát khao.
    • Tài hoa nhiều mặt: sáng tác thơ, vẽ tranh, viết truyện ngắn.
    - Nhân tố khách quan: không khí đổi mới, tinh thần dân chủ trong đời sống văn hóa chính trị những năm 80 => con người cá nhân với những mối quan hệ bề bộn thường ngày cùng văn học tham gia cuộc đối thoại với công chúng về những vấn đề nóng bỏng của xã hội => tác động tích cực đến tâm thế sáng tạo của văn nghệ sĩ:
    => Lựa chọn kịch nói là một cách “xung trận” trực tiếp, có thể tác động vào xã hội nhanh nhạy, hiệu quả, thể hiện trọn vẹn nhiệt hứng Lưu Quang Vũ.
    b. Vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt:
    + Nhan đề: ngầm chứa đựng một nghịch cảnh trớ trêu, một nghịch lí mang ý vị nhân sinh sâu sắc.
    + Khai thác cốt truyện dân gian:
    - Ông Trương Ba cao cờ, một hôm đột ngột chết.
    - Đế Thích tiếc tài đánh cờ của người nông dân ấy mà làm phép cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt (mới chết gần đó) để tiếp tục sống
    - Tranh chấp chồng giữa hai người vợ, đưa lên quan xét xử => thử bằng cách ra lệnh cho đương sự làm lần lượt 2 việc: mổ lợn và đánh cờ.
    - Đương sự không biết cầm dao mổ lợn nhưng thành công trong việc đánh cờ => quyết định cho vợ Trương Ba mang chồng về.
    + Tóm tắt vở kịch:
    - Trương Ba giỏi đánh cờ bị Nam Tào bắt chết nhầm.
    - Vì muốn sửa sai, Nam Tào và Đế Thích cho hồn Trương Ba sống lại, nhập vào xác anh hàng thịt vừa mới chết.
    - Trú nhờ linh hồn vào thể xác anh hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, người thân cảm thấy xa lạ, bản thân sống trong đau khổ, dằn trở vì phải sống trái tự nhiên và giả tạo. Thân xác hàng thịt làm Trương Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu không phải của chính bản thân ông.
    - Trước sự phiền toái và nguy cơ bị tha hóa, Trương Ba quyết định trả lại xác cho anh hàng thịt và chấp nhận cái chết.
    => Tình huống kịch: bắt đầu từ chỗ kết thúc của truyện dân gian.
    + Đề tài, chủ đề:
    - Suy nghiệm về nhân sinh, hạnh phúc: Giá trị của cuộc sống chỉ được xác lập khi được sống là mình, trong một thể thống nhất giữa linh hồn và thể xác.
    - Phê phán một số thói xấu trong xã hội đương thời: sự sách nhiễu, thói làm ăn vô trách nhiệm của giới cầm quyền, cách sống giả dối, không dám là mình; sự tha hóa vì dục vọng tầm thường…
    - Thấp thoáng vấn đề triết học sâu sắc: mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong đó tác giả nhận thấy tính chất biện chứng của nó song đặc biệt nhấn mạnh, ngợi ca mặt tinh thần cao khiết, thanh sạch của con người.
    + Vị trí văn học sử:
    Một trong những vở kịch xuất sắc nhất của Lưu Quang Vũ.
    c. Đoạn trích:
    + Vị trí đoạn trích
    - Cảnh VII và đoạn kết của đoạn kết của vở kịch.
    + Tóm tắt diễn biến tình huống kich:
    Xung đột trung tâm của vở kịch (hồn Trương Ba và xác hàng thịt) lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng trú ngụ trong thể xác anh hàng thịt, Trương Ba ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân và ông cũng chán ghét chính mình.
    Từ đó dẫn đến cuộc đối thoại mang tâm trạng dằn trở của nhân vật: đối thoại với chính mình (độc thoại) đan xen với các cuộc đối thoại khác (đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt, với người vợ hiền, với Đế Thích).
    - Độc thoại: thể hiện sự “chán cái chỗ ở không phải của tôi”, muốn thoát ra khỏi thể xác kềnh càng.
    - Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác với sự hả hê châm chích của Xác và sự khổ đau bế tắc của Hồn.
    - Cuộc đối thoại với những người thân (vợ, cháu gái, con dâu) => càng đau khổ, tuyệt vọng và đi đến quyết định giải thoát.
    - Đối thoại với Đế Thích và kiên quyết giải thoát.
    2. Phân tích
    a. Độc thoại Hồn Trương Ba.
    + Hành động: ngồi ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy => biểu hiện:
    - Con người đang ở trạng thái u uất, bế tắc, không lối thoát (ôm đầu).
    - Đau khổ, dằn vặt, quẫn bách đến cùng cực, không thể chịu đựng dày vò hơn được nữa (vụt đứng dậy) => trào ra thành những dòng độc thoại đầy nước mắt.
    + Lời nói:
    - Phủ định: không, không muốn sống.
    - Tâm trạng:
    • Chán cái chỗ ở không phải của tôi lắm rồi.
    • Sợ, muốn rời xa cái thân thể kềnh càng thô lỗ “tức khắc”.
    • Khao khát “tách ra cái xác này, dù chỉ một lát”.
    => Nhận xét: các câu cảm thán, ngắn => lời văn dồn dập, hối thúc => trạng thái căng thẳng, bức bách.
    b. Đối thoại Hồn - Xác
    + Mô tả:
    - Xác: xoáy vào hiện thực bi kịch của Hồn: “linh hồn mờ nhạt”, “không tách ra khỏi tôi được đâu”
    Hồn: ngạc nhiên vì thể xác cũng có tiếng nói “mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u đui mù”.
    - Xác: “ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai khiến”, “sức mạnh ghê gớm, lấn át cả linh hồn cao khiết”.
    Hồn: bất lực, phủ định tiếng nói của Xác: “chỉ là vỏ bề ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc”.
    - Xác: hỏi lại đầy thách thức: “Có thật thế không?”.
    Hồn: chùn và đuối lí, buộc phải dần đồng tình, xác nhận sự ảnh hưởng của Xác “nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được”.
    - Xác: nhận thức sự lợi lí của mình, tiếp tục châm chọc: “Khi ông ở bên nhà tôi… Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại… Đêm hôm đó, suýt nữa thì…” => nhắc lại sinh động, tường tận dục vọng vật chất => bồi thêm nỗi dằn vặt vì sự thật nhỡn tiền, phũ phàng - Hồn đang xuôi theo Xác, bị Xác sai khiến.
    Hồn: kiên quyết phủ định: “là mày chứ, chân tay mày, hơi thở mày”.
    - Xác: đồng tình nhưng cũng đồng thời hỏi xoáy lại: “Chẳng lẽ ông không xao xuyến”, “Để thỏa mãn tôi, chẳng nhẽ ông không tham dự chút đỉnh gì?” => Xác dẫn dắt Hồn vào sự thật không thể phủ nhận – Hồn ít nhiều đã bị vấy bẩn, tha hóa bởi dục vọng của thân xác => lí lẽ của Xác khơi trúng điểm đen mà lâu nay vì trú ngụ trong Xác hàng thịt, Hồn Trương Ba trong khiết đã hóa màu.
    Hồn: bất lực: “Ta… ta đã bảo mày im đi” => lời văn ngập ngừng như lí lẽ bị hụt hơi => Hồn bị dồn vào chân tường để buộc phải công nhận sự chế ngự của thể xác.
    - Xác: xác nhận lại thái độ của Hồn “không dám trả lời”, khẳng định một lần nữa “Hai ta đã hòa làm một rồi” => nhấn vào sự thật đau đớn mà Hồn đang muốn trốn chạy, muốn phủ nhận, đẩy tình huống kịch lên cao trào.
    Hồn: Cố gắng cứu vãn: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn…”
    - Xác: mỉa mai “Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!”.
    Hồn: “bịt tai lại” => nỗ lực chối bỏ tuyệt vọng.
    - Xác: tiếp tục dùng lời lẽ hiểm hóc sắc lẹm như dao mổ, phanh trần nỗi đau đang tấy mủ trong Hồn: sức mạnh của Xác đã giúp Hồn thêm để làm việc vũ phu “tát thằng con ông tóe máu mồm máu mũi”.
    Hồn: chối bỏ “sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo”.
    - Xác: biện minh cho mình bằng những lí lẽ: “là hoàn cảnh” buộc Hồn phải qui phục, “cũng đáng được quí trọng”, không có tội.
    Hồn: phản ứng yếu ớt: “Nhưng...Nhưng”
    - Xác: “tôi rất biết cách chiều chuộng linh hồn”.
    Hồn hỏi: “Chiều chuộng”?
    - Xác: đưa ra giao kèo thỏa hiệp để chung sống: Xác sẽ “ve vuốt” Hồn bằng cách thông cảm với “những trò chơi tâm hồn”, nhận hết mọi điều xấu miễn là Hồn vẫn “làm đủ mọi việc để thỏa mãn thèm khát” của Xác.
    Hồn: nhận thức “lí lẽ ti tiện” của Xác.
    - Xác: khẳng định sự thắng thế của mình.
    Hồn than bất lực.
    - Xác: an ủi, kết thúc cuộc đối thoại.
    + Phân tích:
    - Tương quan lượt lời: Xác: dài, dày đặc, Hồn: ngắn, thưa thớt => sự lấn át, thắng thế của Xác - sự đuối lí, bất lực của Hồn => Hồn bị đẩy vào đường cùng, buộc phải xuôi theo những sự thật và lí lẽ hiển nhiên mà Xác chỉ ra.
    - Xung đột ngày càng đẩy lên cao trào, Xác tung ra những lí lẽ sắc bén như dao mổ, khoét sâu vào nỗi đau bị tha hóa của Hồn.
    c. Đối thoại Hồn Trương Ba - những người thân.
    + Với vợ:
    - Vợ:
    • Có ý định đi biệt để Trương Ba được thảnh thơi, “Còn hơn là thế này”.
    • Chỉ ra: “ông đâu còn là ông, đâu còn là Trương Ba làm vườn ngày xưa”.
    => Nhận xét:
    • Người vợ vị tha, nhẫn nhịn, hết mực yêu thương chồng.
    • Mang tâm trạng đau khổ tột cùng vì chứng kiến sự đổi thay của chồng. Nỗi đau hiện tại còn kinh khủng hơn giây phút bà tiễn thân xác chồng khỏi thế gian.
    - Hồn Trương Ba:
    • Lời thoại ngắn, toàn câu hỏi => biểu hiện: sự ngơ ngác, thảng thốt và trạng thái thẫn thờ, tê xót.
    • Hành động: ngồi xuống, tay ôm đầu => đau khổ, dằn vặt, tuyệt vọng.
    + Với Cái Gái:
    - Cái Gái:
    • Yêu thương gắn bó với ông hết mực: đêm nào cũng khóc, nâng niu từng chút kỉ niệm của ông => dẫn tới phản ứng dữ dội:
    • Lời lẽ tàn nhẫn, phũ phàng.
    • Chối bỏ, xua đuổi Hồn Trương Ba.
     Phản ứng quyết liệt của một đứa trẻ. Tâm hồn trẻ thơ vốn trong trẻo, chỉ có hai màu sáng tối, kiên quyết không chấp nhận cái xấu, cái ác.
    - Trương Ba: run rẩy => những lời nói của cháu nhỏ thêm một lần nữa xoáy khoét vào nỗi đau thăm thẳm của ông, để ông cảm nhận thấm thía bi kịch bị chính những người thân yêu chối bỏ.
    + Với con dâu:
    - Con dâu:
    • Thấu hiểu và cảm thông: “thầy khổ hơn xưa nhiều lắm”, “thương hơn”.
    • Nhận thức một sự thật đau đớn: “làm sao để giữ thầy ở lại, hiền hậu, vui vẻ, tốt lành như thầy của chúng con xưa kia”.
    - Trương Ba:
    Trước những lời lẽ chân thực của con dâu => “lạnh ngắt như tảng đá” => hoàn toàn tuyệt vọng.
    => 3 lượt đối thoại đi qua đẩy bi kịch của Hồn Trương Ba lên tới chót đỉnh. Những người thân thiết nhất cũng không chấp nhận nổi tình trạng hồn xác bất nhất của chồng, cha, ông mình.
    Con người Phương Đông vốn coi mái nhà và quan hệ ruột thịt là nền tảng tinh thần. Mất nó, con người gần như mất tất cả, rơi vào trạng thái đơn độc, chống chếnh.
    Đối thoại với những người thân mới cho nhân vật nhận cảm thấm thía tình trạng của bản thân, để đi đến hành động giải thoát quyết liệt. Nhà văn không đưa đối thoại với người con trai (lúc này đã bị đồng tiền cám dỗ, sinh ra thói con buôn vụ lợi) vào mà để Hồn đối thoại với vợ, cháu gái, con dâu – những người yêu thương, gắn bó với Trương Ba nhất để dẫn dắt Trương Ba đến nhận thức sâu sắc về tình trạng tuyệt vọng không lối thoát của bản thân mình.
    + Độc thoại:
    - Ý thức, công nhận sự thắng thế của Xác.
    - Tự vấn: “Lẽ nào ta lại chịu thua mày, khuất phục mày và tự đánh mất mình?”
    - Phản lại lí luận của Xác: “Có thật không còn cách nào khác? Không cần đến cái đời sống do mày mang lại! Không cần” => Thái độ kiên quyết, dũng cảm.
    => Nếu độc thoại ở màn đầu tiên, Trương Ba hiện lên trong trạng thái dằn vặt đau khổ thì ở màn độc thoại này, nỗi đau càng xa xót nhưng nhân vật không còn trăn trở về tình trạng Hồn – Xác bất nhất mà đã có một thái độ chủ động dứt khoát.
    d. Đối thoại Hồn Trương Ba – Đế Thích.
    + Gửi gắm những quan niệm của tác giả về hạnh phúc, sự sống, cái chết.
    + Đế Thích:
    - Đưa ra đề xuất để Trương Ba được sống: nhập xác Cu Tị => một cách tồn tại “dễ thở” hơn, “dễ chịu” hơn.
    - Khẳng định một hiện thực không phân biệt trần gian hay thượng giới: không ai được toàn vẹn cả.
    - Không hiểu được những suy nghĩ của Trương Ba “con người trần giới các ông thật kì lạ”.
    => Vị thần tiên quyền phép biến hóa, yêu mến Trương Ba nhưng rốt cuộc vẫn mang tầm nhìn, điểm nhìn xa lạ, không thể thấu hiểu những suy nghĩ trần thế.
    + Hồn Trương Ba:
    - “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” => quan niệm:
    • Hồn và Xác luôn thống nhất hài hòa trong một con người. Không thể có linh hồn thanh khiết trong một thể xác dung tục, tội lỗi.
    • Khi con người bị vấy bẩn bởi những dục vọng bản năng thì đừng chỉ đổ lỗi cho xác thân, tự vỗ về, ngụy biện bằng linh hồn cao khiết siêu hình.
    • Thái độ sống cần có của con người: dũng cảm, dám đối mặt, thừa nhận những sai lầm của bản thân, để không bao giờ trốn chạy.
    - “Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!”.
    =>Quan niệm: Cuộc sống thật đáng quí nhưng sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, không được là mình thì thật vô nghĩa. “Sống” đơn thuần chỉ là đời sống thực vật, “sống như thế nào” – sống “toàn vẹn” mới là đời sống của một con người. Để có được ý nghĩa chân chính đó quả không dễ dàng.
    - Khi Đế Thích so sánh: không thể đổi tâm hồn cao quí của bác lấy chỗ cho cái phần hồn tầm thường của anh hàng thịt => Phản ứng:
    • Thấu hiểu: tầm thường nhưng chúng sẽ sống hòa thuận với nhau.
    • Thương người vợ anh hàng thịt.
    - Chi tiết: Cu Tị chết => đẩy bi kịch đến chỗ “mở nút”.
    - Trương Ba tưởng tượng ra giả cảnh khi nhập xác đứa bé => bao nhiêu phiền toái khác do sự vênh lệch hồn xác sẽ xảy ra , nỗi đau của người thân cu Tị => nhận thức tỉnh táo => quyết định sáng suốt: xin cho cu Tị sống lại, để mình chết hẳn.
    Nhận xét
    - Lời của Trương Ba dày đặc => không còn cái ngập ngừng, yếu thế như trong đối thoại với Xác, mà tự tin, chủ động bày tỏ.
    - Quá trình đưa ra quyết định dứt khoát “chết hẳn”, Trương Ba đã thực hiện cuộc phục sinh tâm hồn mình. Người ta lại thấy một Trương Ba nhân hậu, vị tha, giàu tình thương.
    - Nhận thức được ý nghĩa đích thực của cuộc sống: Cuộc sống đáng quí biết bao (Ông tưởng tôi không ham sống hay sao?), nhưng sống mà không được là mình (sống giả tạo) thì chẳng có lợi cho ai ngoài “bọn khốn kiếp” đục nước béo cò.
    e. Đoạn kết
    + Khung cảnh:
    - Vườn cây: rung rinh ánh sáng. => Không gian quen thuộc gắn với con người Trương Ba, tinh thần Trương Ba => nơi lưu dấu những hồi ức tươi đẹp về Trương Ba trong lòng người thân vẫn được vun xới, để lại chan hòa, ấm áp.
    - Cu Tí hồi sinh và mẹ con đoàn tụ => hạnh phúc trong trẻo, cảm động.
    + Sự xuất hiện của Trương Ba:
    - Qua lời văn: chập chờn xuất hiện => chỉ là cái bóng.
    - Qua lời Trương Ba: “Tôi vẫn ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta, trong ánh lửa bà nấu cơm, cầu ao bà vo gạo, trong cái cơi bà đựng trầu, con dao bà giẫy cỏ… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu” => lời văn thấm đẫm cảm xúc, giàu chất thơ => chất trữ tình trong kịch Lưu Quang Vũ.
    - Qua đối thoại của cái Gái và cu Tị: cây na này ông nội tớ trồng đấy; qua hành động vùi hạt na xuống đất: “Cho nó mọc thành những cây mới. Ông nội tớ bảo vậy. Những cây sẽ nối nhau mà lớn khôn. Mãi mãi” => hình ảnh biểu tượng: đứa trẻ ngây thơ, trong trắng gieo trồng hạt giống mới biểu trưng cho sự nối tiếp, sinh sôi bất tử của Hồn Trương Ba, vẻ đẹp Trương Ba – thanh khiết, vẹn nguyên.=> cái chết hẳn về thể xác là sự hoàn nguyên kì diệu cho tâm hồn. Trương Ba đang sống một cuộc sống khác: sự sống bất diệt trong trái tim những người thân.
     Nghịch lí logic: Mặc dù giờ đây Hồn Trương Ba không có thân xác trú ngụ, chỉ là bóng chập chờn mờ ảo, vô hình lại là lúc sự hiện diện của Trương Ba nhiều nhất, thường trực nhất.
     Tiếp tục khái quát triết lí nhân sinh:
    - Ý nghĩa sự sống nhiều khi không phải ở sự tồn tại sinh học mà ở chính sự hiện diện của ta trong suy nghĩ, nỗi nhớ của những người thương yêu.
    - Vẻ đẹp tâm hồn có đời sống dài lâu và bất tử so với thể xác. Tâm hồn cao khiết của Trương Ba vẫn còn có mặt trong mỗi hoài niệm, mỗi cuộc đời đang sống.
    f. Vài nét về nghệ thuật viết kịch
    Cách diễn tả hành động, ngôn từ nhân vật - yếu tố trọng yếu để phát triển xung đột, xây dựng tình huống, thể hiện tính cách trong nghệ thuật viết kịch.
    + Hành động kịch:
    Phù hợp với hoàn cảnh, theo đúng logic phát triển của tình huống kịch.
    Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hành động bên ngoài và hành động bên trong (những độc thoại nội tâm thể hiện trạng thái tinh thần căng thẳng, đầy day dứt)
    + Ngôn ngữ:
    - Sinh động, gán với trạng huống cụ thể (Sự khác biệt của ngôn ngữ Trương Ba trong đối thoại với Xác, vợ, cái Gái, Đế Thích…)
    - Giọng điệu nhân vật biến hóa đa dạng, có sự kết hợp giữa giọng hướng ngoại và hướng nội - độc thoại nội tâm (đoạn đối thoại Hồn Trương Ba – Đế Thích).

  4. #4
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Phân tích nhân vật Hồn Trương Ba.
    Đề 2: Phân tích đối thoại Hồn – Xác trong Hồn Trương Ba da hàng thịt.
    Đề 3: Phân tích ý vị triết lí nhân sinh trong Hồn Trương Ba da hàng thịt.
    Đề 4: Giả định Đế Thích cho Trương Ba được sống trong xác cu Tị và Trương Ba đồng ý thì cuộc sống của Trương Ba sau đó sẽ như thế nào? Trình bày ý tưởng xây dựng lớp kịch ngắn của anh (chị) về điều đó.
    Đề 5: Suy nghĩ của anh chị về những vấn đề nhân sinh mà Lưu Quang Vũ đặt ra trong tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt”.
    Gợi ý giải đề:
    Đề 1: Nhân vật Hồn Trương Ba.
    + Tình huống nhân vật xuất hiện
    => Nhận xét khái quát: Nhân vật mang bi kịch.
    + Phân tích các cuộc đối thoại để làm rõ bi kịch của Hồn Trương Ba: căng thẳng, kịch tính, cao trào, giải thoát.
    + Nhân vật thể hiện quan niệm và thái của nhà văn về các vấn đề nhân sinh.
    - Mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn, giữa vật chất và ý thức => khái quát triết học được biểu hiện bằng hình tượng nghệ thuật sinh động (trong cuộc đối thoại Hồn – Xác.
    - Ý nghĩa đích thực của sự sống là gì?
    - Phê phán một số thói xấu của con người nói chung và của con người trong xã hội đương thời nói riêng:
    • Thói ngụy biện đổ lỗi cho thể xác.
    • Thói sống giả tạo, chạy theo dục vọng tầm thường.
    • Sự xách nhiễu, cơ hội, đục nước béo cò (lão lí trưởng, đám trương tuần) hay sự không thấu hiểu của người cầm quyền (Đế Thích).
    Đề 2: Đối thoại Hồn – Xác.
    + Tình huống dẫn đến đối thoại Hồn – Xác.
    + Phân tích đối thoại Hồn – Xác.
    + Nhận xét:
    - Vấn đề nhân sinh:
    • Mối quan hệ thể xác và linh hồn.
    • Ý nghĩa cuộc sống.
    - Nghệ thuật viết kịch: xây dựng hành động kịch, ngôn ngữ đối thoại và độc thoại.
    Đề 3: Giả định Đế Thích cho Trương Ba được sống trong xác cu Tị và Trương Ba đồng ý thì cuộc sống của Trương Ba sau đó sẽ như thế nào? Trình bày ý tưởng xây dựng lớp kịch ngắn của anh (chị) về điều đó.
    Học sinh có thể phát huy trí tưởng tượng của mình. Tuy nhiên các em cần lưu ý:
    + Có thể dựa vào giả tưởng của Trương Ba trong vở kịch nếu nhập xác cu Tị để xây dựng hệ thống các chi tiết.
    + Làm rõ diễn biến tâm lí dẫn đễn hành động một cách logic: những phiền toái nhân vật gặp phải trong hình xác cu Tị qua các mối quan hệ: mẹ - chị Lụa, bạn chơi – cái Gái, người già – vợ Trương Ba…=> quyết định nhập xác cu Tị là hành động ích kỉ, khiến cho con người không còn là mình, sống trái với tự nhiên => con người lại rơi vào bi kịch khác.
    + Kết luận: kết thúc Lưu Quang Vũ lựa chọn là kết thúc hợp lí, đúng với sự phát triển của xung đột kịch, logic nội tại của nhân vật.
    Đề 5: Suy nghĩ về những vấn đề nhân sinh mà Lưu Quang Vũ đặt ra trong tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt”.
    + Học sinh dựa trên các vấn đề nhân sinh mà tác giả đặt ra, bày tỏ sự đồng tình hay bổ xung:
    - Quan hệ thể xác – linh hồn.
    - Ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
    - Thói xấu trong xã hội.
    + Chú ý bối cảnh viết tác phẩm => tác giả đưa ra những vấn đề vừa nóng bỏng vừa có giá trị phổ quát. Học sinh trình bày quan điểm qua các dẫn chứng cụ thể gắn với hoàn cảnh sống của bản thân, của thời đại mình.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  5. #5
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn ngữ văn: Một người Hà Nội
    TPO - Chuyên đề này giúp học sinh củng cố những kiến thức cơ bản xoay quanh tác phẩm “Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải.
    - Hình tượng nhân vật cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất diệt của văn hoá Hà thành.
    - Cảm hứng triết luận - một trong những nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải.
    - Nghệ thụât trần thuật và ngôn ngữ kể chuyện đặc sắc.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Khái quát
    a. Tác giả:
    + Tiểu sử và con người:
    - Xuất thân:
    • Gia đình quan lại sa sút, nghèo.
    • Thân phận con vợ lẽ => bị ghẻ lạnh, khinh ghét, chịu nhiều tủi nhục, cay đắng.
    - Phải vào đời lăn lộn kiếm ăn nuôi mẹ nuôi em từ nhỏ => sớm gặp phải những trắc trở, gian nan, nhọc nhằn.
    Trải nghiệm thời niên thiếu đầy éo le hình thành đặc điểm riêng trong tính cách và sáng tác của nhà văn: nhẫn nhịn, tỉnh táo, sắc sảo, hiểu đời, hiểu người, già dặn, suy tư.
    + Sáng tác:
    - Tác phẩm chính: Mùa lạc (tập truyện ngắn, 1960), Cha và Con và… (tiểu thuyết, 1979), Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004)…
    - Đặc điểm:
    • Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học dân tộc hơn nửa thế kỉ.
    • Nét mới trong cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời và con người:
    o Trước 1978: cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, nghiêm ngặt, phân lập đơn chiều; luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, ta – địch, tốt – xấu… => khẳng định xu thế vận động (từ bóng tối ra ánh sáng) của cuộc sống mới, con người mới.
    Ngòi bút văn xuôi có khuynh hướng chính luận với sức mạnh của lí trí tỉnh táo.
    o Sau 1978:
     Cái nhìn đầy trăn trở, chiêm nghiệm, cảm nhận hiện thực xô bồ, hối hả, đầy đổi thay nhưng cũng đầy hương sắc => chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội.
     Lấy việc khám phá con người làm trung tâm => con người cá nhân trong cuộc sống đời thường => nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ => khẳng định, ngợi ca những giá trị nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay.
     Cảm hứng triết luận với giọng văn đôn hậu, trầm lắng, nhiều suy nghiệm.
    + Vị trí văn học sử: một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi sau cách mạng tháng Tám năm 1945.
    b. Tác phẩm
    + “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các sáng tác của Nguyễn Khải ở giai đoạn sau 1978.
    2. Phân tích
    a. Nhân vật cô Hiền.
    + Xuất thân: gia đình giàu có lương thiện, được dạy dỗ theo khuôn phép nhà quan.
    + Một số đặc diểm thời thiếu nữ: xinh đẹp, thông minh, mở xa lông văn chương, giao du rộng rãi với giới văn nghệ sĩ Hà thành.
    + Quan hệ với người kể chuyện xưng “tôi”: chị em đôi con dì ruột với mẹ già.
    + Được miêu tả trong nhiều thời điểm khác nhau của lịch sử. Trước mỗi thời điểm khác nhau, nhân vật lại có những biểu hiện ứng xử thể hiện nét cá tính đặc biệt, nhất quán:
    - Năm 1955:
    • Bối cảnh: từ kháng chiến trở về, một Hà Nội “nhỏ hơn trước, vắng hơn trước”.
    • Nguyên nhân cô Hiền và gia đình ở lại:
    Chủ yếu: “họ không thể rời xa Hà Nội, không thể sinh cơ lập nghiệp ở một vùng đất khác” => sự gắn bó máu thịt với Hà thành.
    - Kháng chiến chống Mĩ: yêu thương lo lắng cho con nhưng không hề ngăn cản con nhập ngũ
    • Người con cả tình nguyện tòng quân => phản ứng: “Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng” => Nhận thức sâu sắc.
    • Người con thứ theo anh lên đường => phản ứng: “Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó”=> “Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác(…), vui lẻ thì có hay hớm gì” => Ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng của một người phụ nữ Việt Nam yêu nước, một người mẹ nhân hậu, vị tha.
    - Năm đầu Hà Nội vừa giải phóng
    • Bối cảnh:
    o Tâm lí không đồng nhất: chúng tôi - vui thế, tại sao những người vốn sống ở Hà Nội - chưa thật vui?
    • Khi con gọi cháu là “Đồng chí Khải” => cô Hiền chỉnh “anh Khải” => trong khi quán tính số đông vẫn còn phân biệt người cách mạng như những anh hùng trở về thì cô Hiền dường như chỉ chú ý đến mối quan hệ họ hang với “Tôi” => quan hệ bền vững, không chịu bất cứ sự va đập, biến thiên nào của thời cuộc => biết nhận chân giá trị, biết nhìn vào bản chất của vấn đề, dể không bao giờ bị mê muội.
    • Khi người cháu hỏi: “Nước độc lập vui quá cô nhỉ?” => phản ứng:
    o Trả lời: “Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ” => tỉnh táo, sáng suốt, nhạy bén với hiện thực.
    o Nhận xét thẳng thắn, không giấu giếm quan điểm với “người cách mạng” - nhân vật “tôi”: Chính phủ can thiệp nhiều vào việc của dân quá => trung thực, có cái nhìn sâu sát về thời cuộc.
    Nhận xét:
     Tính cách nhân vật được bộc lộ qua nhiều tình huống khác nhau, trong nhiều thời điểm lịch sử.
     Số phận con người gắn với từng biến chuyển lớn của lịch sử dân tộc => Cái nhìn hiện thực mới mẻ: phản ánh số phận dân tộc qua số phận một cá nhân.
     Trải qua bao thăng trầm của thời thế, bản chất, những nét đẹp của nhân vật vẫn thống nhất, không bị phôi pha => thời gian là thứ nước rửa ảnh làm nổi rõ hình sắc nhân vật.
    + Có bộ mặt tư sản, một cách sống rất tư sản, nhưng lại không bóc lột ai cả thì làm sao gọi là tư sản được
    - Bộ mặt tư sản:
    • Cái ở: ở rộng quá, một tòa nhà tọa lạc ngay ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung của đền Ngọc Sơn.
    • Cái mặc: “sang trọng quá”
    • Cái ăn: “không giống với số đông” => so sánh với lối ăn uống bình dân của gia đình “tôi”
    => Khẳng định: “Cô Hiền đích thị là tư sản”.
    - Không bóc lột ai cả thì làm sao gọi là tư sản:
    • Cửa hàng chỉ buôn hoa giấy do chính tay bà làm và các con phụ giúp.
    • Đối xử với người làm: vì chủ tớ cần dựa nhau, tình nghĩa như người trong họ.
    + Thông minh, tỉnh tảo và thức thời:
    - Năm 1956, bán một trong hai ngôi nhà cho người kháng chiến ở.
    - “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không phải sống ăn bám”
    - Ứng xử với chính sách cải tạo tư sản của nhà nước
    • Chồng muốn mua máy in => ngăn cản vì nhận rõ việc làm này sẽ vi phạm chính sách.
    • Mở cửa hàng đồ lưu niệm để đảm bảo “đủ ăn” mà không bóc lột bất kì ai.
    + Có đầu óc thực tế:
    - Không có lòng tự ái, sự ganh đua, thói thời thượng, không có cái lãng mạn hay mơ mộng viển vông.
    - Đã tính là làm, đã làm là không để ý đến lời đàm tiếu của thiên hạ => bản lĩnh, có lập trường.
    - Đi lấy chồng: dù giao du rộng nhưng chọn làm vợ một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, chăm chỉ => cả Hà Nội “kinh ngạc”.
    - Tính toán cả chuyện sinh đẻ sao cho hợp lí, đảm bảo tương lai con cái.
    + Trân trọng, nâng niu, gìn giữ truyền thống văn hoá người Hà Nội:
    - Dặn dò bọn trẻ: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”.
    - Coi việc giữ gìn nếp sống là một cách “tự trọng, biết xấu hổ”.
    + Là hạt bụi vàng của Hà Nội: Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng => biểu tượng của vẻ đẹp tinh tế, sức sống bất diệt của văn hoá Hà Thành.
    b. Những người Hà Nội khác và suy nghiệm triết học:
    + Những người Hà Nội khác: Chia làm hai tuyến.
    - Dũng, Tuất, mẹ Tuất:
    • Dũng, Tuất: những thanh niên yêu nước, quả cảm.
    • Mẹ Tuất: bà mẹ Việt Nam nhân hậu, giàu đức hi sinh.
    => Những con người cùng với cô Hiền tiếp lửa cho ngọn đuốc văn hoá truyền thống của đất kinh kì cháy sáng.
    - Những con người tạo nên những nhận xét “không mấy vui vẻ” của “tôi” về Hà Nội.
    • Ông bạn trẻ đạp xe như gió: làm xe người ta suýt đổ, lại phóng xe vượt qua rồi quay lại chửi một người đáng tuổi bác tuổi chú “tiên sư cái anh già” => thô tục, vô văn hóa, không biết lễ độ.
    • Những người mà nhân vật tôi quên đường hỏi thăm :”có người trả lời, là nói sõng hoặt hất cằm, có người cứ giương mắt nhìn mình như con thú lạ” chỉ vì “ông ăn mặc tẩm như thế lại đi xe đạp họ khinh là phải, thử đội mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cưỡi cái Cúp xem, thưa gửi tử tế ngay” => hám lợi, bị danh vị, hình thức, tiền tài cám dỗ => lối ứng xử trọc phú, không còn nét hào hoa, thanh lịch của người Hà Nội.
     Phản đề của nhân vật cô Hiền.
     Cái nhìn thẳng thắn vào sự thật, đặt ra những vấn đề đáng trăn trở => hướng đi mới của văn học:
    “Tôi thích cái ngày hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen. Đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thỏa sức khai vỡ” (Gặp gỡ cuối năm – Tiểu thuyết).
    + Suy nghiệm triết học: Hình ảnh cây si bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh
    - Cây si: biểu tượng của văn hóa, nét cổ kính, linh thiêng của đất kinh kì ngàn năm văn hiến.
    - Đổ nghiêng tán cây đè lên hậu cung, một phần bọ rễ bật đất chổng ngược lên trời => sự biến thiên của lịch sử, qui luật nghiệt ngã của tự nhiên.
    - Hồi sinh: lại sống. lại trổ ra lá non => niềm tin, lạc quan vào sự phục hồi những giá trị tinh thần của Hà Nội.
    c. Một số đặc sắc nghệ thuật:
    + Giọng điệu trần thuật:
    Trải đời, tự nhiên, trĩu nặng suy tư, giàu chất khái quát, đa thanh.
    + Điểm nhìn trần thuật: của nhân vật “Tôi” => tăng tính chân thật, khách quan.
    + Ngôn ngữ: cá thể hóa
    - Cô Hiền: ngắn gọn, logic, rõ ràng.
    - Dũng: những lời thật xót xa.
    - Nhân vật “tôi”
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Phân tích nhân vật Cô Hiền trong “Một người Hà Nội”.
    Đề 2: Phân tích hình ảnh người Hà Nội trong “Một người Hà Nội”.
    Đề 3: Cảm hứng triết luận trong “Một người Hà Nội”.
    Gợi ý giải đề:
    Đề 1: Nhân vật cô Hiền.
    Phân tích dựa vào Kiến thức cơ bản.
    Đề 2: Hình ảnh người Hà Nội.
    + Phân tích:
    - Những con người lưu giữ nét đẹp văn hoá Hà Nội.
    - Nhân vật cô Hiền, Dũng, Tuất, mẹ Tuất
    - Những con người tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của “tôi” về Hà Nội.
    + Nhận xét:
    - Cảm hứng triết luận.
    - Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
    Đề 3: Cảm hứng triết luận
    + Cảm hứng triết luận là gì: bình luận, lí giải, phân tích về một vấn đề thông qua hình tượng nghệ thuật.
    + Phân tích: qua hệ thống nhân vật, làm sang ứng cảm hứng triết luận của Nguyễn Khải.
    + Đánh giá: gắn với phong cách nghệ thuật.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  6. #6
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn ngữ văn: Chiếc thuyền ngoài xa
    TPO - Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
    - Tình huống nhận thức độc đáo
    - Đổi mới trong cách nhìn hiện thực và con người của Nguyễn Minh Châu.
    - Nghệ thuật tự sự đặc sắc.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Khái quát
    a. Tác giả
    + Tiểu sử - con người
    (Theo tâm sự của chính nhà văn, lời kể của Vương Trí Nhàn và nhận xét của nhiều bạn bè, người thân).
    - Từ bé tới lớn: rụt rè và vô cùng nhút nhát.
    - Sống nội tâm, hay trăn trở, thích một mình để suy ngẫm, phân tích.
    - Chân thành.
    => Thiên hướng nhận thức, phân tích, nghiền ngẫm hiện thực trong văn Nguyễn Minh Châu.
    + Sáng tác:
    - Quá trình sáng tác: chia hai chặng rõ rệt.
    o Trước thập kỉ 80: ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn.
    o Đầu thập kỉ 80 – khi mất: cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh.
    - Đổi mới:
    o Quan niệm mới về con người và cuộc đời:
     Con người không nhất phiến, đơn chiều, lí tưởng mà là con người bề bộn, phức tạp, được ánh xạ qua nhiều mối quan hệ với hiện thực (cả mặt tốt lẫn mặt xấu “rồng phượng và rắn rết”…)
     Cuộc sống đa chiều, đầy những vết nham nhở sần sùi, có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, sự vật vã, bức bối đầy phức tạp và biến động.
    => Khơi tìm những mặt khuất lấp của chiến tranh, những phần sâu kín trong tâm hồn con người.
    o Đề tài: con người cá nhân với các câu chuyện đời thường là trung tâm.
    Không phải con người “trùng khít với chính mình, với bộ áo xã hội của nó một cách đau đớn, giả dối” (Bakhtin) mà là con người hiện thực trong các mối quan hệ đa dạng.
    => “Đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh họa”.
    + Vị trí văn học sử:
    Ngòi bút tiêu biểu của thời kỳ văn học đổi mới – người mở đường đầy tài hoa và tinh anh (Nguyên Ngọc).
    b. Tác phẩm:
    + Xuất xứ: Thuộc giai đoạn sáng tác thứ 2.
    + Vị trí văn học sử:
    - Tiêu biểu cho những đổi mới của Nguyễn Minh Châu.
    - In đậm dấu ấn phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu.
    + Tình huống truyện:
    - Nhận diện: tình huống nhận thức.
    - Mô tả: Phùng - một nghệ sĩ nhiếp ảnh có tài đang trong giây phút thăng hoa tuyệt đỉnh, khám phá ra vẻ đẹp “trời cho”của con thuyền biển buổi sớm mai thì chứng kiến đôi vợ chồng từ trên con thuyền bước xuống, lão đàn ông đánh vợ một cách hung bạo và vô lí.
    Sự việc lặp lại một lần nữa, Phùng không chỉ thấy thái độ nhẫn nhịn, câm lặng chịu đựng của người đàn bà mà còn thấy được thái độ, hành động của chị em Phác trước sự dã man của cha với mẹ.
    Anh nhận rõ những ngang trái, nghịch lí trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm tính cách người đàn bà, chị em Phác, người đàn ông, người đồng đội (Đẩu) và chính bản thân mình.
    + Bố cục: 2 phần lớn
    - Phần 1 (từ đầu - chiếc thuyền lưới vó đã biến mất): Hai phát hiện của Phùng.
    - Phần 2 (còn lại): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.
    2. Phân tích
    a. Hai phát hiện của Phùng.
    + Phát hiện thứ nhất: Phát hiện một.
    - Vị thế của Phùng: nghệ sĩ nhiếp ảnh.
    - Mục đích của chuyến đi: chụp bổ sung một bức ảnh buổi sáng có sương mù theo yêu cầu của trưởng phòng (để xuất bản bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển).
    - Điểm nhìn: từ xa, trong làn sương mờ ảo.
    - Sự hình thành tác phẩm:
    • Bắt đầu từ cảnh “trời cho”.
    • Tuy nhiên để có được tác phẩm, cần một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế nhanh nhạy nắm bắt khoảnh khắc xuất thần của nghệ thuật:
    o Mô tả khung cảnh lãng mạn, thơ mộng.
    o Trạng thái, hành động:
    o Bối rối, trong tim tưởng như có cái gì bóp thắt lại => cơn “đau đẻ”, khoảnh khắc xung động cực điểm để tác phẩm hoài thai.
    • Không phải lựa chọn gì nữa, bấm một hồi “liên thanh” => dường như thiên nhiên đã bày sẵn tuyệt tác, người nghệ sĩ chỉ việc ghi lại một cách dễ dàng.
    - Cảm hứng triết lí về nghệ thuật:
    • Vẻ đẹp của “cái đẹp tuyệt đỉnh”: “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ; một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. => nghệ thuật là sự giản dị, tự nhiên.
    • “Cái đẹp là đạo đức” => khoảnh khắc phát hiện ra một tác phẩm độc đáo là sự “khám phá chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn” => cái đẹp “thanh lọc” tâm hồn, để tâm hồn con người cao khiết, không gợn đục, thánh thiện.
    Nhận xét:
    Sự phát hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật đôi khi là kết hợp của rung động và duyên may. Nhìn ở góc độ này, nó là thứ dẫu sao còn tương đối dễ phát hiện, dễ thấy.
    + Phát hiện thứ hai: Phát hiện về hiện thực cuộc sống.
    - Điểm nhìn: chiếc thuyền đâm thẳng vào chỗ trước tôi đứng => gần, trực diện, rõ nét.
    - Hình ảnh:
    - Người đàn bà: cao lớn, với những đường nét thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi(…) tái ngắt và dường như đang buồn ngủ, tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới.
    - Người đàn ông: tấm lưng rộng và cong, mái tóc tổ quạ, đi chân chữ bát, hàng lông mày cháy nắng, hai con mắt đầy vẻ độc dữ.
    - Hình ảnh xấu xí, sù sì, trần trụi, thô mộc, gai góc của đời sống, đối lập với vẻ lãng mạn của khung cảnh thiên nhiên trong bức ảnh nghệ thuật.
    - Hành động:
    - Người chồng: hùng hổ, rút chiếc thắt lưng, “chẳng nói chẳng rằng” quật tới tấp vào lưng người đàn bà => hành động hung bạo, dã man, lạnh lùng, như một con thú dữ.
    - Người vợ: cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn.
    - Đứa con: giằng thắt lưng, quật lại bố để bảo vệ mẹ.
    - Giống như một vở kịch câm, không lời chú giải, đầy nghịch lí khiến câu hỏi về hiện thực trong Phùng muốn vỡ ra.
    Nhận xét:
    Phát hiện về một hiện thực gồ ghề, gai góc, ngang trái, phức tạp, không dễ lí giải, khác xa, thậm chí đối lập với vẻ đẹp bình yên của tác phẩm nhiếp ảnh.
    + Mối quan hệ giữa hai phát hiện (mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nhà văn và cuộc đời)
    - Phát hiện nghệ thuật, ở một chừng mực nhất định dễ thấy hơn phát hiện về hiện thực.
    - Đời sống con người vốn bề bộn, phức tạp. Hiện thực không đơn chiều, giản đơn, toàn màu hồn mà đa chiều, phân tranh nhiều mảng sáng tối chưa dễ lí giải. Nhà văn nếu đứng ở ngoài xa để quan sát sẽ chỉ thấy một hiện thực mờ ảo - chiếc thuyền thấp thoáng biển khơi. Từ đó đòi hỏi nhà văn phải có cái nhìn sâu sắc, suy tư hơn nữa.
    b. Người đàn bà làng chài và câu chuyện đời tự kể.
    + Hình dáng: thô mộc, xấu xí, như nét vẽ vội của tạo hoá, mang những đặc trưng của một người đàn bà miền biển lam lũ.
    + Thái độ, hành động khi được mời tới toà án:
    - Sợ sệt, lúng túng, tìm đến một góc tường để ngồi .
    - Rón rén ngồi ghé vào chiếc ghế mà Đẩu mời.
    - Van xin chính quyền đừng bắt chị bỏ người chồng vũ phu: “Quí toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” => kiên quyết không bỏ chồng bằng mọi giá.=> hành động ẩn chứa nhiều nghịch lí, gây bất ngờ đối với cả Đẩu và Phùng => một sự thật không dễ lí giải trong hoàn cảnh người đàn bà phải chịu đựng những trận đánh thừa sống thiếu chết.(ba ngày một trận nhỏ, năm ngày một trận lớn) => Câu hỏi đặt ra: điều gì khiến người đàn bà khốn khổ ấy tha thiết bám víu cuộc sống địa ngục kinh hoàng với người chồng hung bạo kia?
    + Câu chuyện cuộc đời:
    - Cách xưng hô: con, quý toà - chị, các chú => thay đổi tương quan: bị động, yếu thế, thiếu tự tin, bề dưới nói với bề trên - chủ động, bình đẳng, con ngưòi có hiểu biết nói với người đang lắng nghe.
    - Nội dung câu chuyện:
    - Xấu, buộc phải lấy anh hàng chài
    - Đám đàn bà đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật => chồng hung hăng.
    - Bất kể lúc nào khổ quá, chồng lại lôi ra đánh, ngay trên tàu, sau này xin mãi mới được lên bờ chịu đòn.
    - Lí lẽ để “đừng bắt tôi bỏ nó”:
    - Giá đẻ ít đi => biện minh cho hành động hung hăng của chồng bằng cách chỉ ra lỗi thuộc vê sự nghèo đói, lạc hậu, “đẻ lắm”.
    - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết nỗi vất vả của một người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông(. ..) những khi biển động => vì cần một trụ cột.
    - Đàn bà trên thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình => vì trách nhiệm, tấm lòng vị tha, bản năng hi sinh của một người mẹ.
    - Cũng có lúc vợ chồng con cái sống hòa thuận, vui vẻ => cuộc sống với ngưòi đàn ông “dã man” kia không phải không có những khoảnh khắc đầm ấm hạnh phúc.
    - Nhận xét:
    Qua nội dung câu chuyện, cách kể và ngôn ngữ kể chuyện, thấy được:
    - Số phận người đàn bà: đau khổ, bất hạnh, buộc phải bảo vệ, duy trì một cuộc sống bị đày đoạ, đánh đập.
    - Tính cách: yêu thương con, vị tha, nhân hậu, am hiểu lẽ sống giản đơn của một người đàn bà hàng chài.
    - Sự lí giải, làm sáng tỏ hiện thực đời sống đầy nghịch lí mà Phùng và Đẩu “không thể hiểu được”.
    c. Hệ thống nhân vật
    + Người đàn bà: vô danh, phiếm định => khái quát cuộc đời, số phận, tính cách của bao người phụ nữ làng chài khác.
    + Người đàn ông:
    - Xưa kia: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành”.
    - Nay: vì nghèo đã biến đổi thành gã đàn ông hung bạo, vũ phu.
    - Có sự gặp gỡ với các nhân vật của chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trước cách mạng.
    + Chị em Phác:
    Nạn nhân bé bỏng, đau khổ => thêm vào tác phẩm một nét khắc dằn dữ của hiện thực.
    + Phùng:
    - Là người lính vào sinh ra tử nơi chiến trường.
    - Là một nghệ sĩ tài hoa, phát hiện ra vẻ đẹp tinh khôi, huyền mộng của nghệ thuật.
    - Chứng kiến cảnh đánh đập lần thứ hai, “vứt chiếc máy ảnh xuống đất chạy nhào tới” can thiệp => Ý nghĩa:
    - Chiếc thuyền nghệ thuật thì ở ngoài xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp lung linh, nhưng sự thật cuộc đời lại ở rất gần.
    - Thái độ cần có của người nghệ sĩ:
    - Đừng vì nghệ thuật mà quên cuộc đời vì nghệ thuật chân chính luôn hướng tới cuộc đời.
    - Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người sẵn sàng khám phá, dò tìm để thấu hiểu, yêu ghét mọi lẽ buồn vui đời thường và dám đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
    - Chi tiết: hỏi người đàn bà một câu cắt ngang không ăn nhập: người chồng trước có đi lính nguỵ không => định dung cái nhìn trong chiến tranh để lí giải một hiện thực nghịch lí thời hậu chiến => Dụng ý: hiện thực cuộc sống mới hôm nay đã khác xa với hiện thực 30 năm chiến tranh, bề bộn, ngổn ngang, đa diện, bởi thế nó đòi hỏi một điểm nhìn khác, cách lí giải hiện thực khác. Không thể dùng cái nhìn địch – ta để phân tích mà cần nhìn nhận sâu sắc từ nhiều góc độ.
    d. Một số đặc sắc về nghệ thuật.
    + Xây dựng hình ảnh giàu giá trị biểu tượng: chiếc thuyền ngoài xa.
    - Con thuyền có thật.
    - Con thuyền biểu tượng cho: nghệ thuật, ẩn dụ cho kiếp người đơn độc trên đại dương cuộc đời.
    + Nghệ thuật tự sự độc đáo:
    - Điểm nhìn trần thuật: người kể chuyện Phùng - một người lính dày dặn kinh nghiệm chiến trường, một nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa, một con người tha thiết đấu tranh cho sự công bằng => điểm nhìn trần thuật sắc sảo, giàu suy tư.
    - Ngôn ngữ:
    • Ngôn ngữ người kể chuyện: khách quan, chân thực, giàu sức thuyết phục (do sự lựa chọn điểm nhìn trần thuật).
    • Ngôn ngữ nhân vật: cá thể hoá (Ngôn ngữ của người đàn bà: lóng ngóng, van lơn khi mới đối diện với “quí toà”; chững chạc, thấu trải khi tự kể câu chuyện đời mình, dịu dàng, xa xót khi nói với con; lời lẽ của người đàn ông: tàn nhẫn, tục tằn,…)
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Ý nghĩa nhan đề “Chiếc thuyền ngoài xa”.
    Đề 2: Phân tích tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa”
    Đề 3: Phân tích những phát hiện của nghệ sĩ Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
    Đề 4: Tính luận đề trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.
    Đề 5: Những đổi mới trong cách nhìn hiện thực cuộc sống của Nguyễn Minh Châu trong “Chiếc thuyền ngoài xa”.
    Đề 6: Phân tích “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu để thấy cái nhìn thấu hiểu trĩu nặng tình thương và nỗi lo cho con người.
    Đề 7: Phân tích các nhân vật trong “Chiếc thuyền ngoài xa” để làm nổi bật tư tưởng của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
    Gợi ý giải đề
    Đề 1: Ý nghĩa nhan đề.
    + Xuất xứ tác phẩm:
    + Ý nghĩa nhan đề:
    - Con thuyền có thật trong cuộc đời
    - Con thuyền biểu tượng cho nghệ thuật, ẩn dụ cho kiếp người đơn độc trên đại dương cuộc đời.
    - Cái đẹp nghệ thuật dễ tìm hơn cái đẹp đích thực của con người
    - Nghệ thuật phải quan tâm đến đời sống và phải quan tâm đến con người.
    Đề 2: Tình huống truyện.
    + Giới thuyết:
    + Phân tích:
    - Nhận diện
    - Mô tả
    - Ý nghĩa:
    - Giúp nhà văn khám phá tính cách, vẻ đẹp nhân vật người đàn bà.
    - Thể hiện rõ nét tư tưởng
    + Đánh giá
    - Tình huống bất ngờ và kì lạ
    - Khơi gợi tư duy và cảm hứng người đọc.
    - Tình huống có “sức xoáy”
    Đề 3: Những phát hiện của nghệ sĩ Phùng
    + 2 phát hiện
    + Phân tích dựa vào phần Kiến thức cơ bản.
    Đề 4: Những đổi mới trong cách nhìn hiện thực cuộc sống
    + Hiện thực cuộc sống: bề bộn, nhiều chiều, phức tạp, không nhất phiến, lí tưởng mà đầy ngang trái.
    + Vẻ đẹp của con người vì thế cũng khó phát hiện hơn, đòi hỏi phải có một góc nhìn khác.
    Đề 5: Phân tích các nhân vật để làm nổi bật tư tưởng
    Dựa vào kiến thức cơ bản để làm bài.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  7. #7
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn ngữ văn: Những đứa con trong gia đình
    TPO - Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”:
    - Hình ảnh gia đình như một dòng sông liền chảy với các thế hệ nối tiếp nhau giữ gìn truyền thống.
    - Hình tượng nhân vật Chiến và Việt tiêu biểu cho vẻ đẹp của tuổi trẻ Miền Nam chống Mĩ.
    - “Chất Nam Bộ” của ngòi bút Nguyễn Thi thông qua việc xây dựng các nhân vật tiêu biểu cho tính cách người Nam Bộ và hệ thống ngôn ngữ mang màu sắc địa phương phong phú, sinh động.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Vài nét về tác giả, tác phẩm
    a. Tác giả
    + Tiểu sử - con người:
    - Bút danh: Nguyễn Hoàng Ca.
    - Tuổi nhỏ: vất vả, tủi cực.
    - 15 tuổi vào Nam vừa đi làm kiếm sống vừa tự học nơi đất khách quê người > tâm hồn giàu suy tư, trải đời, hiểu người sâu sắc.
    - Quê ở Bắc nhưng sống, làm việc, hoạt động cách mạng chủ yếu ở Miền Nam > gắn bó ân tình, chung thủy với nhân dân miền Nam.
    + Sáng tác:
    - Thể loại: bút kí, truyện ngắn, tiểu thuyết.
    - Tác phẩm tiêu biểu: Truyện và kí (1978)
    - Đặc điểm:
    • Nguồn cảm hứng: xuất phát từ hiện thực nóng bỏng, ác liệt ở mặt trận miền Đông – Nam Bộ.
    • Nhân vật: viết thành công nhất về người nông dân Nam Bộ:
    Bản chất hồn nhiên, bộc trực, căm thù giặc sâu sắc, lạc quan, yêu đời, tín nghĩa.
     Gan góc, sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc > chất “Út Tịch” trong mỗi nhân vật.
    • Khả năng thâm nhập sâu vào đời sống tâm lí nhân vật:
     Tài quan sát.
     Năng lực phân tích sắc sảo.
     Diễn tả chân xác những điều nhân vật cảm thấy> tái hiện chân thực, sinh động quá trình tâm lí tế vi của nhân vật.
    • Ngôn ngữ: góc cạnh, phong phú, giàu chất tạo hình., đậm khí chất Nam Bộ > tạo dựng không gian văn hóa và cá tính nhân vật.
    • Giàu chất hiện thực (nhiều chi tiết dữ dội, ác liệt của chiến tranh), vừa đằm thắm chất trữ tình.
    + Vị trí văn học sử: cây bút văn xuôi tài năng của văn học kháng chiến.
    b. Tác phẩm
    + Xuất xứ:
    Rút từ tập “Truyện và kí” (1978)
    + Khái quát về tác phẩm:
    - Truyện tái hiện qua hồi tưởng của nhân vật Việt, trong tình trạng bị thương, mê man, hiện tại và quá khứ đan xen để nói lên truyền thống một gia đình từ đó khái quát bức tranh Nam Bộ.
    - Diễn biến: đứt nối theo trí nhớ nhân vật > những mảnh hiện thực chắp dính linh hoạt.
    + Vị trí: Là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nguyễn Thi.
    2. Phân tích
    a. Tình huống truyện
    Câu chuyện gia đình của anh giải phóng Việt rơi vào tình huống đặc biệt: bị thương nặng trong một trận đánh, phải nằm lại giữa chiến trường.
    + Nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại
    + Truyện kể theo dòng nội tâm nhân vật: khi đứt (ngất đi) khi nối (tỉnh lại)
     Cách trần thuật theo dòng ý thức nhân vật.
    b. Cách trần thuật
    + 3 phương thức trần thuật phổ biến trong tác phẩm tự sự (căn cứ vào ngôi của nhân vật được kể).
    - Phương thức 1: theo ngôi thứ 3 của người kể chuyện giấu mình > lời gián tiếp.
    - Phương thức 2: theo ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện > lời trực tiếp.
    - Phương thức 3: theo ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn, lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật > lời nửa trực tiếp.
    + Những đứa con trong gia đình: kể theo phương thức thứ 3
    c. Hình ảnh gia đình
    + Ba Má, Chú Năm
    Người mẹ: (đọc toàn bộ truyện để có sự phân tích khái quát)
    - Qua kí ức đứa con: rất phụ nữ, vị tha, nhân hậu nhưng không mềm yếu.
    - Có cuộc sống cơ cực, lam lũ, nhọc nhằn, khổ đau (bốc chồng và chồng bị giặc giết, một thân một mình nuôi ba đứa con nhỏ)
    - Tính cách phi thường trong những biểu hiện tình cảm bình thường:
    o Với chồng: đi đòi đầu chồng > gan góc.
    o Với con:
     Thương con hết mực nhưng rất nghiêm khắc (trong hồi ức chập chờn của Chiến, Má hiện lên đầu tiên: ghé lại, xoa đầu, đánh thức, lấy cơm cho Việt ăn…)
     Luôn luôn nhắc nhở con về truyền thống gia đình và mối thù dân tộc.
     Hun đúc, nuôi dưỡng ở con ý chí chiến đấu không mệt mỏi.
     Cả Chiến và Việt luôn tạc dạ lời dặn của mẹ > hình bóng của người mẹ đầy yêu thương và có sức mạnh cổ vũ mãnh liệt với hai chị em. Má in dấu trong mỗi câu nói, mỗi hành động của từng đứa con.
    + Chú Năm:
    - Khắc họa qua giọng hò:
    “Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội” > so sánh tiếng hò như “một hiệu lệnh”, “một lời thề dữ dội” > Tiếng hò hút tất cả tâm lực của Chú Năm > vừa nhắc nhớ về truyền thống, thắp lên niềm tự hào về quê hương khó nghèo nhưng giàu có và bất khuất, vừa như lời hiệu triệu, một tiếng trống quân thúc giục động viên thanh niên ra trận.
    - Giữ cuốn sổ gia đình, ghi từng ngày thay cho Việt và Chiến.
     Người giữ lửa yêu nước truyền cho các thế hệ.
     Những con người có chung phẩm chất: yêu nước, gắn bó với quê hương tha thiết, căm thù giặc, gan góc, kiên cường, chiến đấu hết mình vì Tổ quốc.
    + Cuốn sổ gia đình
    - Chi chi tiết những việc xảy ra với gia đình > bằng chứng sống về tội ác của kẻ thù, lưu giữ, nuôi dưỡng truyền thống gia đình.
    - Trao cho Việt và Chiến > hành động ý nghĩa: trao cho thế hệ con cháu trách nhiệm giữ gìn truyền thống.
    - Cuốn sổ như một con sông > Con sông tích tụ nước từ bao đời, luôn luôn chảy (như các thế hệ tiếp nối nhau), đổ vể biển rộng (hòa quyện vào truyền thống bất khuất của dân tộc, hướng tới tương lai tươi sáng) > dòng chảy truyền thống gia đình bền bỉ, liên tục và bất tử.
    Nhận xét:
    • Hình ảnh gia đình, gắn với nhan đề tác phẩm, là môi trường khắc họa hình ảnh những đứa con.
    • Tiêu biểu cho hình ảnh những gia đình miền Nam giàu truyền thống yêu nước trong kháng chiến chống Mĩ.
    d. Hình ảnh những đứa con
    + Chiến:
    - Tính cách trẻ con:
    • Tranh đi bộ đội với em
    • Tranh bắt ếch.
    - Mang những phẩm chất của Má
    • Đảm đang, tháo vát: Thu xếp nhà cửa gọn gàng trước khi đi.
    • Tiềm ẩn bản năng chăm lo của một người phụ nữ: thương và lo cho em, nghĩ ngợi việc nhà…
    • Bộc trực, quyết liệt, gan góc, không đội trời chung với kẻ thù: “Nếu giặc còn thì tao mất”.
     Chiến là hình ảnh tiếp nối của Má: 3 lần được so sánh với má (nói in như má vậy, giống hệt như má vậy, nói nghe in như má vậy) > sự tiếp nối truyền thống gia đình >dòng chảy truyền thống dạt dào qua các thế hệ.
    + Việt:
    - Tính cách trẻ con, hồn nhiên, vô tư:
    • Tranh đi bộ đội, tranh bắt ếch với chị.
    • Trong khi chị Chiến lo toan thu xếp việc gia đình thì Việt “lăn kềnh ra ván cười”, vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay” rồi ngủ quên lúc nào không biết
    • Đi đánh giặc vẫn đeo ná thun.
    • Không sợ giặc nhưng lại sợ ma.
    - Yêu thương, gắn bó với gia đình
    • Thương má:
    o Hình dung về má qua hồi ức của Việt dịu dàng, tha thiết.
    o Chuyển bàn thờ má: nhắn nhủ, tâm sự với má về quyết tâm trả thù.
    • Thương chú Năm, thương chị: “Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ”
    - Chiến sĩ giải phóng gan góc, quả cảm:
    • Diệt được xe bọc thép của giặc.
    • Bị thương nặng, lạc đồng đội, trong hồi ức đứt nối nhưng luôn thường trực nung nấu: tìm về với anh em, để tiếp tục đấu tranh.
    - Căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đến cùng:
    • Thể hiện sâu sắc qua chi tiết cảm động: chuyển bàn thờ mẹ cùng chị Chiến
    • Đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặ trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập con lại đưa má về > lời nhắn nhủ, tâm tình cũng là lời thế, lời hứa với Má.
    • Mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai > mối thù trừu tượng tụ thành hình thành khối như máu bầm không tan.
     Việt và Chiến vừa là khúc sau của dòng sông truyền thống gia đình vừa tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam chống Mĩ: bộc trực, thẳng thắn, gan dạ, dũng cảm, căm thù giặc sâu sắc, yêu nước tha thiết và quyết tâm chiến đấu vì độc lập.
    e. Một vài nét đặc sắc về nghệ thuật
    + Xây dựng nhân vật: am hiểu và diễn tả chân xác, sâu sắc tâm lí nhân vật > cá thể hóa tính cách.
    + Ngôn ngữ: đậm chất Nam Bộ, từ cách xưng hô, cách dùng từ, cách nói… (Việt đá trái dừa rụng xuống mương cái đùng, việc thỏn mỏn, nói in như má…)
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Phân tích nhân vật Việt trong “Những đứa con trong gia đình” để thấy vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ.
    Để 2: So sánh hai nhân vật Việt và Chiến.
    Đề 3: Trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”, nhân vật chú Năm nói: “Chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó”.
    Hãy phân tích và chứng minh: trong truyện ngắn này, có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy từ thế hệ cha ông đến đời chị em Chiến Việt.
    Gợi ý giải đề:
    Đề 1: Nhân vật Việt > thấy vẻ đẹp tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mĩ
    + Tổng quát:
    - Giới thiệu chung về tác giả , tác phẩm.
    - Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân vật Việt trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
    + Phân tích:
    - Trẻ con, hồn nhiên > góp phần khắc họa hình ảnh tuổi trẻ chống Mĩ sinh động.
    - Yêu thương, gắn bó với gia đình.
    - Gan góc, quả cảm.
    - Căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến đấu đến cùng.
    + Đánh giá:
    - Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm.
    - Tiêu biểu cho vẻ đẹp tuổi trẻ chống Mĩ.
    - Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng: miêu tả tâm lí, ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ miêu tả sinh động có tác dụng cá tính hóa nhân vật.
    - So sánh với hình tượng chiến sĩ giải phóng khác trong văn học chống Mĩ để thấy Nguyễn Thi là những “nhà văn của nông dân Nam Bộ” , xây dựng hình tượng người chiến sĩ giải phóng “đậm chất Nam Bộ”.
    Để 2: So sánh tính cách hai nhân vật Việt và Chiến.
    + Chiến: là hình bóng của người Má: dẫu có lúc trẻ con nhưng đã tiềm ẩn những nét đẹp của người con gái trưởng thành (tháo vát, chăm lo thu xếp việc gia đình, yêu thương em).
    + Việt: có sự trẻ con, hiếu động của một cậu con trai mới lớn (trong khi chị lo toan việc nhà thì Việt phó thác cho chị và có những biểu hiện rất trẻ con: “lăn kềnh ra ván cười”, vừa nghe vừa “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay” rồi ngủ quên lúc nào không biết…)
     So sánh đoạn đối thoại trước khi lên đường của hai chị em.
    + Điểm chung của hai nhân vật: yêu thương gia đình, căm thù giặc, gan góc, bất khuất, dũng cảm.
    + Đánh giá:
    - Mỗi nhân vật được xây dựng với những nét tính cách riêng biệt, đặc sắc, hợp thành hình tượng tuổi trẻ chống Mĩ miền Nam.
    - Hai chị em là khúc sau của dòng sông truyền thống gia đình.
    - Nghệ thuật xây dựng nhân vật > “chất Nam Bộ” trong văn Nguyễn Đình Thi.
    Đề 3: Hãy phân tích và chứng minh: trong truyện ngắn này, có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy từ thế hệ cha ông đến đời chị em Chiến Việt.
    + Giải thích câu nói của chú Năm.
    + Phân tích và chứng minh tính liên tục của dòng chảy truyền thống gia đình:
    - Má và chú Năm.
    - Chiến và Việt.
    + Đánh giá:
    - Thể hiện quan niệm về con người của Nguyễn Thi: mỗi con người phải là một khúc trong dòng sông truyền thống gia đình.
    - Thể hiện sự am hiểu và ân tình của nhà văn với nhân dân miền Nam > “nhà văn của nông dân Nam Bộ”.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  8. #8
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn văn: Rừng Xà Nu
    TPO - Chuyên đề này nhằm giúp học sinh củng cố những kiến thức cơ bản xung quanh tác phẩm “Rừng xà nu”:
    - Hình tượng rừng xà nu - biểu tượng của vẻ đẹp nên thơ và sức sống bất diệt trong đau thương.
    - Hình tượng Tnú – tiêu biểu cho các thế hệ người Tây Nguyên vùng lên chống Mĩ.
    - Chất sử thi trong tác phẩm – in đậm dấu ấn thi pháp và mĩ học của văn thơ kháng chiến
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Giới thiệu chung:
    a. Tác giả
    + Tiểu sử:
    - 2 bút danh: Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung Thành.
    - Có mặt và hoạt động cách mạng ở Tây Nguyên trong 2 cuộc kháng chiến > vùng đất vốn còn xa lạ với nhiều người lại trở thành miền kí ức, miền nhớ thân thương của Nguyên Ngọc.
    + Con người:
    - Vốn sống phong phú, giàu có trong những năm tháng chiến tranh.
    - Gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và con người Tây Nguyên.
    - Tận mắt chứng kiến, thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Nguyên, những trang sử hào hùng mang màu sắc huyền thoại của Tây Nguyên về những thế hệ người Tây Nguyên đứng lên chống kẻ thù: Kơpachơlơng, Tnú…> niềm tự hào, ngưỡng mộ với đât nước, con người Tây Nguyên
    + Sáng tác:
    - Tác phẩm tiêu biểu: Đất nước đứng lên, Rẻo cao, Rừng xà nu,Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Đất Quảng…
    - Đặc sắc:
    • Tác phẩm dù ra đời ở thời điểm nào cũng đậm chất sử thi
     Đề tài: đậm chất sử thi
     Hình tượng trung tâm: cá nhân kết tinh số phận, vẻ đẹp cộng đồng.
     Cảm hứng chủ đạo: tôn vinh, ngợi ca
     Hệ thống nghệ thuật:
    o Bút pháp tương phản
    o Giọng văn trang trọng
    o Cấu trúc trùng điệp.
    • Nét riêng của chất sử thi trong sáng tác Nguyễn Trung Thành: dấu ấn Tây Nguyên, không khí Tây Nguyên, gợi liên tưởng về những pho sử thi đồ sộ xa xưa của người miền núi
    + Vị trí văn học sử:
    - Người đầu tiên đưa Tây Nguyên vào văn học.
    - Cho đến nay vẫn là nhà văn viết hay nhất về Tây Nguyên.
    b. Tác phẩm
    + Sự ra đời:
    - Mùa hè năm 1965, Mĩ ào ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam để đánh nhanh, diệt gọn > khơi dậy chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã được hun đúc từ kháng chiến chống Pháp ở miền Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng.
     Nguyễn Trung Thành tận mắt chứng kiến quá trình thức tỉnh và đứng lên của người dân Tây Nguyên yêu nước.
    + Cốt truyện:
    - Theo sự đan xen 2 chiều: quá khứ - hiện tại > gắn với hai câu chuyện lồng ghép:
    • Cuộc đời đau thương mà anh dũng của Tnú > tuyến chính, phần cốt lõi.
    • Sự vùng lên của dân làng Xô man.
     Thể hiện bằng con đường nghệ thuật sự gắn bó giữa số phận cá nhân và vận mệnh chung của cộng đồng dân tộc.
    + Hệ thống hình tượng:
    - Hình tượng thiên nhiên: Rừng xà nu.
    - Hình tượng con người: Tnú, cụ Mết, Mai, Dít...
    2. Phân tích
    a. Rừng xà nu
    + Biểu tượng của đau thương:
    - Mở đầu tác phẩm: đồi xà nu, ở trong tầm đại bác > ngay từ những dòng đầu tiên, xà nu đã được đặt trong cảnh liên quan đến sự huỷ diệt dữ dội, tàn bạo > thử thách lớn, nghiệt ngã với rừng xà nu.
    - Hàng vạn cây, không cây nào không bị thương:
    • Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão.
    • Ở chỗ vết thương: dần dần bầm lại, đen và đặc quyện thành từng cục máu lớn > thương tích bầm tụ > vết thương lớn.
    • Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt làm đôi > vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết > tả hình ảnh những cây non bị huỷ diệt tạo cảm giác xa xót.
    + Biểu tượng của vẻ đẹp nên thơ và sức sống bất diệt:
    - Ở chỗ vết thương: nhựa ứa ra, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt > huy động ấn tượng khứu giác (thơm ngào ngạt) và ấn tượng thị giác (long lanh) để miêu tả chất nhựa xà nu > đẹp thi vị.
    - Trong rừng ít loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy > so sánh làm nổi bật sức sống hiếm có của xà nu.
    - Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời > nguồn sống bền bỉ, ngạo nghễ, ngang tàng, như cỏ dại, như suối nguồn ào ạt.
    - Ham ánh sáng măt trời, phóng lên rất nhanh để đón lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng thẳng tắp, long lanh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng > câu văn có sự thăng hoa của hai vẻ đẹp: vẻ nên thơ và sức mạnh cường tráng, bất khuất.
    • Ham ánh sáng mặt trời > bản năng tồn sinh dẻo dai, luôn hướng về phía ánh sáng, hướng về sự sống.
    • Động từ mạnh: ham, phóng, đón > tư thế chủ động chiếm lĩnh > khao khát sống, khả năng sống tiềm tàng mãnh liệt.
    • Hương thơm của nhựa cây tiếp tục được đan chiếu ánh xạ trong hai chiều cảm nhận: thị giác, khứu giác.
    o Hạt bụi vàng: những hạt bụi dưới ánh sáng mặt trời từ trên cao rọi xuống giống như những hạt bụi long lanh > thơ hoá một hình ảnh bình thường.
    o Thơm mỡ màng: không phải “thơm ngào ngạt” (cùng sắc độ đậm đặc, mạnh), không phải “thơm dìu dịu” (sắc độ nhẹ) mà là thơm mỡ màng > mùi hương ngậm một nguồn sống dồi dào.
    • Có những cây: vượt lên được, cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ.
    • Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên một thân thể cường tráng.
    • Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…
    • Cứ thế hai ba năm nay, rừng xà nu đã ưỡn tấm ngực lớn ra, che chở cho làng > rào chắn, điểm tựa, áo giáp che chở cho cuộc sống dân làng Tây Nguyên > thái độ trân trọng, hàm ơn.
    (Liên hệ: “Tre Việt Nam” - Nguyễn Duy)
    Nhận xét:
    - Nhà văn xoay ống kính từ ngoài vào trong, từ nhìn ngắm tổng quát đồi xà nu hàng vạn cây đến thâm nhập vào từng tế bào xà nu, khám phá chất nhựa thơm ngào ngạt – cái mùi thơm của sự sống bất tử.
    - Biện pháp nhân hoá khiến xà nu không chỉ hiện lên ở phương diện sinh vật học với đặc tính dẻo dai, sức chịu đựng tốt mà còn trở thành sinh thể sống, đang chịu những đau đớn về thể xác nhưng bất khuất, kiên cường, gan dạ, bản lĩnh, ẩn tàng một sức sống bất diệt, một tâm hồn giàu chất thơ.
    - Hai cảm hứng: đau thương và bất tử đan xen nhưng âm hưởng chủ đạo là bài ca bất tận về sự sống .
    + Sự xuất hiện của xà nu
    - Trong cấu trúc văn bản:
    • Mở ra: đồi xà nu
    • Khép lại: những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời.
     Tác dụng:
    o Không gian mở rộng > Sức sinh sôi, sự sống mạnh hơn cái chết và sự huỷ diệt.
    o Tạo cấu trúc điệp vòng tròn > hình tượng xuyên suốt, mang tầm vóc sử thi.
    - Ở hệ thống các tình tiết: xuất hiện rải rác trong thiên truyện:
    • Trong đời sống sinh hoạt: khói xà nu xông bảng nứa để Tnú và Mai học,…
    • Gắn với các sự kiện quan trọng của dân làng Xô man: sự vùng dậy, cả làng bí mật mài vũ khí, Tnú bị tra tấn…
     Hình tượng xuyên suốt, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt và cuộc kháng chiến chống Mĩ của người Tây Nguyên.
    + Biểu tượng cho vẻ đẹp và sức sống con người Tây Nguyên:
    - Bút pháp nhân hoá > xà nu giống như một thân thể vừa mang thương tích vừa tiềm ẩn sức sống dồi dào.
    - Các thế hệ xà nu nối tiếp nhau > gợi sự liên tưởng các thế hệ dân làng Xô man chống giặc bất khuất.
    - Tả con người trong quan hệ liên tưởng so sánh với xà nu: cụ Mết ngực căng như một cây xà nu lớn (rừng xà nu uỡn tấm ngực lớn), Tnú bị chém ngang lưng, vết thương tím thẫm như nhựa xà nu (những vết thương đen, đặc quyện thành cục máu lớn)
    Nhận xét:
    - Sự chuyển hoá nhuần nhuyễn giữa hình tượng thiên nhiên và con người, hướng về tư tưởng nghệ thuật chủ đạo: sự vùng lên và sức sống bất diệt của con người Tây Nguyên trong đau thương.
    - Bút pháp hiện thực kết hợp với bút pháp lãng mạn > xây dựng rừng xà nu thành biểu tượng nghệ thuật độc đáo > “linh mộc” của người Tây Nguyên, mang tinh thần, sức mạnh, vẻ đẹp Tây Nguyên.
    b. Hình tượng con người Tây Nguyên
    + Tnú:
    - Tình huống nhân vật xuất hiện:
    • Sau 3 năm đi lực lượng, nghỉ phép về thăm làng một ngày.
    • Cụ Mết kể chuyện cuộc đời Tnú trước đông đủ dân làng và có mặt cả Tnú.
    • Không - thời gian:
    o Nhà ưng
    o Đêm rừng, bên ngoài lấm tấm một trận mưa đêm.
    • Giọng kể: trầm và nặng.
    • Cách kể: trang trọng, tôn nghiêm, kể “khan”.
    • Dặn dò: Sau này tau chết, chúng mày phải kể lại cho con cháu nghe > câu chuyện về Tnú trở thành truyện thiêng của cộng đồng Strá, thành di huấn, báu vật tinh thần truyền từ đời này sang đời khác.
     Tác dụng:
    • Màu sắc sử thi huyền thoại, giữa người nghe và người kể có khoảng cách không - thời gian vời vợi, xa xăm, với thái độ chiêm ngưỡng thiêng liêng, thành kính.
    • Chất hiện đại: nhân vật được kể hiện hữu, chứng kiến, tham gia > chân thực
     Kể một câu chuyện mang màu sắc huyền thoại về một nhân vật đang sống > biến câu chuyện của cá nhân anh hùng thành câu chuyện của dân tộc anh hùng > Tnú là sự tiếp nối các của Đăm san, Xinh Nhã… thủa trước trong thời đại kháng chiến chống Mĩ > bao bọc nhân vật trong không khí sử thi, huyền thoại
     Tính chất “truyện kể một đêm, một đêm dài bằng cả đời người”.
    - Cuộc đời Tnú qua dòng hồi ức của cụ Mết:
    • Nhỏ:
    o Mồ côi, sống nhờ sự chở che, đùm bọc của dân làng.
    o Thay cho thanh niên, người già, tiếp tế cho cán bộ > gan góc, dũng cảm.
    o Ý thức sâu sắc: Cụ Mết nói: Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn > ý thức cách mạng mạnh mẽ, sáng tỏ.
    o Học chữ không được, lấy đá đập đầu, nhờ Mai dạy > nóng nảy, kiên gan, thẳng thắn, trung thực, cầu thị.
    o Đi đường núi thì đầu nó sáng lạ lùng, xé rừng mà đi, lọt tất cả các vòng vây. Qua sông nó không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cới lên thác băng băng như một con cá kình không phải vì Tnú ngạo ngược, ngông nghênh, nông nổi mà vì ý thức “Qua chỗ nước êm thằng Mĩ - Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không ngờ” > thông minh, cá tính mạnh mẽ, dũng cảm.
    o Giặc bắt: dao chém ngang lưng hỏi cách mạng đâu > Tnú chỉ vào bụng, không khai một lời dù bị tra tấn dã man > kiên cường, gan góc, tuyệt đối trung thành với cách mạng.
     Tnú nổi bật với các phẩm chất: thông minh, thẳng thắn, trung thực, gan góc, táo bạo, dũng cảm, kiên cường.
    • Lớn:
    o Ba năm sau, vượt ngục về làng, cùng thanh niên lên núi Ngọc Linh mài vũ khí > người nuôi giữ để ngọn lửa yêu nước luôn đượm cháy, thắp sáng qua các thế hệ con người Tây Nguyên > chủ động cho cuộc chiến đấu mới với kẻ thù.
    o Thằng Dục xuất hiện để bắt và giết Tnú:
     Giặc bắt và hành hạ vợ con Tnú dã man > Tnú “chồm dậy”, “hai con mắt là hai cục lửa lớn” > căm hờn đã uất đọng không thể tan, chỉ trực bùng lên thành hành động trả thù.
     Hét dữ dội, nhảy xổ vào giữa bọn lính.
     Bị bắt: giẻ tầm dầu xà nu, quấn quanh mười đầu ngón tay, đốt > không kêu một tiếng nào.
     Mười ngón tay thành mười ngọn đuốc > Tnú nhắm mắt lại, rồi lại mở mắt ra, trừng trừng.
     Không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay, nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng, cháy cả ruột > chuyển hoá kì lạ: từ ngọn lửa vật lí bình thường thành ngọn lửa tinh thần căm hờn > con người đang tự đốt mình lên, đốt đau đớn, căm thù thành hành động quật khởi.
     Hét lên một tiếng, không phải là tiếng hét đau đớn mà là tiếng hét căm hờn “Giết” > giống như một lời hiệu triệu, một lời sấm truyền thiêng liêng.
     Nhận xét:
    - Nhịp văn ngắn, dồn dập, nhanh, gấp, giàu kịch tính (kẻ thù trắng trợn, thách thức, bạo tàn, uy hiếp; dân làng tận mắt chứng kiến người anh hùng của mình bị tra tấn dã man > kết thúc xung đột là hành động vùng lên giết kẻ thù).
    - Khái quát chân lí cách mạng đồng thời là tư tưởng của tác phẩm (qua lời cụ Mết)
     Khi giặc cầm súng, mình chưa cầm giáo > nạn nhân.
     Khi giặc cầm súng, mình cầm giáo > chiến thắng.
     Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo.
    o Luân phiên lượt kể: Tnú kể lại: giết Dục (có súng, có dao) bằng chính đôi tay mỗi ngón cụt một đốt.
    o Ý nghĩa biểu tượng của chi tiết bàn tay:
     Mười ngón đuốc rực cháy > biểu trưng cho sức mạnh, sự kiên cường bất khuất của con người.
     Mỗi ngón cụt một đốt > chứng nhận tội ác dã man của kẻ thù, chứng tích đau thương để nhắc nhớ người dân Xô man về chân lí cách mạng.
     Bóp cổ thằng Dục > sức mạnh tiêu diệt kẻ thù, sự trả giá tất yếu cho tội ác của bọn xâm lược > sức sống bất diệt của con người Tây Nguyên.
    Tiểu kết về nhân vật Tnú:
    - Qua nhân vật Tnú, nhà văn khái quát cuộc đời đau thương mà anh dũng, khám phá vẻ đẹp quả cảm, lòng yêu nước, phẩm chất gan dạ, anh hùng và sức sống mãnh liệt của người dân Tây Nguyên.
    - Xây dựng nhân vật bằng bút pháp sử thi > nhân vật hiện lên như người anh hùng trong những trang của huyền thoại của người miền núi.
    - Tiếp nối truyền thống có từ Đăm san, Xinh Nhã, Đinh Núp…, kéo dài và làm mới những trang sử thi thủa trước bằng tinh thần hiện đại.
    + Hình ảnh những con người Tây Nguyên khác:
    - Cụ Mết:
    • Thế hệ đi trước Tnú, là tương lai của Tnú.
    • Người lưu giữ truyền thống anh hùng của dân làng Xô man qua các câu chuyện kể, vị già làng minh mẫn, trí tuệ, kiên trung đã đúc rút chân lí cách mạng, hướng dẫn, chăm sóc phần tinh thần của người Xtrá.
    - Heng, Dít:
    • Dít: khi nhỏ bị bắt, bị doạ dẫm: “đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng” > tiềm ẩn sự gan góc, kiên trung.
    • Là quá khứ của Tnú, tiếp nối con đường cách mạng của Tnú.
    Nhận xét:
    - Bổ sung, hoàn chỉnh cho hình tượng Tnú.
    - Tạo nên bức tranh toàn cảnh rộng lớn, có tính chất sử thi về các thế hệ người Tây Nguyên nổi dậy chống Mĩ.
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Phân tích hình tượng rừng xà nu.
    Đề 2: Phân tích hình tượng Tnú.
    Đề 3: Phân tích chất sử thi trong văn học chống Mĩ qua “Rừng xà nu”.
    Đề 4: Bình giảng đoạn văn sau đây:
    “Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng có ít loại cây ham ánh sang mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, long lánh vô số hat bụi vàng từ nhựa cây bay ra, thơm mỡ màng.
    Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết.
    Nhưng cũng có những cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao, lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương cũng chóng lành như trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã…Cứ thế hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho làng…”
    Gợi ý giải đề
    Đề 1: Hình tượng rừng xà nu.
    + Tổng quát:
    - Giới thiệu chung về tác giả , tác phẩm.
    - Vị trí, ý nghĩa hình tượng rừng xà nu trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
    + Phân tích:
    - Biểu tượng của đau thương.
    - Biểu tượng của vẻ đẹp nên thơ, tráng lệ và sức sống bất diệt.
    - Biểu tượng nghệ thuật về vẻ đẹp sức sống con người Tây Nguyên.
    + Đánh giá:
    - Vai trò, ý nghĩa hình tượng đối với giá trị tác phẩm.
    - Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng.
    - So sánh giá trị hình tượng trên tư cách là biểu tượng của dân tộc (cây tre, cây đước, cây kơnia (Việt Nam), cây bạch dương (Nga), cây sakura (Nhật Bản), hoa tử đinh hương (Tây Ban Nha), hoa hồng đỏ (Bungary)…)
    Đề 2: Hình tượng Tnú.
    + Tổng quát:
    - Giới thiệu chung về tác giả , tác phẩm.
    - Vị trí, ý nghĩa hình tượng Tnú trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
    + Phân tích:
    - Tình huống:
    - Cuộc đời Tnú qua dòng hồi ức của cụ Mết.
    + Đánh giá:
    - Vai trò, ý nghĩa hình tượng ợng với giá trị tác phẩm.
    - Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng.
    - So sánh với hình tượng các anh hùng khác trong văn học chống Mĩ > thấy được đặc điểm thi pháp của văn học chống Mĩ và nét khác biệt của hình tượng.
    Đề 3: Chất sử thi trong văn học chống Mĩ qua “Rừng xà nu”
    + Tổng quát:
    - Giới thuyết về chất sử thi trong một tác phẩm văn học:
    • Đề tài
    • Nhân vật.
    • Cảm hứng
    • Nghệ thuật biểu hiện.
    - Cơ sở hình thành chất sử thi trong văn học chống Mĩ nói chung và trong “Rừng xà nu” nói riêng.
    • Chất sử thi là đặc điểm thi pháp đồng thời là mĩ cảm của văn học kháng chiến.
    • Đặc thù lịch sử đất nước 30 năm chiến tranh > tiếng nói bức xúc nhất: vận mệnh dân tộc > chất sử thi đậm nét trong văn học.
    + Biểu hiện của chất sử thi trong “Rừng xà nu”:
    - Đề tài: giàu chất sử thi.
    - Hình tượng Tnú:
    • Hiện thân đầy đủ, sâu sắc cho số phận người dân Xôman, cộng đồng Tây Nguyên, dân tộc Việt Nam.
    • Kết tinh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
    - Cảm hứng chủ đạo: tôn vinh.
    - Bút pháp: lí tưởng hoá
    + Đánh giá:
    - Tiếp nối và làm giàu truyền thống sử thi trong văn học bằng tinh thần hiện đại.
    - Làm cho truyện ngắn có tầm vóc một tiểu thuyết sử thi.
    - Tiêu biểu cho vẻ đẹp có tính chất lí tưởng: vẻ đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời chống Mĩ.
    Đề 4: Bình giảng đoạn văn.
    Dựa vào phần kiến thức cơ bản làm nổi bật một số ý như sau:
    + Vẻ đẹp nên thơ và sức sống bất diệt trong đau thương.
    + Bút pháp tả thực kết hợp với lãng mạn.
    + Biện pháp nhân hoá gợi liên tưởng song chiếu giữa rừng xà nu và các thế hệ người Tây Nguyên.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  9. #9
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn văn: Vợ chồng A Phủ
    TPO - Chuyên đề này nhằm giúp các em củng cố các vấn đề cơ bản xoay quanh tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.
    - Nét độc đáo trong hình tượng nhân vật Mị.
    - Nét độc đáo trong hình tượng nhân vật A Phủ.
    - Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ sâu sắc.
    - Biệt tài miêu tả bức tranh thiên nhiên và sinh hoạt mang đậm màu sắc địa phương phong tục.
    - Khả năng miêu tả diễn biến tâm lí tinh vi, sắc sảo.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    1. Khái quát:
    a. Tác giả:
    + Tiểu sử:
    - Quê: huyện Thanh Oai – Hà Nội > làng ven đô trở thành một không gian nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác.
    - Chỉ được học hết bậc Tiểu học, phải làm nhiều nghề để kiếm sống trước khi cầm bút > liên hệ các tác giả: Macxim Gorki (Nga), Nguyên Hồng, Kim Lân (Việt Nam) để thấy vai trò của “trường đời” và tự học đối với sự thành công của các nghệ sĩ.
    - Con người:
    • Gắn bó sâu sắc với lứa tuổi thiếu nhi > cơ sở của những tác phẩm viết cho trẻ em.
    • Đi nhiều, vốn sống phong phú, đặc biệt trong lĩnh vực phong tục và sinh hoạt đời thường > có những trang viết chân xác, đằm thắm về đất và người nhiều vùng đất, nhất là đất và người Tây Bắc.
    • Có cái nhìn hồn nhiên, trong trẻo mà sắc sảo, hóm hỉnh, thông minh về các sự vật, hiện tượng, con người trong cuộc sống.
    + Sáng tác:
    - Thể loại: đa dạng.
    - Tác phẩm tiêu biểu: Dế mèn phiêu lưu kí (đồng thoại, 1941), O chuột (tập truyện ngắn về loài vật, 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Mười năm (tiểu thuyết, 1967)…
    - Khái quát giá trị:
    • Đề tài: 2 đề tài
     Đồng thoại về thế giới loài vật
     Cuộc sống, số phận và vẻ đẹp người lao động nghèo ở miền xuôi và miền ngược.
    • Nội dung:
     Cái nhìn trìu mến, bao dung, nhân ái, độ lượng với trẻ thơ.
     Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo mới mẻ, độc đáo.
    • Nghệ thuật:
     Khả năng miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật chân xác, sâu sắc, tinh tế.
     Cách kể chuyện sống động, hóm hỉnh, có duyên.
     Lời văn: giàu tính tạo hình và chất thơ.
    + Vị trí văn học sử: cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại.
    b. Tác phẩm
    + Sự ra đời:
    - 1952: Tô Hoài theo đơn vị bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, sống gắn bó với đồng bào 8 tháng.
    - Chia tay, Tô Hoài viết tập truyện bằng sự am hiểu tường tận cuộc sống, phong tục, nhất là tâm hồn phóng khoáng, tự do phảng chút hoang dại của đồng bằng miền núi; nỗi ám ảnh về những kỉ niệm gắn bó và món nợ ân tình với người Tây Bắc.
    - “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc được in trong tập “Truyện Tây Bắc” (1953).
    + Kết cấu: 2 phần
    • Phần 1: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống của người dân lao động miền núi Tây Bắc trước cách mạng.
    Phần thể hiện bút lực Tô Hoài trong tác phẩm này
    o Những trang viết tài hoa về hương sắc vùng cao.
    o Thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo mới mẻ, cảm động.
    o Khả năng miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo.
    • Phần 2: Quá trình vận động từ tự phát tới tự giác của người lao động.
    o Thành công:
     Đem vào tác phẩm không khí thời đại.
     Thấy được quá trình vận động trong tư tưởng, cuộc sống người lao động: từ cam chịu, khổ nhục đến chủ động giành lấy tự do, hạnh phúc, từ hành động phản kháng tự phát đến hoạt động cách mạng tự giác.
    o Hạn chế: Hình tượng nhân vật trung tâm hành động theo sự dàn xếp của tác giả nhằm chứng minh cho một luận đề: sự giác ngộ đến với cách mạng của quần chúng bị áp bức > dàn trải, đôi chỗ viết dễ dãi, giản đơn.
    2. Phân tích
    a. Nhân vật Mị
    + Số phận bất hạnh: Con dâu gạt nợ.
    - Đoạn mở đầu:
    • Cách mở đầu: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra…” : giọng kể trầm giống với cách mở đầu trong cổ tích > chuẩn bị không khí cổ tích cho mẫu nhân vật cổ tích xuất hiện, tạo tâm thế cho người đọc tiếp nhận một motip quen thuộc.
    • Không gian: “ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa” > xuất hiện cùng thế giới đồ vật nặng chì, câm lặng > gợi mở:
     Vị trí người ở của nhân vật.
     Hình ảnh tảng đá dường như là một đồng dạng của cô gái – câm nín, ngậm khối u uất khó cất lời, bất động, không sinh khí, không sẻ chia.
    • Tư thế: “cúi mặt, mặt buồn rười rượi” với nhịp điệu mòn mỏi, thường xuyên, lặp lại vô hồn - “lúc nào cũng vậy” .
    • Đối lập: hình ảnh một cô gái lẻ loi, đơn độc, u trầm, buồn khổ - cảnh tấp nập, giàu sang nhà thống lí.
    Nhận xét:
    o Phác hoạ hình ảnh người con gái câm lặng như chìm lẫn vào thế giới đồ vật vô tri, không cảm giác.
    o Hé lộ cuộc sống tủi cực, cảnh ngộ éo le của nhân vật.
    o Cách dẫn dắt khéo léo: điểm nhìn từ xa, bên ngoài tiến gần hơn vào bên trong để thâm nhập nhân vật; tạo ra mâu thuẫn ở lời kể để vén bức màn bí mật về một phận người (hỏi ra mới rõ,… cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra).
    - Thân phận con dâu gạt nợ:
    Câu chuyện Mị về làm dâu:
    • Lý do: bố lấy mẹ không đủ tiền cưới, phải vay nhà thống lí, tận khi già mà chưa trả hết nợ. Mẹ chết > thống lí đòi lấy Mị làm con dâu để xoá nợ > mối nợ truyền kiếp, dai dẳng, khó thoát > bóng của kiếp sống nô lệ, cùng khổ đổ lên người dân nghèo qua thế hệ này đến thế hệ khác. Câu nói từ bên trong của bố Mị “không thể nào khác được” giống như một dấu triện đóng lên thân phận nô lệ của Mị.
    • Phản ứng: đề nghị bố lao động trả nợ chứ quyết không muốn bị bán cho nhà giàu: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương trả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu” > cho thấy:
     Lựa chọn tỉnh táo: thà sống vất vả, nghèo khổ mà tự do còn hơn sống trong giàu sang mà chịu đoạ đày nô lệ.
     Khát vọng tự do mãnh liệt và niềm tin trong sang, hồn nhiên của tuổi trẻ.
    • Bị nhà thống lí lừa bắt đi > thái độ, hành động: “hàng mấy tháng, đêm nào cũng khóc”, ăn lá ngón tự tử > nhận thức sâu sắc tình cảnh quẫn bách của bản thân: sống cũng như chết > phản ứng tiêu cực của lòng yêu sống và khát vọng tự do.
    • Dần dần:
     Cha chết. Mị không còn nghĩ tới cái chết > nghịch lí đầy bi kịch: mất đi khả năng phản ứng với cuộc sống phi nhân tính > thực chất: chỉ sống đời sống vật chất, còn tinh thần và tâm hồn đã chết > nhẫn nhục, cam chịu, vô hồn.
     Thời gian: “lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau”: phép đối, cách đếm thời gian chậm rãi, đều đặn > khoảng thời gian đủ để vô hồn hoá con người, nhấn con người vào câm lặng.
    • Lí giải về thái độ của Mị: “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”.
    • Tưởng: mình cũng là: con trâu, con ngựa.
    • So sánh:
     “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày” > bị bóc lột sức lao động tàn nhẫ
     Lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa
    • Tê liệt khả năng phản ứng với cuộc sống vô nghĩa > phản ứng của con người không còn cảm thấy ý nghĩa cuộc đời, cam chịu sống mảnh đời khuất lấp, quên lãng, như cái cây, tảng đá, đồ vật trong không gian nhà thống lí > nghịch lí: vị trí: con dâu (quyền thế, đáng trọng), thân thế: con nợ, người ở (rẻ rúng, coi thường)
    • Căn buồng - không gian sống của Mị: kín mít, có một chiếc cửa sửa lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng > tối tăm, bức bối, lạnh lẽo, đầy âm khí > biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, tù túng, ngột ngạt, nơi cầm tù tuổi thanh xuân của con người, biến Mị từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người vô cảm, cam chịu.> không gian phi nhân tính.
    Tiểu kết:
    Miêu tả cuộc sống làm dâu, nhà văn khám phá một mảng hiện thực mới: cuộc sống, số phận đau khổ của người lao động miền núi - những con người bị cường quyền, thần quyền, cái nghèo, những áp chế về tinh thần đẩy vào tình trạng sống vô nghĩa, vô cảm.
    + Sự thức tỉnh và hồi sinh khát vọng sống trong Mị (đêm tình mùa xuân)
    - Khung cảnh:
    • Bức tranh mùa xuân:
     Cỏ gianh vàng ửng > tươi vui, đầy sức sống, ánh sáng > đối lập với không gian sống tăm tối của Mị.
     Mỏm núi: váy hoa xoè như con bướm sặc sỡ > đầy màu sắc, phấn chấn, náo nức.
     Đám trẻ: cười ầm.
     Tiếng sáo: thiết tha bồi hồi.
     Thiên nhiên rực rỡ màu sắc, náo nức âm thanh > sự hiện diện của một thế giới căng tràn nhựa sống.
    • Đêm tình mùa xuân:
     Trong nhà: mọi người nhảy đồng, hát
     Bên ngoài: tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng ngoài đường > chi tiết trở đi trở lại như một ám ảnh, mời gọi, vương vấn, khơi gợi kí ức và khát vọng yêu, sống trong Mị.
     Nội dung tiếng sáo: “Mày có con trai con gái rồi/ Mày đi làm nương/ Ta không có con trai con gái/ Ta đi tìm người yêu” > tiếng sáo mang khát vọng đôi lứa, khát vọng sống.
     Không - thời gian rạo rực khát vọng, thôi thúc con người tìm đến với men say tình yêu, men say sự sống.
    - Diễn biến tâm trạng:
    • Uống ừng ực > u uất, mất cảm giác, không sống trong thực tại, mà lặn vào vô thức, như nuốt cả bao nhiêu đau khổ.
    • Phơi phới trở lại > có cảm xúc (nhận ra tiếng sáo)
    • Còn rất trẻ > Ý thức về bản thân trở lại.
    • Muốn chết: khi cảm xúc, ý thức trở về là lúc Mị muốn chết > phi lí mà logic: ý thức tình trạng sống không bằng chết > giải thoát.
    • Do tiếng sáo > quên cái chết > xắn miếng mỡ khêu lại đèn, lấy váy, quấn tóc .
     Khát vọng được sống được yêu trở lại, kéo theo hành động: muốn được thấy ánh sang, muốn làm đẹp, ý thức về sự tồn sinh của mình (Liên hệ chi tiết: Mùi xà phòng trên áo của Đào trong “Mùa lạc “ khi kể cho Huân nghe về duyên mới > sự hồi sinh nữ tính thường được các nhà văn sử dụng để biểu trưng cho sự trỗi dậy mạnh mẽ, sâu sắc nhất của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc)
    - Sự vùi dập phũ phàng: bị A Phủ trói > khát vọng vừa hồi sinh đã bị vùi dập > tuy nhiên nó đã được nhóm lên để chuẩn bị rực cháy trong hành động cứu A Phủ và cứu mình.
     Tiểu kết:
    Qua nhân vật Mị, nhà văn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc và mới mẻ:
    - Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để cày đạp tước đoạt quyền sống cảu những con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất.
    - Đồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng.
    - Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do.
    b. Nhân vật A Phủ
    + Sự xuất hiện.
    - Khung cảnh: đêm tình mùa xuân.
    - Sự kiện: A Phủ đánh A Sử
    - Văn cảnh (xét trong hệ thống cốt truyện): khi xung đột trong Mị đang dâng lên > tạo yếu tố kịch tính: khát vọng hạnh phúc >< hiện thực phũ phàng.
    + Phẩm chất:
    - Gan bướng, thẳng thắn, gan góc.
    • Không chịu ở cánh đồng thấp > trốn lên núi.
    • Đánh A Sử - con trai thống lí vì A Sử gây sự mà không suy nghĩ gì tới hậu quả.
    • Khi bị đánh: quỳ chịu đòn, im như tượng đá > gan góc, sức chịu đựng khác thường.
    - Thể chất dồi dào: khỏe, chạy nhanh như ngựa.
    - Biết làm mọi việc: đúc lưỡi cày, đục cuốc, đi săn bò tót rất bạo > thanh niên chăm chỉ, chịu khó, tháo vát.
     Nhân vật mang vẻ đẹp khoẻ khoắn, cá tính, bản lĩnh, gan góc, tiềm ẩn sức sống, sức mạnh phản kháng, chống bạo tàn của thanh niên lao động miền núi.
    + Số phận: bất hạnh:
    - Lai lịch: mồ côi, phải đi làm thuê cuốc mướn từ năm 10 tuổi > motip nhân vật mồ côi bất hạnh trong cổ tích.
    - Khó có được hạnh phúc giản dị của một người con trai trưởng thành: không thể lấy nổi vợ.
    - A Phủ ở trừ nợ
    • Nguyên nhân: đánh A Sử > bị bắt, bị đánh đập dã man (mặt sưng, đuôi mắt giập chảy máu, hai đầu gối sưng bạnh như mặt hổ phù) > cúng ma, bị cho vay nợ để nộp phạt, khao làng > không có tiền trả, phải ở nợ > cuộc đời từ đây bị cột chặt trong vòng riết xoắn của kiếp trừ nợ.
     Gặp gỡ với số phận con dâu gạt nợ của Mị > bổ xung cho hình tượng những người lao động: vì nghèo mà chịu đời nô lệ.
    • Bị bóc lột sức lao động tàn tệ:
    Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò ngoài rừng > câu văn liệt kê > con người làm việc cơ học, như một cỗ máy, triền miên, ngày qua ngày, tháng nối tháng, năm tiếp năm, mòn mỏi.
    • Bị trừng phạt vì làm mất bò của chủ > tự mình lấy dây mây cột mình theo lệnh của thống lí > hiện thực oái oăm > diễn tả sâu sắc, thấm thía tình cảnh tủi cực, ngang trái của kiếp đời nô lệ > cuộc gặp gỡ tự nhiên giữa Mị và A Phủ.
    c. Cuộc gặp gỡ giữa Mị và A Phủ (hành động cởi trói cho A Phủ của Mị).
    + Lúc đầu, Mị thản nhiên: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.
    - Cảnh bị trói đến chết không phải là hiếm hoi ở nhà thống lí.
    - Mị đã chịu đựng quá nhiều đau khổ về thể xác lẫn tinh thần > trơ lì cảm xúc, tê liệt khả năng cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ khốn cùng của người khác.
    - Cuộc sống bao năm làm con rùa lầm lũi xó cửa khiến Mị quen cam chịu, nhẫn nhục > sức ì, quán tính quá lớn.
    + Tuy nhiên, nhà văn gài một chi tiết báo hiệu sự phản kháng của Mị: Bị A Sử đánh, đêm sau Mị vẫn ra sưởi > gan lì, bướng bỉnh.
    + Hôm sau:
    - Lé mắt trông sang > cái nhìn hờ hững, vô hồn.
    - Thấy: một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại > chi tiết duy nhất trong đoạn trích thiên về phản ánh nội tâm A Phủ (A Phủ gần như được xây dựng đơn giản hơn Mị: nhân vật của số phận và hành động) > nước mắt ở một thanh niên bản lĩnh, gan góc, yêu đời, mạnh mẽ diễn tả sâu xót nỗi đau, sự tủi cực, tình cảnh khốn cùng (có lẽ A Phủ cũng đang hình dung mình sẽ bị trói cho đến chết).
    - Đánh thức hồi ức đau thương, tuyệt vọng trong quá khứ của Mị > thương mình.
    - Độc thoại nội tâm: đồng cảm với A Phủ, với những người cùng cảnh ngộ > bất bình > tình thương trỗi dậy.
    - Giả định: A Phủ trốn > Mị bị trói đứng, phải chết trên cái cọc ấy > không sợ: thương A Phủ quên than > vị tha chiến thắng vị kỉ.
     Tô Hoài đã cắt nghĩa logic hành động của Mị: Mị ý thức tình trạng không còn gì để mất của mình sâu sắc.
    - Hành động: rút dao, cắt dây trói cứu A Phủ
    - A Phủ: khuỵu xuống > quật sức vùng lên, chạy > sức mạnh của khát vọng sống tự do.
    - Mị: sợ, chạy theo A Phủ > hành động tự cứu mình
     Nhận xét:
    • Hành động tự cứu mình của Mị là hành động có tính chất tự phát, nhưng cội nguồn sâu sa của nó là khát vọng sống mãnh liệt.
    • Hành động làm thay đổi vị thế hai con người: nô lệ, cam chịu > tự do, nổi loạn.
    • Hai nhân vật gặp gỡ nhau trong đau thương, cùng đường, nhờ khát vọng tự do mà vùng lên tự thay đổi cuộc đời.
    d. Một số đặc sắc về nghệ thuật.
    + Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo.
    + Nghệ thuật kể chuyện: kể chuyện kết hợp nhiều điểm nhìn (bên ngoài, bên trong, xa, gần) > dần dần khám phá thế giới nội tâm sâu thẳm và ngọn lửa sống âm ỉ đằng sau vẻ ngoài vô cảm của Mị.
    + Ngôn ngữ, hình ảnh: giàu chất thơ, chân xác.
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Phân tích nhân vật Mị.
    Đề 2: Phân tích nhân vật A Phủ.
    Đề 3: Phân tích giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo của tác phẩm.
    Đề 4: Phân tích đêm tình mùa xuân.
    Đề 5: So sánh nhân hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt".
    Gợi ý giải đề
    Đề 1: Nhân vật Mị
    + Tổng quát:
    - Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
    - Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân Mị trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
    + Phân tích:
    - Số phận bất hạnh
    • Mở đầu
    • Cuộc sống con dâu gạt nợ
    - Sự hồi sinh khát vọng sống và khát vọng tự do.
    + Đánh giá:
    - Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ, độc đáo.
    - Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng.
    So sánh với hình tượng các nhân vật ngưòi phụ nữ khác trong văn học.
    Đề 2: Nhân vật A Phủ
    + Tổng quát:
    - Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
    - Vị trí, ý nghĩa hình tượng nhân A Phủ trong việc biểu hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
    + Phân tích:
    - Số phận bất hạnh
    - Phẩm chất:
    + Đánh giá:
    - Vai trò, ý nghĩa hình tượng với giá trị tác phẩm: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo mới mẻ, độc đáo.
    - Đặc sắc nghệ thuật xây dựng hình tượng
    Đề 3: Giá trị nhân đạo mới mẻ độc đáo.
    + Phân tích dựa vào 3 luận điểm.
    - Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để tước đoạt quyền sống của những con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất.
    - Đồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng.
    - Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do.
    + Ở mỗi luận điểm: phân tích ở cả hai nhân vật, có sự đối chiếu, liên hệ khéo léo với các nhân vật đồng dạng khác trong văn học.
    Đề 4: Phân tích đêm tình mùa xuân
    Dựa vào phần kiến thức cơ bản, phân tích diễn biến tâm trạng của Mị, qua đó thấy được:
    + Khát vọng sống và khát vọng tự do mãnh liệt.
    + Nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế.
    Đề 5: So sánh nhân hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” và “Vợ nhặt”.
    + So sánh dựa trên các đặc điểm chủ yếu
    - Số phận
    - Phẩm chất.
    + Qua so sánh thấy được đặc trưng thi pháp văn học kháng chiến đồng thời làm rõ nét riêng trong giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của hai tác phẩm
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

  10. #10
    HUT's Student Avatar của Quỳnh
    Tham gia ngày
    Jul 2011
    Bài gửi
    273

    Mặc định

    Ôn tập môn ngữ văn: Văn học nước ngoài
    TPO - Chuyên đề "Thuốc" của Lỗ Tấn; "Ông già và biển cả" của Hemingway; "Số phận con người" của Sô-lô-khốp.
    KIẾN THỨC CƠ BẢN
    A. THUỐC
    1. Khái quát
    a. Tác giả
    + Tiểu sử - con người
    - Tiểu sử
    - Con người: giàu nhiệt huyết với đất nước, nhân dân.
    Chuyển qua nhiều nghề:
    • Bắt đầu: say mê nghề hàng hải tại “Thủy sư học đường” => mở rộng tầm mắt, thoát khỏi cảnh ao tù nước đọng quê nhà.
    • Tốt nghiệp “Khoáng lộ học đường” ngành khai mỏ => khai thác tài nguyên khoáng sản làm giàu cho tổ quốc.
    • Học nghề y => chữa bệnh cho những người dân vì nghèo, ngu dốt mà chết.
    • Một lần xem phim thấy người Trung Quốc khỏe mạnh hăm hở xem quân Nhật chém một người Trung Quốc => nhận ra: chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần => chuyển sang hoạt động văn chương để chữa căn bệnh tinh thần của quốc dân.
    + Sáng tác:
    - Xuất phát từ quan điểm sáng tác đúng đắn, tích cực mà ông đề xướng: văn học “cải tạo quốc dân tính”.
    - Tác phẩm tiêu biểu:
    - Giá trị:
    • Nội dung: đặt ra yêu cầu cho người cầm bút: chỉ ra căn bệnh tinh thần cho người Trung Quốc để họ có ý thức chạy chữa.
    => Nhận xét:
    o Lay động đất nước Trung Quốc lạc hậu, cổ hủ, thức tỉnh lương tri dân tộc đang mê ngủ.
    o Đề xuất quan niệm văn chương tiến bộ, mang tính cách mạng, khơi dậy trách nhiệm xã hội của người cầm bút > hình thành “dòng văn học phản tỉnh”.
    • Nghệ thuật: phong cách viết đa dạng, phong phú.
    o Bề ngoài: lạnh lùng, khách quan
    o Bên trong: ấm nóng, sục sôi nhiệt huyết với dân với nước.
    => Ngòi bút trong tay Lỗ Tấn sắc sảo như “con dao mổ trong tay người phẫu thuật” (Liên hệ với phong cách nghệ thuật của Nam Cao).
    + Vị trí văn học sử: tác giả tiêu biểu của văn học hiện đại Trung Quốc mà cái bóng ôm trùm suốt thế kỉ XX.
    b. Tác phẩm
    + Sự ra đời: 1919, đúng lúc cuộc vận động chống phong kiến đế quốc của học sinh sinh viên bùng nổ (phong trào “ngũ tứ”).
    + Nhan đề:
    - Nghĩa thông thường: thuốc chữa bệnh.
    - Gắn với tác phẩm
    • Thuốc chữa bệnh lao theo cách riêng của những người dân mê muội, làm cho người chết oan uổng.
    • Nước Trung Quốc chìm trong tăm tối, ngu muội. Bánh bao tẩm máu người thực chất là một loại thuốc độc. Con người đang chìm đắm trong sự mê tín, ngu dốt, hủ lậu, tham lam. Cái gọi là thuốc mà người dân Trung Quốc cần là sự giác ngộ => Đặt ra câu hỏi về phương thuốc chữa bệnh tinh thần cho người Trung Quốc.
    • Phát hiện ra căn bệnh ở hai đối tượng:
    o Người cách mạng: xa rời quần chúng đến mức quần chúng bán đứng mình (đau đớn nhất lại chính là người thân – ông Ba bán đứng Hạ Du)
    o Quần chúng: mê muội, hờ hững với lí tưởng cứu nước cao đẹp.
     Nhận xét:
    • Chỉ ra căn bệnh tinh thần quái dị chứ không chủ trương kê đơn bốc thuốc => lay động và thức tỉnh ý thức chữa bệnh để người dân Trung Quốc tự tìm thuốc chữa.
    • Thuốc là một câu hỏi bỏ lửng cho cả người cách mạng và quần chúng: làm thế nào tìm ra phương thuốc chữa bệnh tinh thần.
    + Tóm tắt nội dung:
    - Ông chủ quán trà Hoa Thuyên có con trai bị bênh lao, nhờ người mua bánh bao tẩm máu tử tù vì tin sẽ chữa bệnh được cho con.
    - Mọi người uống trà bàn tán về người cách mạng – Hạ Du mà máu được dùng làm thuốc với thái độ coi thường, coi là giặc, điên, trái đạo.
    - Tiết Thanh minh năm sau, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên đều đến nghĩa địa thăm con và có sự đồng cảm.
    2. Một số vấn đề lưu ý
    a. Nội dung
    + Vạch trần sự u mê, lạc hậu của quốc dân tính Trung Quốc.
    + Đặt câu hỏi có ý nghĩa xã hội sâu sắc: Đâu là phương thuốc chữa bệnh thể xác và tinh thần cho người dân Trung Quốc.
    + Chỉ rõ: muốn cứu người Trung Quốc khỏi nguy cơ diệt vong cần chữa hai căn bệnh.
    • Căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng.
    • Căn bệnh u mê, thờ ơ với tương lai đất nước của người dân Trung Quốc.
    b. Nghệ thuật
    + Bút pháp: thiên về tả => phơi bày trần trụi, khách quan, lạnh lùng, thấm thía trạng thái tinh thần ngu muội, vô cảm của người dân và sự cô vắng của người cách mạng.
    + Ngôn ngữ: ngắn gọn, giản dị.
    + Hệ thống chi tiết, hình ảnh giàu tính biểu tượng:
    - Bánh bao tẩm máu tử tù.
    • Cách chữa bệnh mê tín.
    • Cách nhìn của quần chúng về người cách mạng: giặc, điên => tăm tối, không thấu hiều => thực chất đây là thứ thuốc độc.
    - Con đường mòn “nhỏ hẹp, cong queo”.
    • Ranh giới quần chúng – cách mạng: mộ người cách mạng bị đặt chung một bên với những người tội phạm.
    • Ranh giới phân tranh giữa trái – phải.
    => Nhận thức ngu muội, tăm tối của người dân.
    - Con quạ: thế lực đen tối.
    - Sự gặp gỡ của hai bà mẹ:
    • Họ Hoa và họ Hạ => ghép lại thành Hoa Hạ - tên gọi cổ xưa của dân tộc Trung Quốc => bị chia cắt thành hai nửa không thấu hiểu, đều mang bi kịch và nỗi đau mất mát.
    • Tuy nhiên, họ đã gặp nhau và đồng cảm, xóa bỏ đi khoảng cách của sự ngộ nhận, hiểu lầm => niềm tin vào một ngày Trung Quốc thống nhất, đoàn kết.
    - Vòng hoa: trân trọng, biết ơn => niềm lạc quan về sự phản tỉnh của người dân Trung Quốc.
    B. ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ
    1. Vài nét về tác giả tác phẩm
    a. Tác giả
    + Tiểu sử:
    - Thủa nhỏ thường theo cha đi săn, đi câu cá hay chữa bệnh cho người da đỏ => khám phá những mảnh đất mới mẻ, hoang sơ; sống gần gũi với thiên nhiên.
    - Tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới với tư cách là người lính, phóng viên mặt trận, chịu nhiều nỗi đau hậu chiến (bi thương, tình yêu tan vỡ) => trải nghiệm, cảm nhận sâu sắc sự phi nghĩa và những mất mát do chiến tranh gây ra.
    + Con người:
    - Cá tính mạnh mẽ, giàu nghị lực và luôn muốn thử thách khả năng chịu đựng của con người.
    - Nhà văn thuộc “thế hệ vứt đi”: tan vỡ ảo tưởng, nhận thức sự phi nghĩa của chiến tranh, cảm giác lạc loài.
    - Trung thực với chính mình và với nghề viết:
    Tâm niệm: “Viết một áng văn giản dị và trung thực về con người”.
    + Phong cách nghệ thuật - Nguyên lí “tảng băng trôi”.
    - Tác phẩm phải là một “tảng băng trôi”, bảy phần chìm, một phần nổi.
    - Biểu hiện:
    • Văn phong giản dị, ngắn gọn, tước bỏ mọi màu mè hoa mĩ trong lời văn.
    • Tạo hình tượng nghệ thuật giàu sức gợi, nhiều ẩn ý.
    • Sử dụng nhiều độc thoại nội tâm
    • Giọng điệu phong phú: vừa trữ tình vừa châm biếm, vừa tả thực vừa biểu tượng => tính chất đa thanh.
    • Dung lượng câu chữ ngắn gọn nhưng triết lí và ý vị nghệ thuật gần như vô tận: nhà văn cố tình lược bớt các chi tiết để gia tăng hàm lượng nghĩa cho hình tượng nghệ thuật.
    Nhận xét:
    - Tạo ra “mạch ngầm văn bản” => tạo tính chất đối thoại, mở rộng khả năng “đồng sáng tạo” của người đọc trong quá trình tiếp nhận.
    - Gặp gỡ với lí luận văn học phương Đông (Trung Quốc): ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời) => tính chất hàm súc, đa nghĩa của văn bản nghệ thuật.
    - Gắn với quan niệm: “Viết một áng văn xuôi trung thực và giản dị về con người”.
    b. Tác phẩm
    + Xuất xứ: viết năm 1952, trước khi nhà văn đạt giải Nobel (1954).
    + Tóm tắt: Truyện kể về ba ngày hai đêm ra khơi đánh cá của ông lão Xan-ti-a-gô. Trong khung cảnh mênh mông trời biển chỉ có một mình ông lão, lúc chuyện trò với chim cá, mây nước, khi đuổi theo con cá lớn, lúc đương đầu với đàn cá dữ đang bu vào xâu xé con cá kiếm của lão, để cuối cùng, kéo vào bờ chỉ còn trơ bộ xương.
    + Khái quát:
    - Thời gian, nhân vật được thu hẹp tới mức cực hạn.
    - Gợi mở nhiều tầng ý nghĩa:
    • Cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời của ông lão.
    • Hành trình nhọc nhằn và dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình.
    • Thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi giấc mơ sáng tạo.
    • Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên => khẳng định sức mạnh của con người: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.
    + Vị trí: tác phẩm là thể nghiệm thành công cho nguyên lĩ “Tảng băng trôi”
    c. Đoạn trích.
    Thuộc phần cuối của truyện, kể lại việc ông lão Xan-ti-a-gô đuổi theo và bắt được con cá kiếm.
    2. Một số nét cơ bản về đoạn trích
    Biểu hiện của nguyên lí “Tảng băng trôi”:
    + Những “khoảng trống” ngôn ngữ:
    - “Khoảng trống” trong những đoạn miêu tả, kể về cảnh vật, con người.
    Ví dụ: “Rồi sợi dây không nhích thêm tí nào nữa và lão giữ cho tới khi lão thấy trong ánh nắng, những tia nước từ sợi dây bắn ra […]Thế rồi sợi dây thoát đi mất” => giữa hai câu có khoảng trống: lão sợ dây câu đứt nên buông dây ra.
    - “Khoảng trống” trong dòng độc thoại nội tâm của ông lão.
    Ví dụ: “Con cá là vận may của ta” => Muốn hiểu câu này cần liên tưởng tới việc lão ra khơi vì mọi người cho rằng lão gặp vận rủi đeo đẳng nên đã hết thời => có thể hiểu: Con cá là vận may của ta vì ta đã bắt được nó, xóa bỏ vận rủi theo bám ta bấy lâu.
    + Phân bố các kiểu lời: lời tả, lời độc thoại => se khít, chặt chẽ, tỉ lệ phù hợp.
    - 18 lần độc thoại nội tâm, 24 lần tác giả sử dụng “Lão nghĩ”.
    - 18 lần lão/ông lão nói lớn (ông lão hứa) => đối thoại với thiên nhiên, phân thân, tự nói với chính mình để tìm nguồn độc lực vượt qua gian nan và nỗi cô đơn một mình trên biển.
    => Những khoảng dư bất tận của ý nghĩa:
    - Cuộc tìm kiếm con cá lớn nhất, đẹp nhất đời của ông lão.
    - Hành trình nhọc nhằn và dũng cảm của người lao động trong một xã hội vô tình.
    - Thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi giấc mơ sáng tạo.
    - Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên => khẳng định sức mạnh của con người: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.
    C. SỐ PHẬN CON NGƯỜI
    1. Khái quát về tác giả, tác phẩm
    a. Tác giả:
    + Tiểu sử - con người:
    - Nơi sinh: thảo nguyên Sông Đông => không gian nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác Sô-lô-khốp.
    - Tham gia cách mạng từ khá sớm, làm nhiều nghề để kiếm sống => sự trải nghiệm, thấu hiểu sâu sắc cuộc sống, chiến tranh cũng như gương mặt những số phận thời hậu chiến.
    + Phong cách nghệ thuật:
    - Viết đúng sự thật, không né tránh dù có khốc liệt và đau thương như thế nào.
    - Sự kết hợp hài hòa: chất bi và chất hùng, yếu tố sử thi và yếu tố tâm lí.
    + Vị trí văn học sử:
    - Nhà văn Nga lỗi lạc, thuộc số các nhà văn mà mỗi tác phẩm ra đời đều có ý nghĩa như những cột mốc đánh dấu bước phát triển của nền văn học Xô viết.
    - Nhận giải thưởng Nobel năm 1965.
    - Nhà tiểu thuyết có tài, một trong những nhà văn lớn nhất thế kỉ XX.
    b. Tác phẩm
    + Hoàn cảnh ra đời:
    - Bối cảnh tác phẩm: được in năm 1956 nhưng bối cảnh của nó là cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1939 – 1945). Tuy dành được thắng lợi to lớn nhưng nhân dân Liên Xô cũng đã phải gánh chịu những tổn thất nặng nề
    - Bối cảnh lịch sử, thời đại:
    • Bầu không khí dân chủ trong xã hội Nga những năm 50 => ảnh hưởng tới: sự lựa chọn nhân vật trung tâm, giọng điệu người kể chuyện, vấn đề mà tác phẩm đặt ra.
    • Xu hướng văn học đi vào tìm hiểu số phận con người nổi lên trong văn học thế giới sau chiến tranh.
    + Tóm tắt:
    - Kể về cuộc đời An-đrây Xô-cô-lốp, một người lao động, một người lính Nga bình thường.
    - Kiểu truyện lồng trong truyện: tác giả kể về cuộc gặp gỡ tình cờ với Xô-cô-lốp trong một lần đợi phà sang sông và được anh kể lại chính cuộc đời mình => lời kể: đan xen giữa lời tác giả và lời nhân vật.
    - Kết cấu theo trình tự thời gian: trước, trong và sau chiến tranh.
    - Trọng tâm truyện dồn vào thời gian Xô-cô-lốp trong chiến tranh: bị bắt làm tù binh, bị đày đọa trong địa ngục trần gian của phát xít Đức.
    + Giá trị:
    - Cách nhìn mới về cuộc sống, chiến tranh: toàn diện, chân thực => tôn trọng sự thật, đưa vào tác phẩm những sự thật táo bạo (sự thật về những mất mát của con người sau chiến tranh, đằng sau những vinh quang của chiến thắng là những tổn thất, thương đau…)
    - Đổi mới trong miêu tả nhân vật, khám phá tính cách Nga, khí phách anh hùng và sự nhân hậu của người lính Xô-Viết.
    => Truyện ngắn vươn tới tầm vóc sử thi (phản ánh chân thực toàn cảnh về đất nước và con người Nga trước, trong và sau chiến tranh thế giới thứ 2 thông qua số phận của một cá nhân)
    + Vị trí văn học sử:
    Cột mốc quan trọng mở ra chân trời mới cho văn học Nga.
    c. Đoạn trích
    + Vị trí: đoạn cuối của truyện.
    + Tóm tắt: người lính bước ra khỏi chiến tranh với vết thương lớn trong tâm hồn (mất hết người thân), được đặt trước một tình huống mới – tình huống thử thách trái tim: gặp Va-ni-a bé bỏng không gia đình. Lòng nhân hậu, vị tha, bản lĩnh của một người anh hùng trong đời thường dẫn đến hành động nhận nuôi đứa trẻ. Hai con người bơ vơ, côi cút đã tìm đén với nhau, nương tựa vào nhau để vượt qua đau thương.
    2. Một số nét cơ bản về tác phẩm
    a. Nội dung:
    + Lí giải vấn đề lớn của văn học nhân loại: “Số phận con người” qua cuộc đời của Xô-cô-lốp – một người lái xe như bao người lái xe khác trước chiến tranh vá sau chiến tranh, một người lính bình thường trong chiến tranh => đặc biệt quan tâm tới số phận những người lao động => khái thác hình tượng nhân vật ở khía cạnh đời thường => những vấn đề lớn (chiến tranh, số phận con người) được lí giải gần gũi, sâu sắc, thấm thía.
    + Phát hiện chiều sâu của hiện thực: di chứng của chiến tranh vẫn còn tấy đau trong mỗi mảnh đời (người lính mất gia đình, đứa bé mất mái ấm chở che…)
    + Khám phá tính cách con người Nga (qua nhân vật Xô-cô-lốp): nhân hậu vị tha, kiên cường, dũng cảm (đặt nhân vật trong tình huống mới đầy thử thách sau chiến tranh: gặp Va-ni-a, một số phận côi cút, bé bỏng).
    b. Nghệ thuật
    + Tự sự độc đáo: hình thức truyện lồng trong truyện => Tác dụng
    - Đảm bảo tính chân thực
    - Tạo ra một phương thức miêu tả lịch sử mới: lịch sử trong mối quan hệ mật thiết với số phận cá nhân con người.
    + Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật:
    - Lời nhân vật tự bộc lộ.
    - Các tình huống và mối quan hệ bộc lộ tâm lí.
    - Các chi tiết nghệ thuật được lựa chọn
    + Lời phát biểu trữ tình (trữ tình ngoại đề).
    - Băn khoăn, lo lắng về tương lai của “hai con người côi cút, hai hạt cát” bé nhỏ giữa cuộc đời đầy giông bão.
    - Nghĩ về con người Nga, tính cách Nga, nhà văn bộc lộ sự tin tưởng “Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường nếu như tổ quốc kêu gọi”.
    - “Nỗi buồn thấm thía” khi nhìn vào bóng dáng lũn cũn non nớt của câụ bé và hiện thực cuộc sống (hình ảnh “những giọt nước mắt đàn ông hiếm hoi nóng bỏng”) => Kết thúc chiến tranh không có nghĩa là hết nước mắt và đau thương.
    - Chiêm nghiệm về số phận con người - những hạt cát côi cút, bẻ nhỏ bơ vơ trong bão xoáy chiến tranh và cuộc đời => nhắc nhớ một thái độ sống, bản lĩnh sống để vượt qua đau thương: Cái chính ở đây là phải biết kịp thời quay mặt đi. Cái chính ở đây là đừng làm tổn thương em bé, đừng để cho em thấy những giọt nước mắt đàn ông hiếm hoi nóng bỏng lăn trên má anh.
    => Lời bình luận trứ tình giàu cảm xúc, chất nặng suy tư của nhà văn về số phận con người trong một giai đoạn lịch sử nhiều biến động của nước Nga.
    CỦNG CỐ KIẾN THỨC
    Đề 1: Phân tích ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Thuốc”.
    Đề 2: Phân tích ý nghĩa biểu tượng của chi tiết con đường trong “Thuốc”.
    Đề 3: Phân tích ý nghĩa nhan đề “Ông già và biển cả”.
    Đề 4: Trình bày ngắn gọn hiểu biết của em về nguyên lí “tảng băng trôi”.
    Đề 5: Phân tích ngắn gọn biểu hiện của nguyên lí “tảng băng trôi” trong “Ông già và biển cả”.
    Đề 6: Phân tích ý nghĩa nhan đề “Số phận con người”.
    Đề 7: Phân tích lời bình luận trữ tình trong “Số phận con người”.
    Gợi ý giải đề:
    Đề 1: Ý nghĩa nhan đề truyện ngắn “Thuốc”.
    + Mô tả
    + Phân tích:
    - Nghĩa thông thường.
    - Nghĩa gắn với tác phẩm.
    + Đánh giá:
    - Nhan đề ngắn gọn
    - Mang dấu ấn phong cách truyện ngằn Lỗ Tấn.
    Đề 2: Ý nghĩa biểu tượng của chi tiết con đường trong “Thuốc”.
    + Mô tả chi tiết con đường được miêu tả trong tác phẩm
    + Phân tích:
    - Ranh giới quần chúng – cách mạng: mộ người cách mạng bị đặt chung một bên với những người tội phạm.
    - Ranh giới phân tranh giữa trái – phải.
     Cho thấy:
    • Sự ngu muội trong nhận thức của quần chúng
    • Sự phân cách đau đớn của Trung Hoa vốn thống nhất.
    + Đánh giá:
    - Chi tiết nghệ thuật ngắn gọn nhưng giàu hàm lượng nghệ thuật.
    - Gắn với phong cách nghệ thuật Lỗ Tấn.
    Đề 3: Ý nghĩa nhan đề “Ông già và biển cả”.
    + Mô tả
    + Phân tích:
    - Tương quan đối lập: bé nhỏ, hữu hạn, đơn độc – rộng lớn, vô hạn, dữ dội.
    - Ý nghĩa biểu tượng:
    • Tương quan con người – thiên nhiên => Hành trình chinh phục thiên nhiên =>Cuộc đấu tranh muôn đời giữa con người và thiên nhiên => bài ca về sức mạnh và bản lĩnh của con người “có thể bị hủy diệt chứ không thể bị đánh bại.
    • Hành trình nhọc nhằn và dũng cảm của người lao động.
    • Thể nghiệm về thành công và thất bại của người nghệ sĩ đơn độc khi theo đuổi giấc mơ sáng tạo.
    + Đánh giá:
    - Nhan đề giàu ý nghĩa biểu tượng.
    - Mang dấu ấn phong cách nghệ thuật tác giả.
    Đề 4: Trình bày ngắn gọn hiểu biết của em về nguyên lí “tảng băng trôi”.
    + Là gì?
    + Biểu hiện?
    + Nêu ngắn gọn những biểu hiện của nguyên lí này trong “Ông già vả biển cả”
    Đề 5: Phân tích ngắn gọn biểu hiện của nguyên lí “tảng băng trôi” trong “Ông già và biển cả”.
    Dựa vào kiến thức cơ bản để làm bài.
    Đề 6: Phân tích ý nghĩa nhan đề “Số phận con người”.
    + Mô tả.
    + Phân tích
    + Đánh giá.
    Đề 7: Lời bình luận trữ tình trong “Số phận con người”.
    Dựa vào kiến thức cơ bản để làm bài.
    Đỗ Thị Thúy Dương
    Giáo viên Hocmai.vn

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/3 123 CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Luyện thi IELTS chuyên nghiệp - YES!
    Gửi bởi youth english school trong mục English
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 23-02-2011, 07:39 PM
  2. Luận Văn Tốt Nghiệp - CD gồm 5000 bài luận văn ( Dành cho ĐH, CĐ)
    Gửi bởi nguyenhuuvinh647 trong mục Viện Khoa học và Kỹ thuật Vật liệu
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 07-05-2010, 07:21 PM
  3. 7 bộ tài liệu Anh Văn luyện nghe, nói, đọc, viết
    Gửi bởi andy_khanh trong mục Sharing your news and knowledge in English
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 04-12-2009, 01:50 AM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube