User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/2 12 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 13

Chủ đề: Truyện ngắn Xuân Diệu

  1. #1
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Truyện ngắn Xuân Diệu

    HOA HỌC TRÒ
    (Xuân Diệu)
    Phượng không thơm, phượng chưa hẳn đã là đẹp, nhưng phượng đỏ và phượng nhiều, phượng có một linh hồn sắc sảo mênh mang.
    Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành; phượng đây là cả một loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cái xã hội thắm tươi; người ta quên đóa hoa, chỉ ngó đến cây, đến hàng, đến những tàn lớn xòe ra, trên dậu khít nhau bằng muôn ngàn con bướm thắm. Mầu hoa phượng chói lói, sinh sống như sắc máu người.
    Ấy là lời kêu kỳ bí của mùa hè; trong nắng chói chang, mùa hè thét lên những tiếng lửa.
    Nhưng hoa càng đỏ, lá lại càng xanh. Vừa buồn mà lại vừa vui, mới thực là nỗi niềm bông phượng. Một làn gió hẩy tới; từng đợt sóng rào rào trên biển hoa....
    Người ta hay trồng phượng ngoài thành và trong thành; và người ta hay trồng phượng trong các sân trường. Vì sao? Nhưng dù trồng ở đâu, cũng chỉ có bọn học sinh yêu và hiểu hoa phượng nhất. Hoa phượng là hoa học trò. Còn ai quen với phượng cho bằng bọn cắp sách đến trường một ngày hai buổi! Còn ai có linh hồn tươi thăm để quan hòai cùng với phượng thắm tươi?
    Mùa xuân, phượng ra lá. Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me non. Lá ban đầu xếp lại, còn e; dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy. Lòng học trò phơi phới làm sao! Cậu chăm lo học hành, rồi lâu cũng vô tâm quên màu lá phượng.
    Một hôm, bỗng đâu trên những cành cây báo ra một tin thắm : mùa hoa phượng bắt đầu! Đến giờ chơi, học trò ngạc nhiên nhìn trông : hoa nở lúc nào mà bất ngờ dữ vậy!
    Bình minh cùa hoa phượng là một màu đỏ còn non, nếu có mưa, lại càng tươi dịu. Ngày xuân dần đến, số hoa tăng, màu cũng đạm dần. Rồi hòa nhịp với mặt trời chói lói, màu phượng mạnh mẽ kêu vang; hè đến rồi !
    Khắp thành phố bỗng rực lên, như đến tết nhà nhà đều dán câu đối đỏ.
    Sớm mai thức dậy, cậu học trò vào hẳn trong mùa phượng; thôi, nghĩ hè sắp đến đây!
    Mùa thi cử sắp đến !
    Thi cử cho các anh sắp ra trường, lười biếng cho các em còn ở nhiều năm.
    Sự học một bên căng, một bên chùng, đều ghi dấu hoa phượng. Các em ngồi trong lớp làm bài, tay không muốn chạy nhanh. Vì gần nghỉ, nên các em nghỉ ngay từ lúc còn chưa nghỉ. Phượng đỏ thế kia mà! Khắp các cành đều có hoa; hoa nở, hoa rơi, hoa bay, đến cả ngoài vườn xa không có cây mà cũng có hoa phượng.
    Các chàng trẻ vui tay nhặt cánh phượng trên cỏ xanh, lẩn thẩn như bùi ngùi. Có người bỏ vào sách ép, có người bỏ cả vào thư gửi đi. Hoa phượng tươi, tươi nhưng mà tươi quá quắt; hoa phượng đẹp, nhưng mà đẹp não nùng. Ai xui hoa phượng nhiều như vậy? Ai dạy cho hoa phượng cái màu xa xăm? Phượng vui; cái vui tươi như là làm cho thái quá để che cái sầu uất.
    Cái sầu nghỉ hè, vâng, nhất là đối với những chàng sắp ra trường, mà trước khi ra, phải trải một cuộc thi. Những chàng ấy chăm ngay từ đầu năm; đến lúc hoa phượng đậm màu, lại càng gấp gáp. Vài chàng bấy lâu nhác biếng, nay cũng bị màu hoa phượng đẩy cho ở sau lưng.
    Phượng hồng, phượng đỏ, phượng xác pháo, phượng máu người, phượng cứ nở, các anh cứ cố học; sắc phượng mệt mỏi lắm sao! Thật đúng với lòng các anh, gắng sức nhưng mà buồn bã. Các anh đã nghĩ đến hè, đến lúc ra trường , đến ngã ba đường phải chọn hướng đi , đến cuộc đời đang rình các anh mà chụp bắt.
    Rồi một hôm, trống đánh: các anh ngồi thi. Ôi, bài văn bí quá, bài tính nghĩ mãi không ra, các anh toát mồ hôi, ngó quanh quẩn như cầu cứu; nhìn ra cửa sổ, thấy bóng phượng ở ngoài sân! Rồi kẻ đậu thì bỏ mặc bông phượng mà vui vầy ; kẻ hỏng buồn riêng một mình, bạn bè cũng không, chỉ biết thở than cùng bông phượng.
    Họ đi giữa đường, dẫm xác bông phượng; họ ngồi thơ thẩn, bông phượng cũng rụng bên mình. Bàn tay mân mê bông phượng, cái sắc đỏ ám ảnh, đỏ một cách tức tối, đỏ một cách tuyệt vọng.
    Phượng cứ nở. Phượng cứ rơi. Bao giờ cũng có hoa phượng nở. Nghỉ hè đã đến. Học sinh sửa soạn về nhà. Nhà chưa về, cái vui gia đình đâu chửa thấy, chỉ thấy xa trường, rời bạn; buồn xiết bao! Những cuộc tình duyên giữa bạn bè, đến lúc rẽ chia, cũng rẽ chia dưới màu phượng; dù hữu tâm, dù vô tình, người nào cũng có sắc hoa phượng nằm ở trong hồn. Phượng xui ta nhớ cái gì đâu. Nhớ người sắp xa, còn đứng trước mặt....Nhớ một bãi biển sóng chấp chóa...
    Nhớ một trưa hè gà gáy khan...Nhớ một thành xưa son uể oải.......Thôi học trò đã về Huế, hoa phượng ở lại một mình. Phượng đứng canh gác nhà trường, sân trường. Hè đang thịnh, mọi nơi đều buồn bã, trường ngủ, cây cối cũng ngủ. Chỉ có hoa phượng thức để làm vui cho cảnh trường. Hoa phượng thức, nhưng thỉnh thoảng cũng mệt nhọc, muốn lim dim. Gió qua, hoa giật mình, một cơn hoa rụng.
    Cứ như thế, hoa học trò thả những cánh son xuống cỏ, đếm từng giây phút xa bọn học sinh! Hoa phượng rơi, rơi......Hoa phượng mưa. Hoa phượng khóc. Trường tẻ ngắt, không tiếng trống, không tiếng người. Hoa phượng mơ, hoa phượng nhớ. Ba tháng trời đằng đẵng. Hoa phượng đẹp với ai, khi học sinh đã đi cả rồi.
    Thế là ba tháng qua. Hoa phượng gần xong cái bổn phận của mình. Từng trận, từng cơn, hay từng đóa, từng cánh, phượng đã trải hết mùa hè, thu sang như trút cả gánh hoa, học sinh về đây! Hoa phượng chỉ còn lưa thưa, lẻ tẻ; ôi các anh em, chúng tôi đã nở đẹp lắm, các anh không đến sớm mà xem, chúng tôi nhớ các anh mà rụng hết rồi, bây giờ còn mấy bông hoa là để dành chờ các anh, chứ đáng lẽ đã rụng tiệt cả.
    Anh em học trò nhìn lên cành phượng: lúc đi phượng nở, lúc về, phượng rơi lại, cánh sẫm mục nát. Trên cành, cái vui bông phượng tuy cuối mùa mà đằm thắm biết bao! Hết cái gắt gỏng bề bộn mùa hè, bây giờ hoa phượng lưa thưa, cuộc tình duyên đã dời sang thu, có lẽ vì vậy mà hoa phượng ấm lên gấp bội.
    Vài hôm nữa, hoa phượng sẽ nghỉ, sẽ yên lặng để cho anh em học, anh em cố học đi, tìm hái bông lài, bông lý, kiếm ngửi hoa ngâu, hoa hồng; anh em học cho hay, hoa phượng sẽ gặp các anh lúc cuối năm, trong lời chia ly, rẽ rời, và lại nói cùng các anh cái tâm sự thiết tha của mùa hè.
    ***

  2. Tớ cảm ơn nhienyeu94 đã chia sẻ.


  3. #2
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    GIÃ TỪ TUỔI NHỎ
    (Xuân Diệu)

    Không biết anh em tôi bỏ đi lúc nào, nhưng bây giờ thì em đã đi rồi.
    Tội nghiệp cho em tôi! Thỉnh thoảng em còn về thăm, nhưng chúng tôi không dám ở lâu cùng nhau; và dường như tôi có đôi ý xua đuổi. Bây giờ thì em còn thương tình mà trở lại thăm viếng, chứ mười năm, hai mươi năm nữa! Tôi có gọi, có van rát cổ, vỡ tiếng, em tôi cũng chẳng trở về.
    Ồ! Em Tuổi nhỏ của tôi, ta nhớ mường tượng như một lần nào đây, ta đẩy em lên đường; mắt em hôm ấy xanh quá, miệng em cười gượng, môi thắm hơi buồn; em ráng đẹp một lần cuối cùng, để ta nhìn em mà sau này mãi mãi nhớ thương. Ta thì nghẹn ngào, lệ phồng cả mắt, khẽ lắc đầu; trán ta ưu tư, lòng ta bị cuộc đời dày xéo, ta còn gan ruột nào để giữ em lại! Ta yêu em nhưng muốn cho em đi, vì đã tới giờ rồi!
    Trái sắp đậu thì hoa phải tàn, nếu hạt thóc không chết đi, thì cây lúa cũng không sống, em cũng biết rằng ta muốn ôm em lại mãi, nhưng có thể như thế được đâu. Thế là em đi, còn ta thui thủi về một mình, con đường thơ mộng đã trở thành con đường đời, ta bước đau thương, vì lòng ta trống cả em! Ta không muốn quay đầu lại nhìn; em đi rồi, ta phải thành một người lớn, phải siêng năng chứ, nào là công việc, nào là cuộc sống, nào là cái đời.....
    Còn em, Tuổi Nhỏ ơi, ta không cần thì em cũng không ở; em đi chầm chậm, lưng quay lại cho ta. Em mang theo mặt đẹp của em, hai má trai tơ, đậm như mặt trời sắp mọc; trán em tinh khiết, chưa hề oán hận; lòng em ngây thơ, chỉ thích đùa cười. Từ bấy đến nay, em vào trong Thời Gian, con đường mờ mịt không em?
    Thôi, đường của em về chỉ là khói sương thôi, chẳng bao lâu em sẽ lẫn với chân trời, anh chỉ nhìn đằng xa, tưởng em là mộng. Anh không dám giơ tay đón bắt; bắt sao được mà dám bắt em sao? Em sẽ không đến với một khuôn mặt tạc trong thịt đời khắc khổ, gập ghềnh, chín khô như một trái mùa hạ.
    Có phải đêm nay em tôi về đó không? Ngày nghỉ, đêm thanh, chiếc hoa sao tạt bay qua cửa, trăng lành, gió dịu, ta soi trộm vào gương, thoáng thấy hình ta, thoáng thấy hình em. Tuổi Nhỏ đấy ư? Hai ta còn một đêm dài, ngồi đây em, nằm đây em, dựa đây em; ở lại đây, em đừng đi nữa nhé!
    Tội nghiệp cho em tôi, một tiếng động cũng làm em sợ; em mỏng manh, em đẹp đẽ quá, nên xe chạy ồn, đời làm dữ, là em muốn biến đi ngay.
    Ngựa xe chạy làm chi mà ồn ào! Cuộc trùng phùng nào chắc gì đâu, sao đường phố còn rộn tiếng đời, không cho tôi tha hồ tâm sự? Cửa trước đã đóng, còn cửa sổ sau, mặt trăng từ mẫu cho mượn bóng xanh, hiện tại đã xa xa, quá khứ đã gần gần; gió thổi mà về, gió đưa thơ lại....
    Thôi, chính em là tôi, chính là tôi xưa, nét măng thụy, vẻ huy hoàng, chiều duyên dáng, cách thơ ngây, tâm này và hồn này là của tuổi nhỏ.
    Hồn Xuân phất phới ở đầu lá, cây cỏ đơm ra một làn hơi biếc, trời đát triền miên.....
    - Em đó ư? Anh nhìn rõ quá.
    - Anh đây ư? Em nhận không ra......
    Em của tôi đã bỡ ngỡ với tôi rồi. Tuổi Nhỏ ơi, ngày trước đây chúng ta là một đó. Em đi, giữ lấy tinh túy, ta ở, cuộc thế khinh mạn, thời gian lần lựa; xa em rồi, thì còn gì cuộc vui, còn gì thực đẹp nữa đâu! Chỉ có mắt em, đặt màu sắc lên cuộc đời; chỉ có mặt em, lông tơ bao bọc, chỉ ở tuổi em, cuộc đời bông hoa.
    Nói làm chi, phải không em? Nằm trên ngực anh đây, con chim êm ái; đưa tôi bồng ru chút nào, cậu măng trai tơ; em của tôi đây, tôi đây, thực là yêu quá. Mới đi độ chừng một năm, mà bây giờ đã bỡ ngỡ nhau. Em có biết nhiều khi em thổi về như một làn gió, nỗi bận bịu của anh bỗng mát thơm như rừng núi xuống gần; ta vội vàng tươi nở mau mau, nhưng Tuổi Nhỏ ơi, em đến không nhằm giờ, lắm khi lại hóa phiền nhiễu. Ta than thầm: " Xứ ấy đẹp sao!", rồi ta phải đuổi em và chim bướm của em ngay. Mắt lại nhìn cái cuộc đời cho thật kỹ, tay lại nắm những sự đời cho thực chặt, để mà sống chứ, nực cười thay! Và trong lúc làm người lớn, ta thừa biết rằng chiều nay, ta sẽ khóc em, hỏi em ở đâu, đòi em cho được; nhưng than ôi, trẻ con làm nũng với mẹ, chứ ai đâu làm nũng với đời!
    Kể chi những cái bụi đó, em nhỉ! Đêm đã khuya, trăng thêm ngà, Tuổi Nhỏ mỉm cười đi, cho ta được vui. Ôm em trong lòng; trái tim quá khứ của em nhịp nhàng với lòng ta chạy chậm, ta rửa linh hồn cho sạch, để em đừng chê...
    Tôi từ em nhỏ của tôi, tưởng tôi còn nhỏ. Bóng trăng phập phồng trên ngực. Năm canh lờ mờ quanh mình. Tôi nằm giữa tuổi xưa, thấy mình mười sáu, mười tám, đôi mươi, tay chân bằng mầm, mắt bằng hồ, lòng bằng lửa, miệng như hoa....
    Đêm thanh suốt đêm, ai có ngờ đâu trời cũng sáng!
    Mặt trời sắp mọc, đất thành thị sắp chuyển tiếng chân, xe tầu sắp rúng cả cửa nhà, cái máy đời sắp mở toàn tốc độ. Dậy, dậy, tôi ơi! Kỷ niệm chực biến! Hình bóng em nhỏ sắp tan! Thôi, em đi, ta ở, ta dậy, em về; thà xa nhau trong chút bóng trăng tàn, để phút ly biệt còn đượm phấn xanh, chứ không chịu chia phôi giữa bụi bặm ồn ào, làm mất cả thiêng liêng của nỗi luyến tiếc. Hỡi em Tuổi Nhỏ, giã từ, từ giã! Ly biệt, biệt ly! Níu em nói chưa dứt lời, em đã đi mất!
    Mặt trời đỏ rực, đời chiếm cả mọi nơi rồi. Tôi sắp vào cho cái máy cuốn lôi, chân bước đi, lòng còn ngoảnh lại. Em Tuổi Nhỏ! Xa nhau rồi, giờ lại gặp nhau; gặp nhau thêm lần này, lần sau có gặp nhau chăng nữa? Bao giờ mới đến lần sau? Em chịu về thăm anh chăng? Ngày mai soi gương, có tình cờ thấy hai ta chung một bóng?
    Ta ở lại một mình. Thời gian đẩy sau lưng, cuộc đời kéo trước mặt, chân trái rời xa thời nhỏ, chân trước bước vào thời nào đây? Ta nuốt đắng cay, cười gượng mà để cho hoa tàn, mà mong có trái đậu; hôm nay ta xua tuổi nhỏ để khỏi chậm chân trong cuộc thế; một mai sự đời dẫu dãi (?), lúa gặt, việc xong, chạy đi tìm em, em tan mất rồi!
    Thời gian lạnh lắm, cái gì vào đó mà còn được đâu! Hôm nay còn gặp tuổi nhỏ năm ngoái, năm sau tuổi nhỏ chắc đã mờ bóng; vài năm sau nữa, ôi thôi, em chết thực rồi! Nhớ mà thỉnh thoảng về thăm anh , em nghe; chớ vội tan trong thời giờ, mà để anh già cỗi. Giã từ!
    Ly biệt! Quá nữa lòng ta đã mất với em! Bệnh tê liệt sẽ chiếm dần trái tim; ta đứng đây, nặng nề ,vững chãi, chen chúc, tị ganh, để sống với đời....
    Giã từ! Từ giã! Ly biệt! Biệt ly! Các bạn ơi, có gặp tuổi nhỏ của tôi ở trên đường cái???
    ***

  4. #3
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Phấn thông vàng
    (Xuân Diệu)

    Hoạ sĩ đến đó, trong giờ đẹp nhất của buổi chiều. Trưa đã đi, ngày chưa ngả, sắc nắng ở giữa mầu vàng héo và mầu đỏ tươi.

    Ấy là một buổi chiều hè, khi nắng chín muồi nhưng còn lâu chưa rụng, ngày như đứng sững để cho sắc vàng đừng trôi chảy hay đổ xiêu; một sắc vàng không rực rỡ nhưng nguy nga, tưởng đã yếu nhưng thực mạnh thầm, lâu dài ngâm nga ở trong không khí.

    Hoạ sĩ mê mẩn làm sao! Rừng thông to lớn, chân vững trồng, tiếp nhau không hết. Buổi chiều vàng, có lẽ ở đâu thì chỉ xinh đẹp; ở đây rừng thông, chiều lại thêm lực lưỡng; sư sống không phô bày rõ rệt quá như trong buổi sáng hay buổi trưa, nên thịnh vượng mà có duyên.

    Dừng chân đã được một chốc, nhìn lên trời và ngắm chung quanh, hoạ sĩ nghe trong lòng thơi thới. Linh hồn chàng nở dãn, lập tức cái giá đặt xuống đất khung vải để vừa tầm, và hộp màu mở ra. Chàng bắt đầu hoạ.

    Chiều với rừng lặng lẽ; nhưng sắc vàng phảng phất âm thanh, nắng là một sự hiển hiện rõ rệt và điều hoà, tưởng có thể gõ vào không khí ở trên đầu để nghe sự lặng im rung rinh, xao xuyến.-Có lẽ ai nấy cũng đã gặp chàng hoạ sĩ tóc đen ấy chứ; nếu không thì hãy tưởng tượng đi, và luôn tiện, hãy hình dung cảnh rừng thông. Cảnh có lẽ ở bên tàu, và người có lẽ ở bên tây, nhưng chuyện này không cốt nơi chỗ ở, hay cốt chỉ có một chỗ ở: lòng người.

    Chàng trai trẻ đứng quệt những màu lên vải, đôi mày nhíu lại chăm chú vào tranh.

    Nhưng chàng không thể không cô đơn, khi thấy rừng đẹp, hình thông bóng nắng sẵn sàng làm khung cho một cảnh tình tự. Và lần này, chàng lại buồn rầu thêm một lần nữa.

    Chàng không xoá được trong lòng chàng một hình ảnh. Ba hình ảnh thì đúng hơn; nhất là hình sau cùng, nõn nà mà đơn độc. Thanh niên của chàng quá xấu số với tình yêu; ba cuộc tình duyên chỉ để lại cho chàng những đắng cay.

    Lần đầu, người chàng yêu chỉ coi chàng như một người bạn, thua nữa như một người anh. Lần thứ hai người ta lãnh đạm hẳn với chàng. Giá ai đâu gặp cảnh ấy, họ sẽ thôi yêu là xong. Chàng, chàng vẫn dõi theo không chịu thả. Chàng nghĩ rằng hễ yêu thì sẽ được yêu lại, đâu biết rằng sự cố nhiên của lòng mình không cố nhiên chút nào cả, đối với đời.

    Và mất bao nhiêu thời giờ, những mơ ước hão, những nhớ thương hoài, những sự gây dựng không đâu của tình yêu bất mãn. Rồi có ngày cũng phải hết: người ta đi lấy chồng.

    Đến lần thứ ba. Sau khi đau khổ ê chề, lòng trẻ trai lại thư sống với mùa xuân, bởi vì mỗi khi đi vẽ ngoài đồng, hoạ sĩ nghiệm rằng lá non mũm mĩm quá. Chàng lại thấy tình yêu mượn hình một người tuyệt sắc, một nữ thần có mái tóc óng dài và thân hình như tượng xưa.

    Người yêu mới cũng yêu chàng. Khi nàng ấy vừa mỉm nụ cười đầu tiên, chàng nói; đời chàng đã tới đích; và khi nàng mở lời dịu ngọt, chàng biết tình yêu của mình đã trọn vẹn về người này. Hoạ sĩ mê đắm quá; nàng mới tỏ ý cùng yêu mà chàng liền tưởng đó là lời hẹn đời kiếp với nhau. thực chàng chỉ đợi một chút yêu trả lại để tung cả linh hồn bị nén bấy lâu, huống chi vị nữ thần của chàng " cũng yêu chàng lắm". Hai lần thất bại, chàng hoạ sĩ đa tình - một thi sĩ không làm thơ- đâm đầu vào tình yêu, không thể đắn đo gì, cũng như kẻ bị nhử nhiều lần, bèn quyết xông vào cướp lấy bánh. Kẻ khác đời không khi nào giao thiệp với người thường và khỏi chếch mếch, nhất là trong chuyện tình. Họ ở cao quá chăng? Có lẽ... "Và sắc đẹp chỉ làm bằng cẩm thạch", câu ấy dường như đúng với người giai nhân. Sau bao phen ráng hợp nhau, chàng hoạ sĩ phải ngậm ngùi rời nàng, không muốn kéo dài sự sai lạc của bản đàn nữa. Hai người rất muốn chung hợp, song đã không ăn ý, thì thà rời nhau để còn có thể nhớ lại mà thương nhau. Nếu cố gắn, e rồi đến ghét nhau mất. Và chàng đi, hết chốn nọ đến chốn kia, dạo nỗi bất mãn của mình qua nghìn sông núi. Chàng tự nói đi tìm danh sơn thắng cảnh, nhưng thực chỉ đem nỗi thất vọng đi giữa thế giới của cảnh và của người. Chàng thấy mệt rồi, lòng mệt mỏi và trống không như một toà lầu bị cướp.

    Chàng đã trút bao nhiêu âu yếm còn lại - còn lại nhưng vẫn nhiều lắm - cho vị nữ thần của chàng , và chàng phải thấy rằng có khi linh hồn không đi đôi với nhan sắc. Lòng chàng mệt mỏi; ba lần cho, ba lần mất, dốc cạn hết cả nhuỵ lòng. Những kỳ hương dị sắc của tình chàng đã trút vào đâu đâu, bay đi trong một luồng gió rủi, để chàng thất tình như một người triệu phú bỗng dưng chỉ còn hai bàn tay không.

    Và chàng đi, và chàng đi, vì mỉa mai thay, chàng vẫn còn khá tiền để trả những chuyến tàu. Và may sao chàng đa tình kia lại là một hoạ sĩ. Những tranh chàng vẽ, dầu rằng đẹp, song không có tinh thần sự sống, sắc màu không hồi hộp niềm yêu. Khi người ta quá lên cao, người ta càng xuống thấp: chàng đã tin lắm, nên bây giờ chàng thấy hết, hết rồi. Chỉ còn đôi bàn tay chúng tô hình sắc một cách thờ ơ.

    Có đổi khung cảnh, mà sầu tình vẫn không thay; ba lần thất vọng! Chàng đã có tài phục sinh, nhưng còn gì đâu, sau lần mà chàng đã quyết là cuối cùng? Và những người chàng gặp trên con đường phiêu lưu vạn dặm phong trần chỉ làm chàng ghê sợ.

    Hai, ba năm rồi, hoạ sĩ thất thơ như vậy. Và ngày ấy, đến một chỗ trong xứ lạ, chàng nghe nói có rừng thông ở bên kia, bền vững đã lâu đời. Mùa hè rực rỡ, chàng bèn tìm đến vẽ tranh.

    Nhưng vẫn thấy lòng chàng đã hết rồi, - hay là chàng tưởng thế.

    Bởi vì chiều nay, lòng chàng lại tái phục sau ba năm giả vờ chết.

    Bởi vì trí ta ảnh hưởng đến lòng ta, làm sai sự thực rất sâu kín; chàng trai trẻ nghĩ rằng lòng chàng phải hết, nên lòng chàng tuy vẫn thầm còn, mà không lộ được kho sống giấu chôn.

    Bởi vì chiều nay, rừng thông vừa chín, và sự tình cờ xui chàng đến đó, và cũng sự tình cờ xui ngọn gió đến đây.

    Hoạ sĩ đương thờ thẫn kính sự lặng im của rừng, thì bỗng đâu veo veo những tiếng trùng trùng điệp điệp. Gió đổ qua muôn ngọn thông, tai hoạ sĩ nghe muôn tiếng một lần , gồm thành một tiếng rậm và nhiều , rào rào êm ái. Và ly kỳ thay! Phấn vàng ở đâu nhẹ tuôn bay xuống, quả là một trận mưa phấn vàng, vì tiếng thông reo đã giống sẵn tiếng mưa.

    Bấy giờ hoạ sĩ mới hiểu, nhớ lại những bài cách trí nói về màu hoa thông chín, gió tải nhị vàng đem đi, khiến dân núi gọi là mưa lưu huỳnh. Không gian đã thành một điệu vàng mênh mông; nắng vàng nhuộm vàng những cây, và phấn thông vàng lẫn vàng trong nắng.

    Nhị vàng của thông , ồ! tình yêu của thông đó chăng? Gió hơi se, rừng thông run rẩy, tiếng ngân hữu ý, khi trời thành một sự đổi trao: muôn cây chắc đương khoái lạc vì đương sống việc ái tình: đó là nhị thông thoát hoa đực bay tìm hoa cái. Rừng thông sung sướng, ái tình tản mạn ôm ấp không gian: ấy là rừng thông đang yêu... Tình yêu dồi dào gấp mấy của loài người! Phấn thông vàng không đi có chỗ có nơi, mà khởi hành một cuộc viễn du vô hạn. Gió chở đi qua trời rộng, nhị của thông đầu rừng lại đến gặp thông cuối rừng, và tất cả nhị của thông rừng này đi đến một rừng thông nào khác. Hoạ sĩ bất giác nghĩ đến những quả bắp nếp khi nhỏ chàng ăn, miệng vừa nhai, trí vừa không hiểu sao ở giữa những hạt trắng tinh lại có lỗ chỗ những hạt đỏ khác màu. Có gì lạ? nhị hoa bắp tẻ đã bay đến trong vườn bắp nếp. Tuy nhiên vườn nhà bên cạnh không có một cây bắp tẻ, có lẽ suốt cả làng cũng không có một cây bắp tẻ nào, nhưng ở xa, rất xa xôi, thế nào cũng có những bắp tẻ đã cho nhị phiêu lưu trải ngàn dặm đẻ dến thành những hạt ngọc vàng nạm giữa những hàng ngọc trắng.

    Tình yêu của loài cây xa xôi, viễn vọng như thế, không tính toán gần gũi như của loài người. Hoa thông để nhị vàng chảy ra tự trong lòng, và chỉ biết chừng ấy có một việc, là yêu, là gửi đi, là cho. Phấn thông sẽ đến, sẽ không đến? Kể làm chi!

    Nhị vàng mênh mông tràn đầy, dư dật cùng nhau viễn hành, rắc vàng khắp nơi. Phấn thông vàng đi đến sự vu vơ. Có lẽ ở đằng chân trời, một rừng thông chưa chín hoa, đang đứng chờ nhị của rừng thông này đến. Cũng có lẽ bên kia trời, chỉ có sự vô địch của một làn mây.

    Gió đem đến giữa lòng ấm áp hoa cái, thì nhị sẽ thành những quả vĩnh viễn đời đời, mà gió đem ào sự trống rỗng hay vào chốn bùn lầy, cái ấy tuỳ lòng gió.

    Vả lai, tình yêu có bao giờ mất! Phấn thông vàng không gặp hoa cái chăng, thì phấn cũng đã làm lộng lẫy không gian trong một buổi chiều nọ. Sự phung phí đã thành mỹ thuật. Trời đã thêm xinh đẹp, phấn thông vàng không hề uổng công.

    Và chàng hoạ sĩ đã ngửng đầu hứng lấy bao nhiêu nhị vàng từ trên toả xuống trên mái tóc đen, và chàng đã mở lòng nhận lầy bài học ngụ ý trong bài thơ của phấn thông vàng. Ờ, sao chàng không phung phí như thông? Sao chàng nghĩ chi đến sự thiên hạ nhận? Chàng yêu, không đủ sao? Thấp thỏm hơn sự chọn lựa, tính toán, yêu để mà được! Những tâm hồn như chàng phải chỉ thấy có tình yêu và không nệ đến người yêu. Chàng không xấu, không già, tuổi trẻ và sắc đẹp của chàng xứng đáng với tình yêu lắm, và lòng chàng: một suối ngọt, một vườn thơm.

    Miễn lòng chàng yêu; miễn tình chàng đẹp. Gặp lòng một tri kỷ, tình chàng sẽ ấm áp, gặp sự vô tri của lòng một người lãnh đạm, tình chàng sẽ lạnh lùng. Nhưng có bao giờ hết đẹp đâu! Sao chàng lấy cớ thất bại để giảm mất thú yêu, để làm sai lạc tình cảm? Đến nay không, đó là công việc của gió; đời là một cuộc đánh số, thì ái tình cũng là một sự rủi may.

    Mà rừng thông kia có bao giờ không trái? Hoa đã gặp hoa, tình đã gặp tình. Nhờ phấn thông rắc nhiều, nhiều quá sự cần thiết. Nếu phấn ít thì sự mất mát sẽ thua thiệt, nhưng phấn hằng hà sa số, thì vẫn có một phần khá lớn đến nơi.

    Chàng thất bại ba lần; lần thứ tư sao lại chẳng là một lần thắng cuộc? Sao chàng không thử mười lần, một trăm lần nữa? Mười phen yêu, ít nữa cũng hai phen gặp, một trăm phen yêu đã cho ta hai mươi phen gặp rồi. Và vẫn cứ còn đủ một trăm tình yêu.

    Chỉ sợ ta nghèo, không đủ tình để phung phí. Ta không thèm nghĩ sự thiên hạ cho lại, nhưng ta cứ cho, tự khắc thiên hạ cũng đem đến cho ta. Mà nếu thiên hạ không cho, thì đã sao chứ? Phấn thông vàng đã làm đẹp không gian, tình của ta sẽ thêu mộng cho tấm vải xoang xĩnh của cuộc đời, bầu trời sẽ vang rộng những tiếng đàn hát, những phấn vàng của lòng yêu; và cuộc đời, nhờ bọn đa tình, sẽ kém bề hững hờ nhạt tẻ...

    Trời ơi, chàng hoạ sĩ sung sướng quá khi nghĩ xong những điều đó, vội vàng chạy về quán trọ để rồi tìm lại cuộc đời, lăn vào sự sống mà yêu, yêu... mà cho, cho tất cả lòng tươi thắm của chàng, ba năm ròng chàng tưởng đã cạn rồi, nhưng kỳ thực vẫn là một nguồn vô tận...

    Và khi những bước hồi hộp của chàng trai chạy đến cuối rừng, chàng xuýt mê ngã trên cỏ xanh, vì thấy trên trời bao la, phấn thông vàng đương bay lan trong tám hướng của cõi đời.
    ***

  5. #4
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Chó mèo hoang

    Thà con cọp trên rừng hay đàn cá dưới biển, chúng nó sống như chúng nó sống, cứ tự nhiên, như cỏ nội, hoa đồng. Chúng không cần loài người biết đến, họ có hay không thì chúng cũng chả dính líu gì, có họ mà lại hay hơn! Chứ giống chó, giống mèo, nếu ta không nuôi thì nó biết làm sao? Ừ, chúng đi làm gì?
    Những chó mèo hoang không thể lại thành chó sói hay mèo rừng. Chúng đành phải thất thơ thất thểu, rách rưới, lang thang. Người ta phải nuôi, có một bổn phận phải nuôi bọn nó, nhưng người ta không nuôi. Vậy thì thôi, ai bắt người ta cho được?
    Những con vật ấy đã nhiễm thói ăn cơm với cá, quen tính ở cậy ở nhờ, nương tựa, ỷ lại vào những gia đình, để bắt chước những điều văn minh. Chúng đã qua lại trong nhà cửa, đụng chạm với những bàn ghế, chung chạ với bếp núc. Và không thể tự mình lo đủ, vì đã mất bao nhiêu tài cán trời cho.
    Không ai nuôi, bọn nó đi hoang; chúng bơ vơ, cực khổ, chúng đói khát, dơ nhớp, chúng thất nghiệp.
    *
    * *
    A, những con mèo mắt sao, mắt ma, mắt giếng thẳm, bí mật như xứ cổ Ai Cập! Chúng rút mình lại, kêu một tiếng rù rù đâu từ các lỗ chân lông phát ra, lấm chấm nghe như gồm bằng rận nhỏ. Chúng hư thân, mất nết lắm, cái bọn mèo!
    Khi Sơn còn học vần quốc ngữ ở nhà, mỗi lúc gần bữa ăn, mẹ Sơn bảo:
    - Sơn, đi lấy cơm cho mèo ăn trước, kẻo đến lúc người ta ăn, nó nhảy ngay lên, đứng trên bàn.
    Cơm xéo thật rời, chan nước thịt, lại bỏ thêm cá vụn, đựng trong cái chén sắt tây mới tháng trước em Sơn còn bưng ăn. Sơn trông mà bắt thèm đi được. Thế mà con Mun lè cái lưỡi hồng chỉ liếm vài miếng, xơi hết cá rồi thôi. Nó ăn sang! Nó làm bộ! Cho ăn tử tế thì không chịu. Để rồi đi ăn vụng, sướng hơn!
    Nó lại còn làm biếng nữa. Trong bốn tháng trời nuôi nó, nó chỉ bắt được có một mẩu chuột tí hon. ấy vậy mà khi xin nó về, mẹ Sơn xách tai nó giơ bổng lên cao thử xem tính nó siêng hay nhác, thì con Mun co mình lại, quắp chân vào, kêu eo éo, ngó sao dễ thương quá! Làm cho cả nhà tưởng nó sẽ siêng.
    Sơn cho nó ăn cơm lâu ngày cũng chán. Sơn không chịu nổi công việc ấy nữa. Trước người ta quí nó bao nhiêu, bây giờ nó hư bấy nhiêu. Mặc xác nó! Miễn là giữ gìn các thức ăn, đừng cho nó ăn vụng. Nó muốn đói thì cứ đói, mà muốn no thì bắt chuột lấy mà ăn!
    Thế rồi con Mun đi hoang, theo bạn theo bè. Nó đi lúc nào không hay, nhẹ nhẹ bốn chân cao su của nó.

    Nhưng một sáng sớm cách đó ít lâu, ở đống gỗ đầu hiên, Sơn nghe có cheo chéo những tiếng mèo kêu, nhão ướt và inh ỏi. Thằng Được, một đứa ở nhỏ, kể lại với Sơn, giọng quan hệ bằng chuyện sinh hoàng tử:
    - Con mèo bụng to gần sát đất vẫn đến nhà ta; hôm nay đẻ rồi. Năm con! Nó gầy xóp ve, không có sữa nên con nó la nheo nhéo.
    Thế có gì hay? Song thằng nhỏ nói giọng rất thầm kín làm cho Sơn tò mò.
    Sơn chạy ra xem. Mấy mẹ con ở trong hốc nào, tìm mãi không thấy, chỉ nghe tiếng rên la. Bọn mèo sơ sinh thi nhau réo to, trẻ con khóc không bằng. Sơn thương ngay. Thực lòng Sơn tội nghiệp chúng nó lắm.
    Và Sơn liền được dịp che chở: chính trưa hôm ấy con mèo mẹ đến luẩn quẩn dưới bàn ăn cơm. Không biết nghĩ sao nó cứ đụng vào ghế Sơn ngồi. Sơn biết ý, lén bỏ xương cá xuống đất. Cái ấy cấm ngặt. Mẹ Sơn đã dặn: "Đừng bỏ xương xuống, nhớp nhà, và dậm lủng chân". Nhưng con mèo và cả gia đình nó đương đói đây này, quí hóa gì cái xương mà tiếc với nó?
    Mẹ Sơn bắt được Sơn bỏ cả nửa con tôm xuống dưới bàn. Bà nhìn theo xuống, thấy con mèo. Bà nói:
    - Mày nhịn ăn mà nuôi nó! Làm thế nó quen môi đến hoài, rồi rũ lông vào đồ ăn cho người ta ho lao!
    Ăn phải lông mèo thì ho lao! Ghê chưa?
    Mẹ Sơn còn giảng với những người khác:
    - Không phải vậy là thương chứ. Đồ mèo hoang, chỉ tổ ăn chùng!
    Tuy thế, sau bữa ăn trưa, Sơn lén vét một chén cơm cho con mẹ khốn nạn. Sơn lại còn nói mơn nó:
    - Ăn đi, ăn mau, về mà cho con mày bú!
    Có phải tội nghiệp hay không? Mấy con mèo mới đẻ, nhỏ yếu, khát sữa, rúc miệng nhai nát vú mẹ mà chẳng nước gì. Trách sao bọn nó đừng la. Nghĩa là nó khóc theo tiếng của nó.

    Tuy mẹ Sơn nói hung hăng, nhưng bà không rầy Sơn tốt bụng của bà nữa. Ngày nào con mèo lạ cũng được no. Bà lại còn vẽ cho Sơn:
    - Cho nó vừa vừa, kéo nó bỏ dư, uổng hột ngọc trời. Người ta nói "ăn như mèo ăn ", con lấy chi nhiều cơm vậy?
    Rồi thì một hôm - chúng nó vào như mèo chả ai biết mà để ý - toàn chùm mèo con nằm gọn trên cái ghế mây. Chúng lại dỡn nhau, con này nhảy lên con kia, làm dáng, khoe duyên, nằm xuống, đứng lên, ngừng lại, chạy vòng, tưởng đâu nhà của Sơn là nhà của chúng.
    Đẹp nhất có con tam thể. Ba màu óng ánh, trắng, đen, vàng. Chao ôi, sao nhỏ nhẻ, mũm mỉm, yếu ớt, dễ thương! Sơn nhịn không được, bồng nó vào tay, vuốt ve, nưng nịu. Chị của Sơn, cô Thư mười hai tuổi, bấy lâu hờ hững, hôm nay lại âu yếm hơn ai. Cô nhỏ bồng lên mà thương, thương lộ rõ nơi bàn tay mơn lông, thương quấn quít nơi hai chân nhảy nhót, thương giòn giã nơi miệng nói, thương, thương!
    Mẹ Sơn ban đầu nghìn nghiêm hai chị em:
    - "Mèo vào nhà thì khó, chó vào nhà thì giàu". Bay liệu đấy! Cơm đâu mà nuôi sáu cái miệng chỉ giỏi ăn mày?
    Chị Sơn nũng nịu:
    - Mẹ ạ "chó vào nhà thì nghèo, mèo vào nhà thì giàu" chứ! Có phải không mẹ! Phải không Sơn, câu tục ngữ xuôi hơn, đúng hơn chứ?
    Mẹ tát yêu vào mặt chị. Giỏi thực! Chị Thư học đâu mà nhiều tục ngữ thế? ứng đối như trạng Quỳnh.
    Rồi nhà lăng xăng lên vì những tiếng "meo... meo..." của năm sáu con mèo và của hai đứa nhỏ gọi mèo. Cho ăn, tắm rửa, chăm sóc, vuốt lông, dỡn, đùa, nhìn, vui quá!
    Một lần mèo chạy vào chỗ cát, mũi còn ướt, nên dính cát đầy. Sơn phủi không hết, đem cào rửa, đến nỗi rách da non, thấy cả thịt hồng, Sơn lẻn vào buồng mẹ, lấy ve dầu tăng dót ra bôi.
    Thấy mũi mấy con mèo nhỏ vàng khè, chị của Sơn lè lưỡi xuýt xoa, tưởng như mũi mình đương bị rát. Nhưng Sơn giảng nghĩa cho chị:
    - Chị ạ, mèo nó không biết rát như ta đâu.

    ... Lòng sốt sắng nguội dần, nhất là trong lòng con trẻ. Mấy con mèo càng ngày càng khuấy nghịch. Chị Sơn ngồi tập khâu vá, thì chúng tung rối cả cuộn chỉ; Sơn học, thì một con nhảy lên nằm gọn trên vở mới, nhớp tờ giấy trắng tinh. Cho ăn chung thì phải lấy cả cái đĩa to, đĩa ấy bận đơm cơm cho người nhà; cho ăn riêng thì phải bốn năm cái chén; mà bỏ cơm giữa đất, thì phải quét nhà.
    Và càng lâu, càng lớn, chúng ăn càng tợn; mà thức ăn chúng lại kén chọn như ông hoàng. Nhà Sơn có giàu, có sang đâu!
    Đã mấy lần, Sơn nghe thằng Được cau có. Bởi vì mèo ăn hết cơm, hết cá, hết phần của nó đi. Nó ăn sau nên nhà trên ăn còn thừa món gì, thì mèo đã hưởng trước nó, đến lúc bưng xuống thì bao nhiêu đĩa đã sạch bong. Và, hỡi ôi! Mèo lại còn ăn lẫn của nó nữa! Một hôm, mẹ Sơn cho nó một miếng cá - ngon lắm, cá thu - nó chưa ăn, chạy ra giếng xách nước; trở vào: đau đớn chưa mèo phỗng mất của nó rồi!
    Té ra bọn mèo này ăn vụng! Rau nào sâu nấy. Chị Sơn đã bắt đầu nghĩ cách người lớn:
    - Đồ con chửa hoang, làm sao mà nên được! Hư là phải. Cái giống mèo hoang...
    Thấm thoát qua nửa tháng. Bọn mèo hành hung, rối loạn. Giường nào cũng leo, bàn nào cũng trèo, ghế nào cũng ngồi, không còn thứ bậc chi nữa. Nhỡ mình chúng có bọ chét, có phải lây sang người ta không? - Và ăn vụng cũng không chừa; quen môi chúng càng gian giảo gắt. Lại còn la inh ỏi; ban sáng, ban trưa, ban đêm người ta ngủ, lúc nào cũng mè nheo.
    Con mèo mẹ ra gương xấu trước nhất. Phải trị. Đầu tiên, mẹ Sơn bảo đánh, Sơn lấy một cái lạt tre mỏng như cái tăm. Lần thứ hai một cái que lớn hơn. Lần thứ ba, cái cán quạt lửa. Lần thứ tư, con mèo lỳ lợm quá. Sơn phải dùng cả đến cái thước gạch. Thế mà mẹ Sơn còn mắng:
    - Mày đánh không thấm da nó! Phải đánh mạnh, đánh chết đi cho chừa!
    Sơn đánh không nỡ tay. Sao lại bắt Sơn làm công việc trị mèo ấy? thằng Được liền vội vàng bái lĩnh. Nó thi hành ngay với chiếc guốc, với cây củi. Nó cứ đánh bừa, gặp cái gì trong tay, là nắm lấy mà đánh mèo, không biết nó có thù gì to lớn thế. Sơn xin nó đừng đánh, nó không nghe. Sơn bảo nó đánh nhẹ, nó chỉ cười. Thấy mà đau giùm cho mấy con mèo; thằng nhỏ nhẫn tâm quá! Nhưng mèo hư tột bậc, cứ ăn vụng hoài. Sơn không có lý gì để bênh vực. Chị Sơn đã bỏ chúng, chỉ còn Sơn bịn rịn, - sao lòng Sơn lại yếu hơn lòng đàn bà?
    Bây giờ ai đánh mèo, Sơn không dám cản, ai đập guốc nhằm chân mèo, Sơn chỉ nói nhỏ trong miệng: "tội chưa" - Bọn mèo ơi, ngoan lên thử nào! Bay hư hỏng thế này thì xấu hổ cho Sơn, người đã rước bay về; bay làm cho Sơn không thể giữ bay ở lại mà nuôi nấng.

    ... Gió nồm bỗng thổi lên: thả diều sướng biết mấy! Sơn không giữ mấy con mèo nữa, ngày độc ác ấy, mẹ Sơn bảo thằng Được bỏ lũ mèo ở miếng đất hoang tận đầu thành phố, rất xa, cho chúng khỏi tìm cách về. Cách giải thoát này hoàn toàn nhất, không còn kế nào hơn. Còn nhớ thằng Được - thằng nhỏ sao nỡ quên rằng nó cũng tập tàng như rau tập tàng, đẻ ở bên ruộng kia, nếu không đẻ nơi đống gỗ - Thằng Được xách một tay hai cái tai, một tay ba cái; bọn mèo van nỉ, nhưng nó thì cười. Và con mẹ thì nó mượn một đứa nào đó ôm theo. Nó còn thêm:
    - Tao vứt đủ cả sáu chúng mày hủ hỉ mẹ con với nhau. Đừng mong về ăn vụng nữa?
    Tiếng "ăn vụng" kéo Sơn lại với niềm sắt đá; Sơn phải nhớ sự thật; nhớ bao nhiêu điều hại bọn mèo đã gây ra; dầu Sơn có thương đến đâu, cũng không ôm mấy con mèo lại được.
    Ngày nay lớn lên. Sơn không chỉ thương sáu con mèo xấu số đã cùng sống với chàng trong một thời hạn, ghi lại nơi tay chàng một cảm giác mịn màng ve vuốt, lưu lại nơi mắt chàng cái ký ức của những con mắt tinh ma.
    Chàng nghĩ đến tất cả những con mèo sống trong lối, lút trong đêm, trùm trong bí mật ghê sợ của một cuộc đời vô định, khác xa những con mèo sang trọng trong những gia đình trưởng giả, nằm chuốt lông trên chiếc gối bông êm ấm, hình bóng loáng như hàng lụa bao ghế hay gạch hoa lát nhà.
    Nhiều phen Sơn đứng trên gác trọ, nhìn bao nhiêu nóc nhà chen lấn, lúc nhúc, gập ghềnh. Những nét ngớ ngẩn vì rắn rỏi, những đường gãy hẳn một cách thô bạo, mái bằng phẳng hay trồi lên sũm xuống vì lợp kiểu âm dương, vôi mốc rêu, ngói cũ càng, những màu nâu hay đỏ, những sắc xám hay xanh: tất cả làm nên một cảnh tượng kỳ dị, buồn cười, một cảnh tượng riêng khác.
    Sơn nói: đó là thế giới của bọn mèo hoang. Chúng chui trong ống khói đen, nằm trong máng khô nước. Chúng đi nhẹ như sự rụt rè, chúng nhảy mau, chúng lượn nhanh, chúng vọt cao, chúng bổ thấp. Chúng khinh luật thăng bằng, chúng không sợ chiều dưới, và không nể chiều trên. Chúng không thể ngã chúng không thể té. Có phải chúng nó sống trong một cái đời ở trên cuộc đời hay không?
    Song chúng tìm đâu ra ăn? Bảo là ăn vụng, thì tiện quá; cái hay, cái khó ở nơi cách ăn vụng. Đánh cắp thế nào? Rình mò ra sao? Chờ ban trưa, đợi ban tối? Nào có dễ gì ăn vụng! Người ta không chịu mất một con tôm to hay một miếng thịt nhỏ mà không báo thù bằng một thanh củi nặng làm gãy xương sườn. Có nhiều đêm, Sơn được gặp hai chấm sáng trong bóng đen, thôi miên, ám ảnh. Có những chiều, Sơn bắt gặp một thoáng mèo vụt qua rồi biến không biết nào nơi đâu. Có những trưa, Sơn trố mắt tha hồ trông những con mèo hoang gầy bẹp như không có bề dày, ngủ phơi dưới nắng.
    Dầu đói khát, dầu phải tìm vỏ tôm hay xương cá ở nơi thùng rác, dầu phải đánh cắp những bộ ruột gà người ta vứt đi, dầu khổ sở thế nào, nhưng con mèo hoang vẫn giữ lấy vẻ quý phái – quý phái chứ không trưởng giả. Cách đi đứng, cách nhai nuốt, cách nâng nhẹ những vật thừa thãi đều có duyên của những bà hoàng sẩy ngôi hay những cung nữ hết thời. Chúng bước dè dặt, không muốn dính mình vào đất dơ, chúng có cái đặc tài giữ chân cẳng trơn tru, dù phải dậm qua nhớp nhúa. Và hễ thong thả, chúng liền tỉ mỉ tắm gội. Những cơn đói không bắt chúng lành tính sạch sẽ; tuy là mèo hoang, chúng vẫn còn là mèo.

    Và họ cũng không chừa cắn nhau, những bà tướng có râu mép. Họ không bỏ hẳn cốt hùm beo của giống giòng. Chân gầy của họ khéo dùng những móng trắng mỏng, nhọn quấn lại, giữ bén và kỹ hơn gươm trong chuôi.
    Họ bấu nhau thì ít, gừ nhau thực nhiều. Họ gậm gừ, tiếng khô như khát, tiếng xóp như đói. Những tiếng căm giận, uất ức, đen ngòm, mếu máo như tiếng khóc của đứa hài nhi. Chốc chốc hai tiếng kình địch xoắn lại như quặn lấy nhau, nghe sợn sùng giữa đêm tối.
    Tiếng gào của bọn mèo hoang, xui ta tưởng đến những bãi tha ma, những quỷ địa ngục. Ta thường gọi "Mèo ma" những thứ mèo tợ hồ không phải là sự thật, những thứ mèo có lẽ là giả, là yêu tinh. Và ý chừng, tuy ta không nói rõ với trí ta, ta vẫn tin mờ mờ rằng đó là yêu tinh hiện hình giả dạng.
    Mèo hoang! Chuyện hồ ly thuở xưa chắc hẳn chỉ là bịa đặt; chỉ có các ngươi, chỉ có bọn mèo hoang mới thực là hồ ly tinh!

    Bọn mèo hoang tuy thế mà còn sướng. Chúng chẳng sinh ra để sống ngoại hạng, sống ngoài biên là gì. Chúng cao, chúng nhẹ, chúng ở thượng tầng như những nóc lầu chúng xem tợ đất bằng, như những chim sẻ chúng bắt ăn. Chúng có thuật tàng hình, biết làm một xứ riêng, ở đó mà meo, mà gào, mà khóc lên những tiếng hãi hùng cho bọn trẻ con - như Sơn khi còn nhỏ.
    Bọn chó hoang mới thực khổ.
    Bọn nó trung thành quá nên cứ luẩn quẩn chung quanh người. Bọn nó hiền quá, thật thà quá để người ta đánh một cách dễ dàng, rồi kêu những tiếng đau đớn như bị gãy xương và vỡ trái tim. Gồm bằng những con chó nhà nghèo, chủ đói không có ăn, huống chi là chó. Gồm bằng những mẫu chó đẻ bên bụi cỏ, lọt lòng ra rúc hết vú mẹ không được một chút sữa khô. Gồm bằng những con chó người ta quên nuôi, vì một ngày kia trong nhà bỗng có mười con hoàng anh hay một con vẹt. Gồm bằng những con chó người ta không đem đi, lúc đổi chỗ ở: chúng yêu quá, nương mùi tìm chủ, song đường xa thẳm, hơi đã bay theo gió mấy lần.
    Gồm bằng những con chó già. Gồm bằng những con chó đau. Và biết đâu? Gồm bằng những con chó cứng đầu, ghê roi vọt và sợ đọa đày, bằng lòng chết khổ để theo tự do, như chó sói.
    (còn tiếp)

  6. #5
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Chó mèo hoang
    (tt)

    Ban ngày, chúng đi lang thang, không biết dùng mình làm việc gì. Chúng không phải là loài biếng nhác. Nhưng không có sân, không có nhà mà giữ để sủa cho sướng miệng. Bây giờ chúng dám đâu hùng hổ với người ăn mày! Bởi vì chúng cũng đương đi ăn xin. Nhưng chúng chỉ có đôi con mắt để mà trông thôi, chúng không có lời để mà nói. Chúng chỉ có một bộ xương rất rõ, đếm được từng cái một, không hề che lấy bằng mảnh giẻ nào; nhưng chúng không thể van xin: "lạy ông, lạy bà, nhón tay làm phúc". ồ! lắm phen chúng ngứa miệng quá. Song lẽ nào lại quáu lên giữa đường, ở ngoài trời không; loài người sẽ đánh cho im, và chửi như... chửi chó!
    Những con chó nhà vẫn thường đến nhập đàn với chúng. Trong đôi giờ, chúng được quên rằng chúng là "hoang". Cả năm sáu con ngửi lông nhau, liếm mặt nhau. Một con theo đuôi một con, khác chi một người theo chân một người để xin tình ái. Chúng đứng hai con với nhau; sau khi đã mơ lẫn nhau rồi, hai bên ngơ ngẩn hai đường, mỗi đằng nghĩ một ý riêng...
    Họ không kể đến xã hội loại người; còn giữa bọn họ với nhau, thì họ không biết mắc cỡ. Họ rất tự nhiên. Bởi thế mới bị người ta đến quăng đá, ném đất cho, khuấy phá làm rầy, phạm vào tự do của họ. Bảo họ vào giữa sa mạc mà yêu nhau hay sao?
    Cũng rất nhiều lần cắn nhau dữ tợn, ồn ào. Những con yếu - đó là những con "hoang" - bị nhổ cả từng vạt lông, da sùi trắng hay cháy ứa máu hồng. - Nói hồng cho đẹp vậy thôi chứ máu của loại chó khô khan, đói khát, gầy gò, chỉ có thể bầm tím. Và có lẽ họ không còn máu để chảy nữa kia!
    Đó còn lúc khá. Lúc này mới chịu không nổi cho bọn vẩn vơ; tới giờ ăn, những con vật mập mạp, đầy đủ, béo tròn liền bỏ chạy về mừng ông chủ cũng béo tròn, đầy đủ mập mạp, đuôi ngoắt lia lịa, đầu quấn quít vào những ống quần. Chủ đánh cái nhẹ vào mỏ ác, và một đứa nhỏ ngoa mồm lên:
    - ấy, thưa cha, con Vàng nó chạy ra chơi với chó hoang, bẩn cả bộ lông rồi!
    - Thầy ạ, con Vện nó muốn hư như lũ chó hoang.
    - Con Ba Tô! Mày không được chạy rông như chúng nó.
    "Chúng nó" thì đương ngơ ngác nhìn theo. Đầu chúng cần được cọ vào một bàn chân; sườn của chúng nhớ một bàn tay ve vuốt. Và nhớ nhất, là cái bụng lép đáng thương, rỗng như những ngày trống không ở dọc đường.
    Chao ôi đói, đói, đói không rên được, đói đi không nổi, đói lử cả người, đói... Bọn họ lẩn thẩn lơ thơ, tìm những cái xương không thể rớt xuống tự trên trời, kiếm những miếng cơm mà đất không làm cho mọc lên. Trời ơi, được một cái xương to mà giòn, nhai nghe rào rạo! Ôi chao! Mùi thơm ngào ngạt ở trong bếp nhà kia đưa ra cùng với khói ngon lành! Nếu vào được ở dưới một cái bàn ăn, há hờ những hột cơm rớt xuống! Những cậu bé vụng về và hào phóng, mới tập cầm đũa hay ăn quà đã no, các cậu đi đâu vắng cả? Sao không làm mưa cơm xuống đầy đất, những hột cơm có ướt nước cá, nước thịt, nước tôm! Các cậu rất xa xỉ, các cậu đạp cả chén cơm cho đổ ùa, các cậu há miệng rất hẹp, cố ý *** cho con chó hai phần thìa cơm. Khi suốt ngày xơi bánh đã quá no, các cậu bưng chén cơm ra hè, mượn con chó của các cậu ăn giùm cho, rồi khoe với mẹ rằng các cậu giỏi lắm. Ôi, những cậu bé hay thương người như vậy, sao các cậu chỉ ở trong nhà!
    Ước mơ... Nhớ nhung... Thèm thuồng. Và đói!
    Húc mũi vào đống rác. Lè lưỡi trên bụi cỏ. Cào đất lên như những con gà. Con chó hoang cũng vẫn nhớ rằng không có gì trong ấy đâu, rác và cỏ, và cả đất nữa đều bị nó lục soát mấy mươi phen rồi. Nhưng tìm để mà tìm, để an ủi này lừa dối cơn đói mà thôi. Vả lại biết đâu ông trời của loài chó lại không rủ lòng thương mà cho gặp gỡ?
    Chiều chiều Sơn đi chơi, thỉnh thoảng gặp một con chó ngẩn ngơ giữa đường vắng, kiếm gì ở dưới đất, mùi dư hay hương thừa, vết không thấy của một miếng thịt hay bóng vô hình của một ngày qua?
    Gặp Sơn nhiều lần nên con chó quen người; nó đã đi sau, hít hơi của Sơn một cách ngọt ngào mà Sơn không để ý tới. Rồi một bận, nó cứ theo lỳ lấy Sơn, đuôi phe phẩy. Chắc bấy lâu, nó không được mừng ai, đuôi nó cần được dùng vào tình quyến luyến. Ai bảo rằng tâm hồn nó lại không đồng một cảnh khát khao yêu mến, như cô gái hay chàng trai trong tiểu thuyết tình?
    Thú thực rằng Sơn có hơi sợ chó. Đứng xa xem thì được; lại gần, nghe con chó giơ hàm răng, thè lưỡi ướt liếm vào hai chân, Sơn nhột và sợ. Khi nhỏ, học bài "Con chó dại", Sơn ghê rợn và hễ gặp con chó nào đuôi bỏ thõng, mắt ngơ ngác, Sơn liền nghĩ ngay rằng nó cắn chết người. Bây giờ, tuy Sơn biết con chó ấy không dại, nó chỉ "hoang" thôi; Sơn cũng đương còn chút sợ thuở xưa; con vật theo chàng, chàng cuốn chân, vội vàng nạt nó một tiếng lớn. Chàng muốn ù té chạy. Nhưng lại e nó rượt theo cắn chàng.
    Cái ấy không cấm chàng hết lòng thương con vật bơ vơ. Sơn thấy con chó buồn. Nó buồn lắm. Không ai thương nó hết,- nó biết đâu rằng Sơn không dám vuốt ve nó. Sơn sợ tuy rằng thương. Nó chỉ cúi gầm đầu xuống. Nó đi thất thểu không lanh lợi. Thỉnh thoảng nó ngẩng lên nhìn cái gì đâu đâu. Rồi nó lại cúi xuống đường, vừa theo mãi lấy Sơn.
    Nó buồn lắm. Nó đương buồn, hoặc có cớ, hoặc không cớ. Mà chắc trong hồn loài vật, nỗi buồn mới thực là vô căn, không hiểu bởi vì đâu và cũng không rõ là thế nào.
    Con chó kia còn biết dùng buổi chiều của nó để làm gì? Nó không biết. Nó không có thú tiêu khiển nữa. Nó một mình, - à không, nó đi theo Sơn.
    Và Sơn thì theo những ý nghĩ rất thương xót, đớn đau. Người ta buồn thì có thể đi chơi, ít nữa người ta cũng tự biết, chứ con chó sau chân Sơn, nó chỉ đương ngơ ngẩn, không hiểu cái gì lạ thế đè nặng nó như một lớp. Nó khó chịu, nó ngơ ngác, nó cầu cứu với Sơn.
    Nhưng Sơn không thể bồng nó vào tay, nựng nịu, mơn trớn nó. Sơn thương chứ không mến. Sơn tội nghiệp, nhưng lòng chua xót vô vị của Sơn không giùm cho con chó được tý gì.
    Rồi Sơn muốn dứt khoát cái dây tình cờ đến buộc lấy chân Sơn. Sơn đi nhanh để con chó hoang không theo kịp. Bấy giờ con vật bèn chạy lúp xúp, ô hay! Sao nó dính vào Sơn như thế!
    Nó còn chạy theo chàng một quãng xa, như ai bắn nó, đuôi ngoắt hoài, mũi không thôi ngửi vào chân Sơn, cách tỏ âu yếm giống hệt của loài người: người ta hít hương da thịt của bàn tay, của cánh tay, của đầu với tóc, với má, với cổ họng có những hốc nhỏ chứa mùi thơm...
    Con chó hoang đã đứng dừng, ngực lép thở mau mau, cái lưỡi thè ra một chút. Sơn đi nhanh quá, Sơn cũng không thèm quay lại nhìn nó cơ mà. Nó biết người ta ghét nó, nên phải dừng lại và trông dõi người đi.
    Nó đã xin lòng thương. Nó được lòng thương nhiều lắm, ngập cả tâm hồn người đã đành tâm bỏ nó. Nhưng nó không được nghe trên lông những ngón tay chạy dài, những ngón tay lượn ngược. Lấy hai chân, lấy một chân đè lên mình nó mà mơn trớn nó cũng được; nhưng không!
    Sơn bước đi, nhưng người ta đau đớn ngoảnh mặt tránh một cách thê thảm. Cũng như lòng Sơn, chân Sơn không thể nào nhẹ được, tuy chàng nhất định không ngoảnh lại, sợ gặp đôi mắt thảm thiết của cái linh hồn đầu đường xó chợ kia. Sơn rùng mình, vì chàng thấy mình đương dẫm lên tình của một con chó rách, dẫm lên trái tim tội nghiệp của một con vật tồi tàn. Và Sơn hoa mắt đi, tưởng chân mình dính xương, máu nát tan như xương máu của một con chó chết chẹt ô tô.
    ***

  7. #6
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Sợ
    (Xuân Diệu)

    Đôi mắt nàng nhỏ và Tàu. Mi chẻ hơi xếch lên, màu xanh trong không khi nào mở rộng để ngạc nhiên hay giận dữ. Và hẳn không có những chấm vàng điểm lửa nó làm cho người ta tưởng thấy những chiếc cổ thuyền chạy trốn "trên bể cả mênh mông".

    Những lông nheo dài óng ả, uốn cong lên, chỉ thêm một vẻ tương phản đặc biệt, xui những người nhìn càng bối rối thêm. Mắt đẹp cô Phi che dấu một linh hồn luôn luôn ở trong thầm kín mơ hồ.

    Mà cả đôi má hồng chỉ phơn phớt bình minh, cả nét môi chúm lại chỉ thắm vừa vừa, cả khuôn mặt nhỏ nhắn cám dỗ người, cũng á đông như cô Phi e lệ.

    Phi đã mười tám tuổi, nhưng vẻ đơn giản của nàng gần như là sự ngây thơ. Thực ra, nàng cũng đã biết yêu rồi: ái tình ở xã hội đời nay làm quảng cáo khắp cả mọi nơi, người ta thở nó cùng với không khí. Lòng nàng êm, êm biết mấy, mỗi khi nàng thêu đôi chim nhạn hay một cành mai trên áo gối, và dịu dàng đan hai chữ "Ngủ ngon". Nhưng Phi nghe ái tình như một bóng trăng; lòng nàng bảng lảng sương mờ, nàng cũng không đủ chú ý để gọi tên sự mới mẻ vừa đến trong ấy.

    Có một điều chắc: Phi không lả lơi, bồng bột. Nàng vừa lớn lên. Nàng ít nói, tuy hay cười, - cười vừa đủ để có duyên thôi. Nàng chỉ nhè nhẹ, thơ thới, không sâu sắc, đắm mê; nàng á đông, á đông từ đầu xuống chân, từ trong lòng ra ngoài mặt.

    *
    * *

    Và ấy đó, nỗi thắc mắc của người yêu nàng. Châu được Phi "thương", vì Châu đã bắt đầu tỏ tình một cách rụt rè ý vị. Thương hay yêu? ở Huế đây, người ta xô bồ trong một chữ nửa chừng. Kẻ tình nhân phải sờ trong giọng nói chữ thương, phải vào trong lõi của tiếng chập chựng thả một cách ngọt ngào, phải len và tìm gặp ý sâu, cũng như trong một chuyện Tàu, chàng trai rón rén luồn tay trong tay áo rộng của nàng duyên...

    Châu không láu táu như rất nhiều thanh niên ở Thần Kinh, họ đưa sự chòng ghẹo đế sự vô lễ: khởi sự yêu, chàng e ấp, giữ gìn, chàng làm hèn mọn để bớt tính kiêu hãnh tự nhiên. Mà nhờ vậy, không gì hợp với lòng Phi cho bằng lòng Châu, - lòng Châu khi bắt đầu yêu mến.

    Khi biết nhau, hai người chỉ cần trao đổi những lời đại khái "chúng ta trẻ, mùa xuân đẹp, và tình yêu thiêng liêng", nhưng khi sống dài ngày với nhau, trời ơi! Nàng không đồng ý với tôi nữa: mặt trời của tôi đỏ mà lại vàng, có pha một chút xanh và có hòa một chút tím, còn mặt trời của nàng thì chỉ đỏ mà thôi!

    Buổi đầu từ biết đến yêu, Châu và Phi đồng một niềm dịu dàng, êm ái. Có Châu, Phi khoan khoái, thấy sự sống dễ chịu và xinh hơn. Có Phi, Châu nghe tâm hồn phơi phới như một làn gió hẩy. Châu vừa là một anh lớn của Phi, vừa là một bạn ngoan, vừa là một tình nhân. Phi yêu Châu lúc nào không biết, đến khi biết, thì Phi đã yêu rồi.

    Châu thì biết lắm, chàng thấy rõ chàng yêu; cái đơn sơ của chàng chỉ là sự rụt rè, sự ngạc nhiên vì chưa tin được rằng có kẻ yêu chàng. Hai người hợp nhau lắm. Lúc đầu tiên,nhưng đôi cặp chỉ kịp nghĩ rằng người này yêu người kia, mỗi bên đều bận vì việc "có một người mến yêu", và chưa tưởng đến cách yêu mến.


    * **

    Sự rung động của nàng, Phi cũng biết đó là ái tình. Nhưng nàng yêu chính vì thấy lòng nàng thích trong bầu không khí mới này, cũng gần đồng loại với cái thích dưới một sáng trăng Nàng có tình một cách vô tình, như trẻ con, như đàn bà. Nàng không viển vông, không nghĩ ngợi, nhất là không biết đến cái triết lí hứng khởi của tình yêu. Yêu là dễ, yêu là thường: một cách ăn cơm, một sự đẩy xô của trời đất.

    Thực nàng không xét, không rõ; nàng phớt qua trên mặt,nàng không đến trong tim của ái tình. Vậy đó, nàng yêu như vậy đó, cũng như nàng lịa ngón tay đẩy cây kim luồn trong vải, kéo theo sợi chỉ trắng nó lẩn trong áo trắng; ngồi may mà không nghĩ rằng mình may...

    Mà sao nói được thứ mù mờ trong lòng Phi, trong lòng á Đông, vâng, của xứ á Đông nhác lười, bơi trong sự mang mang diêu diếu, làm việc cũng như nằm mơ, không dò la, lục soát, không tự biết, huống chi phân chất, giải phẫu tình yêu! Chả trách Châu buồn, ngay tháng sau, khi chàng đã nhiều bận gần Phi. Nàng yêu chàng chứ sao không; không yêu sao lại tiếp chàng, dầu phải dùng đến mưu mô dấu diếm. Không yêu sao lại nhớ, sao lại nằm chiêm bao; nói như Phi, "không yêu sao lại ...sao lại gì, anh biết lấy".

    Mà Phi yêu Châu, đó càng là một lẽ để Châu yêu Phi càng hung. Chàng bồng bột thanh niên, sung sướng hay âu sầu, chàng đều lộ mà không che. Và bởi vậy, có lần chàng đã chịu tiếng oan: lơi lẳng.

    Vẻ điềm tĩnh của Phi khiến chàng mất trí bao nhiêu lần. Phi đẹp, đẹp mà ẩn nhan sắc, đẹp bắt người ta phải tìm. Ôi, cái miếng đất ở trong linh hồn Phi, miếng đất chắc chưa ai vào được! Ôi, bí mật của bình yên! Lẽ nào lòng Phi chỉ có sự bình yên, nghỉ ngơi. Nàng không biết nàng, cho nên chàng nóng muốn biết.

    Châu thường buột mồm than vãn: "Có lẽ, có lẽ ta là một linh hồn âu Tây lạc giữa thế giới ác ý, thầm trộm, dấu che này, lạc giữa á Đông mù mịt như sứ chiêm bao, đêm lửa bừng nóng để làm sôi nổi một sự thản nhiên nó không sôi nổi bao giờ, đem gió băn khoăn uổng công xáo trộn những hồ đứng sững".

    Lời chua chát ấy Châu không dám ám chỉ về Phi, tuy đôi mắt u uẩn của nàng bóp lòng Châu một cách vô lý. Chàng ngó soi vào màu xa vắng của đôi mắt đẹp, làm cho Phi phải ngoảnh đầu nơi khác, và hỏi:

    - Cái gì thế, anh?

    *
    * *

    Bắt đầu từ lúc này, Phi thấy Châu có hơi kỳ lạ.

    Chỉ vì Châu không ngừng lại nơi sự êm dịu buổi đầu. Chàng yêu, chứ chẳng thương hay mến. Tình của chàng không như dòng sông thỏa mãn chảy vào trong một cái hồ rồi thì đứng lại để tự ngắm nghía sự bình yên. Tình chàng mãnh liệt đi phăng, tới luôn, tới trước, càng lâu càng rộng lớn, để một ngày kia ra nơi biển cả, được biết cuộc sống phong ba của những làn sóng không nghỉ bao giờ.

    Chàng quan niệm ái tình như một sự tiến tới: cho thêm, đòi mãi, yêu dấu thêm luôn. Chàng không hề ghì sự mãnh liệt của lòng chàng, nó bồng bột trong rượu, trong men, trong lửa hồng đỏ mãi. Chàng biết rằng hoa ái tình dễ nở dưới ánh mặt trăng, nhưng thế nào rồi cũng phải soi ánh mặt trời mới có những màu rực rỡ nguy nga.

    Phi, trái lại, chỉ có một tâm hồn đàn bà. Nàng ưa sự xinh xảo, sự vừa vặn, đều đều khuôn khổ như núi Ngự, sông Hương. Nàng thực lòng yêu "anh Châu" của nàng, nhưng tình cô thiếu nữ mơ hồ điềm đạm quá. Nàng sung sướng được Châu yêu, nhưng nàng không dám thấy Châu yêu đến bực nào. Nàng đoán rằng ở đâu đó - hay ở trong lòng người yêu nàng? - có một thế giới khác. Nàng bắt được một cảm giác riêng: tựa hồ nàng ngủ một đêm, bỗng thức dậy giữa một chân trời đặc biệt. Nàng bỡ ngỡ, nàng lưu lạc dưới trời mới mà nàng đã thấy được một cách mập mờ.

    Châu tha thiết quá, tình chàng rộng lớn và sâu xa, rất dồi dào, giàu có. Phi thấy chàng không giống Phi, tuy hai người vẫn yêu nhau. Phi bất giác nghĩ đến sự mênh mông, khi nghĩ đến tình của chàng. Phi giản dị, á Đông đến nỗi nàng không tự biết nàng cơ; thế bảo nàng biết Châu sao nổi? Nếu Phi hiểu rằng đó là Châu yêu nàng rất nhiều, thì cũng không sao. Nhưng rồi nhất là Phi chỉ biết rằng có cái mới, mà không biết cái chi mới, và cảm giác ấy biến thành một cảm giác không gian: nàng tưởng mình đặt chân lên một hoang đảo nào, hay tình cờ đứng giữa sa mạc.

    Một thứ ngạc nhiên điểm thêm đôi luồng rờn rợn làm nàng hơi run rẩy, mỗi khi nàng đọc thư của Châu.

    *
    * *

    Châu để cho chàng viết những lời rượu mạnh, không điều độ theo lẽ thường. Chàng nói sự băn khoăn khi thấy Phi chỉ êm đềm quá luôn luôn thành ra dửng dưng. Chàng không dấu nổi thắc mắc mỗi lần nhìn đôi mắt huyền bí. Những đoạn rối rít không có thứ lớp, nói những điều phiền phức, quanh co.

    Tình yêu có biết mực thước bao giờ! Lúc nào người ta cũng quá đáng. Người ta thư thẩn một cách dễ dãi, và không hiểu vì sao những điều cỏn con, những ý vụn vặt lại bỗng dưng hệ trọng lên, có thể làm ngạt được người viết thư cũng như người xem thư. Nhưng Phi hiền lành quá, Châu mê đắm chẳng nhầm người rồi! Phi rối vì thư của Châu, ngợp vì tình của Châu. Một lần nàng nghĩ quá mau: "Dễ thường anh Châu của ta hơi điên". Rồi tuy nàng rất hối hận vì ý gở và vô lý của nàng, nàng thấy sợ...

    Sợ, phải rồi! Phi sợ! Chính cảm giác mờ trong bấy lâu, bây giờ Phi mới thấy. Đó là một sự thực mà người ta không nên quên: tình yêu nhiều làm cho ta sợ.

    Có phải không, tình yêu đã to lớn, mênh mông, thì có khác gì một sông to, một biển cả đâu! Người ta ngợp vì thấy tình nhiều, bởi vì bao giờ cái nhiều cũng làm ta tự thấy mình ít; ta không kịp ngó, ta cảm xúc không hết, ta thấy cái nhiều tràn ta, ngập ta, lụt đến quá cổ ta! Ta sợ khi nhiều hay nhiều trời, nhất là nhiều sắc xanh rờn rợn của không gian; huống chi nhiều ái tình, một thứ không gian và thời gian vô hình ảnh. Nếu gió mát làm ta ngợp sợ, thì sự quá êm đềm, quá thiết tha, quá yêu mến lại xui ta sợ sệt đến bao nhiêu.

    Có ai thấy những đứa trẻ con xin bánh không? Nếu cho nó một cái, nó sẽ xin mười; cho nó năm mươi cái, nó sẽ ngạc nhiên, và nếu đưa cho nó cả một thùng bánh to, nó sẽ rợn rùng và sợ người cho nó.

    Châu cho Phi nhiều quá, Phi nhận không kịp, nhận không hết, và linh hồn con gái của Phi không biết làm gì nhiều như thế kia, Phi không dám nhận nữa. Phi vẫn yêu Châu, nhưng tay nàng tự thấy rơi tình, cứ muốn buông ra, để được thong thả xếp vào nơi ngực. Phi sợ!

    Cái sợ mập mờ, không rõ từ đâu và vì sao, nhưng cần chi biết nguồn gốc mới nghe một cảm giác? Phi không dám đưa chén nước của nàng đổi lấy một bể triều lên. Nàng sợ, nàng sợ...

    *
    * *

    Rồi một đêm, Phi nhận được một cái thư, lần này ngắn:

    "Anh thắp đèn lên để chép cho em Phi - em Phi rất yêu, quá yêu - mấy dòng mà anh đã đúc trong bóng tối. Phòng của anh đóng mít bóng đọng lại đen dày. Anh ngồi trong mực, xem thử linh hồn anh có sáng không".

    "Nó sáng! Nó chói sáng! Nhờ mang hình ảnh của Phi".

    "Phi, em Phi! anh yêu em không biết ngần nào, khi nói câu ấy, anh tưởng ngực bóp lại để rút đời anh ra tặng em; anh yêu đứt ruột, yêu quặn lòng, điên dại, ghê gớm, yêu tưởng giết được người, yêu tưởng chết. Em có thấy máu của hồn anh trên giấy chăng?"

    Trời ơi, hai tay Phi run lên, Phi sửng sốt cầm tờ giấy nét chữ có góc như gươm nhọn. Phi hoa mắt thấy hai tay đỏ máu; nàng chùi hai tay vào vạt áo dài trắng và nhìn...

    Máu? Chết? Giết? Thực là quá vai của Phi, quá lòng của Phi, Phi không mang nổi. Chân Phi yếu lắm, gánh tình nhiều quá, Phi sợ, Phi sụp!

    Nàng hết dám yêu Châu.

    *
    * *

    Từ đó...

    Mà thôi, kể lại làm chi chuyện chia lìa, rời rẽ. Không lỗi của Châu, càng không lỗi của Phi.

    Chỉ biết rằng Châu đã được một bài học khôn, giá bằng nước mắt. Và một lần, Châu nói với người bạn thân thiết tâm sự chàng:

    -" Tại tôi. Tôi đương nhiều lý tưởng, đầy thanh niên, tôi hăng hái, sôi nổi quá".

    - "Nàng như một cành lá hổ ngươi *, tôi không biết dỗ dành, chậm rãi; tôi chỉ giỏi mãnh liệt, tôi không có cái thuật nhẹ nhàng".

    "Không phải tôi thô, nhưng tôi động mạnh vào cây; lá hổ ngươi khép lại rồi, anh ạ!"

    *
    * *

    Một lần sau, không biết nghĩ sao, Châu cải chính lại, mặt rầu rĩ:

    "Nàng như con ngọc trai, chỉ hé mở khi nước biển bình tĩnh êm đềm. Tôi quá xôn xao, tôi ưa gió sóng, nên trai đã đóng lại rồi, và than ôi! Đã giữ lòng tôi lại trong ấy".
    ***

  8. #7
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Thư tình, mùa thu
    (Xuân Diệu)

    Ðây là tám bức thư tình của một người trẻ gửi cho một người trẻ. Này, bạn đọc! hôm nay mùa thu đã rõ rồi đấy. Tôi biết lòng bạn run run lành lạnh, nho nhỏ ngân nga vì hơi heo may. Tám bức thư tình. Một kho ấm áp! Bạn đừng ngay thẳng quá. Những bức thư hờ như thế, bỏ quên trong ngăn kéo, ta bắt được tội gì không xem? Ðây tôi đọc cho bạn nghe, ―hay là tôi chép lại.
    Ừ, xem, ta xem đi. Ngoài kia mưa bay mảnh khảnh dịu dàng, chẳng biết là mưa hay là sương nữa... Còn gì thú hơn xem bức thư tình, tay nhẹ nhẹ nâng như không dám cầm mạnh, sợ dập mất chữ của người yêu dấu! Ồ! đọc những lời hò hẹn tiêu tao, trong khi Mùa-Êm-Ái đưa mây, quạt gió ngoài trời! Ồ! buông mình vương vít trong lưới chỉ của lời tơ, thấy mình là một con chim si vui lòng bị nhốt trong lồng tình ái, và nghe mình đập cánh du dương trong vòng giam hãm, và ngoài xa, ngoài rộng, đất trời cũng lịm trong lồng mùa thu...
    Ðọc thư tình! Trong mùa thu! để thấy ngón tay cảm động như đàn trên phím giấy, để nghe những chữ những tiếng mở ra như những hộp đựng ngọc, hé ra như những cánh môi. Một làn gió nhỏ đến tự chân trời xa xôi, thổi mơn man vào giấy: thế là tai ta, đã chờ sẵn, vội vàng nhầm tưởng giọng nói thân yêu. Ôi một bức thư tình!
    Thế mà đây chúng ta có những tám bức. Giấy mỏng như cánh chuồn chuồn. Hương nhẹ như rất xưa. Hẳn là của một chàng trai nào mười tám xuân xanh, hai chân cao, cái đầu thẳng, trái tim non ở trong ngực mới, cảm mùa thu. Cảm tình yêu đương, và thấy thu về, lòng đòi yêu mến. Chàng ta đã đan lời rất dịu: những bút tích ấy hôm nay lạc vào tay ta. Của ai? Của bạn chứ còn của ai nữa! Bạn hãy thử dim mắt, ngó vào bên trong và đọc thầm những bức thư sẵn có trong lòng bạn: bạn sẽ thấy cũng bấy nhiêu chữ và bấy nhiêu tình.
    Bạn ơi, nghiêng đầu bạn bên đầu tôi, ta cùng đọc những bức yêu đương mà tình cờ nhặt được. Cứ cho mùa thu làm dáng ngoài kia; chốc nữa, khi đọc xong, ta sẽ lau một khung kính mờ và nhìn ra trời đất. Bấy giờ mùa thu sẽ càng ý nhị hơn nữa, đến bên vai ta nhẹ nhẹ ôm..
    ***
    I
    Cái “thư” lần đầu.
    Sợ sệt và ngại ngùng như sẽ có một điều không hay xảy đến vì sự bạo gan.
    Bước đầu sẽ dẫn tới đâu?
    Ước gì dẫn tới... lòng của bạn!
    xXx
    Ba hôm,―bốn hôm chứ―bốn hôm không thấy Chi, sao mà dài ghê quá. Chỉ có cho tôi nói rằng nhớ Chi vô cùng không? Tôi muốn đến Chi, nhưng sợ mất thì giờ của Chi. Và không dám lạm một tấm lòng tốt.
    xXx
    Chi đẹp quá.
    Sáng như tuổi trẻ.
    Sáng như mặt trời.
    Và khi ngó mặt trời người ta quáng mắt, tối mắt đi. Người ta không trông thấy gì nữa.
    Trừ ra cảm giác của sự rực rỡ, và cảm tình của lòng mến yêu.
    xXx
    Giấu sự giàu có về tiền tài, việc ấy còn dễ.
    Chứ giấu sự giàu có của lòng ta, sự ấy làm sao được? Nhất là khi ta thấy luyến ái một người, tự nhiên lòng ta đầy tràn hân hoan và cũng tối tăm lo ngại.
    Tôi không thể giấu...
    Xin Chi hãy trông...
    xXx
    Trước hết, hãy trông sự buồn cười của bức thư trao bằng tay, sau bao do dự.
    Và hãy trông nguồn rung động mới, xui lòng Tịnh sống nhiều lên, cũng như ngực Tịnh thở hăng lên.
    Và hãy trông, nhất là hãy trông mùa thu mới tới, chứa đầy nhớ nhung;
    Và sau cùng, nếu Chi không yêu Tịnh, thì hãy xem như chưa hề có tờ giấy này.
    II
    Cái “thư” số hai.
    Viết trước khi xa nhau, dầu chỉ là trong hai mươi hôm.
    Ðể nghe lòng tôi bịn rịn rất dịu dàng, vì có những sợi giây bắt đầu vương buộc.
    xXx
    Ồ! làm sao nói được những cảnh yêu phấp phới nhẹ nhàng trong lòng Tịnh!
    Mà nói làm chi?
    Chỉ im nghe sự cảm thông chảy từ lòng Tịnh sang lòng Chi, theo một dòng suối vô hình.
    xXx
    Hai mươi hôm, Chi thân yêu của lòng Tịnh!
    Hơn nửa tháng, có phải là ít đâu! Ngần ấy thì giờ cũng đủ để người ta đi vòng quanh thế giới.
    Và vòng quanh trái tim của một bạn yêu, chắc cần ít thời giờ hơn, ―nếu hai bên đồng nặng tình cảm với nhau.
    Trong bấy nhiêu ngày ở xa Chi, Tịnh cầu mong cho kỷ niệm của Tịnh được vòng quanh lòng Chi, ít nữa là hai mươi lần.
    Và hai mươi lần, Tịnh sẽ tưởng tượng làm giấc chiêm bao...
    III
    Xa Hà Nội rồi.
    Không gần Chi nữa...
    “Dịp may hiếm có” để gửi thư cho Chi một cách đường hoàng, viện cớ rằng Chi đương ở Bắc, và Tịnh đã về Nam.
    Nhưng cũng là một dịp để tha hồ nhớ.
    xXx
    Chiều ở đây đẹp lắm!
    Có tiếng sóng đến gần nhà.
    Có gió vào trong phòng, và có mùa thu giăng màn trước cửa sổ.
    Biển đã bắt đầu đổi tiếng, sóng thu đã reo lên.
    Thành phố nhỏ của Tịnh nằm trên một lưỡi cát dài.
    xXx
    Trời muốn lạnh, Chi có nghe chăng?
    Nếu không gặp nhau, ta chịu sao nổi những ngày buồn sắp tới?
    Gió thu lẻn vào lòng người rất giỏi; che kín áo cũng chẳng ăn thua gì. Nhưng tình yêu lẻn vào lòng người lại còn giỏi hơn gió thu. Và bấy giờ thì thực ấm.
    Mà lắm khi tình yêu chẳng thèm lẻn vào đâu! Nàng công chúa ấy vào trong cung của ta theo cửa Ngọ Môn, đi rất thẳng đường, và cửa nào cũng không dám cưỡng lại.
    xXx
    Trong cung lòng anh,
    Có ngôi vàng quí;
    Em là hoàng hậu,
    Anh chẳng dám làm vua...

    IV
    Mấy chiếc thuyền nằm im trong vũng mới buồn bã làm sao!
    Có cái gì rất thu trong cảnh nước và thuyền yên lặng.
    Trời êm như hồ.
    Én nhỏ như mũi kim.
    Mây biếc và xa như những mảnh núi bỗng dưng biết bay!
    Mặt trời hiền hậu như một tấm gương đã cũ
    Chiều thu... Chiều thu...
    xXx
    Tịnh được hưởng cả cái xa xôi của sự cách xa.
    Biết rằng ta yêu nhau nên bằng lòng xa cách.
    Cũng như lùi lại đằng sau để thấy một bức tranh đẹp hơn và rõ hơn lên.
    Tịnh ở xa để thấy ái tình nổi bật từng nét yêu đương.
    Gửi Chi nỗi niềm nhớ nhung trông ngóng.
    Mênh mông như chân trời này đến chân trời kia.

    V
    Một trận gió tới đột nhiên, và từ ấy, mưa xuống không dứt.
    Chiều qua đến nay, lòng ngập trong mưa...
    Thư này mang đến cho Chi một nỗi lạnh lùng run rẩy,―của trời đất thì ít, của lòng Tịnh thì nhiều.
    A, thương nhớ nào đâu bay qua với mây, hùa theo với gió, thương nhớ nào đâu vơ vẩn với trời như những con chim lạc, rủ nhau tìm vào chỗ trong lòng anh?
    Ba cái thư, mười hai ngày rồi.
    Chỉ còn ba hôm nữa, ba hôm!
    Tịnh không ở được đến hai mươi ngày; trời ơi, ngựa chạy nơi ngực anh đây!
    Tịnh chỉ ở nửa tháng.
    Lòng Tịnh gấp ra nhìn Chi một chút, nhiều chút đê mê, đê mê...

    xXx
    Nếu có thể đẩy thì giờ cho nó chạy nhanh lên nữa!
    Ồ, gặp Chi, ngó Chi, chứa hai tròng mắt đầy em!
    Trái tim chồm lên như con ngựa sắp chạy thi,―gớm, sao mà gió lạnh thế!
    Chi ơi, Chi ơi, Chi ơi...
    Tịnh đây!

    VI
    Thôi chết rồi, Chi đi chơi xa chưa về.
    Em Chi, Tịnh vội ra để thấy em, sao em lại đi vắng? Anh nhớ em nhiều quá. Anh gấp ra để được nhìn em.
    Tàu đến ban chiều. Anh chờ đến tối. Chiêm bao mộng mị. Anh chờ đến sáng. Rồi anh chờ đến trưa. Và bây giờ trời đã chiều.
    Chi ơi, đi mau về đây với anh!

    VII
    Ồ! Chi của tôi, của tôi!
    Nhớ nhá, chiều nay chúng ta bơi thuyền.
    Ta sẽ cho mái chèo vào giữa lá sen, và nói;
    “Ðây là những lá sen,
    “Ðã rách vì không còn mùa hè;
    “Hỡi mùa thu yêu dấu!
    Chúng ta sẽ chắp lá sen tàn, may áo rét và mặc cho ngươi.”

    xXx
    Cửa sổ nhà em khép lại như những mí mắt buồn ngủ.
    Lỗi của gió, của mưa, của mù.
    Anh cứ đi qua luôn, ngừng lại một chút, rồi thẳng đường đi...
    Lỗi của đôi chân không biết trái lệnh lòng yêu sai khiến.
    xXx
    Mùa thu! Mùa thu! Ai không nghe, như chàng trai kia, tiếng kêu vời vợi của không khí? Ai không run nỗi hàn của tâm lý trước khi run nỗi rét của da thịt? Lạnh lùng sắp tới, lòng ai không rộng thêm, bỗng dưng có một khoảng trống cứ to dần. Ai không cần góp nhiều tình, thực nhiều tình, như người ta cất sẵn than củi để phòng mưa gió?
    Bức thư tình trong mùa thu, ai sẽ viết cho tôi, cho cô, cho anh, cho bạn? Ai cũng vậy, hễ mùa thu đến là cần thiết rất nhiều âu yếm, như trong ngực bỗng dưng có đến năm sáu trái tim. Ai may thêm áo, ai mặc thêm những lớp áo tình cho muôn lòng người rét mướt? Một bức thư tình là một khuôn nhung ấm; những cặp tình nhân đừng quên!
    ***

  9. #8
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Thu
    (Xuân Diệu)

    Lá không vàng, lá không rụng, lá lại thêm xanh; ấy là mùa thu đã về,mùa thu mới về, yểu điệu thục nữ. Trời bớt nóng và thêm mát. Có ai thổi cơm mà khói nhẹ mơ hồ đâu đây...

    Chưa có sương mù, chưa có hẳn sương mờ, chỉ là đôi thoáng sương mơ, mỏng như chiêm bao. Mặt trời nhạt vừa khuất mây, thì khối lá biếc hơi nhòa; mặt trời vừa ló lại ánh vàng, thì khối lá lại hiện nguyên sắc biếc; không biết có phải sương thu mới nhóm, hay đó chỉ là sự huyền ảo của chính hồn tôi?

    Mùa thu đến với cõi đời như một cô gái xưa đi về nhà chồng; nàng thu bước rất khoan thai, tà áo thướt tha, chân không có tiếng. Thân hình nàng uốn éo rất thân quý, mặt ngọc của nàng che sau cánh quạt mở, thỉnh thoảng cánh quạt khẽ chệch, để lộ đôi mắt êm như trời xanh buổi chiều.

    Mặc dù bên Tây cũng có mùa thu, thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu là ở bên Tàu. Mùa thu cũng đồng một quê quán với Tây Thi, với nàng Tây Thi quá xưa cho nên quá đẹp, và cũng vì quá xưa cho nên không ai nhớ hình ảnh. Không ai nở tưởng tượng nàng Tây Thi với má hồng môi son, mà chỉ cảm nàng Tây Thi chứa ánh mơ không màu sắc, chỉ có êm đềm tuyệt diệu mơ màng, cũng như mùa thu.

    Mùa thu là cái gì xa xôi, cái gì kín đáo, và thanh tao bình dị, và xa xôi mênh mang. Nên thu bao giờ cũng xưa, ta thấy như thuở thời xưa mà về; và ta cũng thấy như rất thong thả, bình yên, thu ở trên trời mà xuống.

    Và cả nước tàu cổ là một mùa thu bát ngát, bằng và rộng như một cảnh hồ không có bờ bến, " thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc, lạc hà dữ cô lộ tề phi ".

    Trái lại, mùa cũng là một nước Tàu cổ mênh mông, làm ta nghĩ những cảnh xa vắng ngàn đời, ở sông Tiêu Tương cũng như ở bến Hà Nội.

    Nhưng tôi còn thấy thu là mùa yêu. Với lòng tôi, trời đất chỉ có hai mùa: Xuân với Thu, hai mùa đặc biệt ý nhị, hai mùa có bình minh. Từ xuân sang hè, là từ ấm sang nóng, từ thu sang đông, là từ mát sang lạnh, sự thay đổi làm ta bực tức mà lại không có gì thực mới cả; đông với hè chỉ là sự thái quá của thu với xuân. Chứ còn từ đông sang xuân, sao mà sung sướng thế! Linh chuyển ngược sang ấm, từ một điều rất khó chịu chuyển ngược sang một điều rất dễ chịu. Theo lẽ ấy, hè sang thu là bao nhiêu khoái trá cho giác quan; được rời bỏ lửa chói chang, mà vào trong nước hiền hòa, mát mẻ. Xuân với thu là hai bình minh trong một năm, sự đổi thay hệ trọng nhất cho tâm hồn. Và bởi vậy, thu cũng là một mùa xuân...

    Thu cũng là một mùa xuân! Tôi tìm thấy cái khóai lạc đó. Tôi nghe rất đúng.

    Đầu xuân là bình minh ấm của lòng tôi; đầu thu là bình minh mát của lòng tôi. Và ấm hay mát, thu hay xuân, lòng tôi cũng rạo rực những tiếng thu, ái tình ghé môi gọi lời trong gió...

    Mỗi lần thu sang, mắt tôi chưa thấy mờ chân trời, chưa trông cây lá thêm xanh, mà da tôi đã nghe trước những mũi kim dịu dàng của không khí. Hơi mát kích thích, thoảng nghe lành lạnh, máu tôi vội vàng cưỡng lại, chạy hăng và khỏa lên.

    Sự sống trong mùa xuân tưng bừng ra ngoài, thì giữa mùa thu, sự sống lại tìm tàng lặn vào bên trong, ,sắp sẵn lò sưỡi ở giữa ngực. Tôi hơi buồn mơ hồ, nhưng tôi cũng sống rất phơi phới. Ôi, xuân ý của mùa thu, sao mà đầy một vị mặn nồng kỳ dị, có hơi quợng gạo trong niềm sung sướng, và trong nỗi tràn đầy, phải chăng có lẫn một màu đắng cay...

    Thu không phải là mùa sầu. Ấy chính là mùa yêu, mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau. Tiếng nói thành ra nhỏ hơn, cổ họng hơi chùng giây, âm nhạc của lời tình đàn theo một bậc thấp. Sự ngông cuồng bớt rất nhiều, người ta ngoan hơn, để mười hay hai mươi ngón tay đan với nhau, và lắng nghe sắc trời xanh xuống ôm lấy đứa đôi như một tấm áo che sương. Ấy là những giờ thân mật dạo qua hai hàng cây; ấy là chiếc thuyền trễ trên hồ tàn sen, bị cảm buổi chiều tím.

    Trời muốn lạnh, nên người ta cần nhau hơn. Và người nào chỉ có một thân, thì cần một người khác. Xuân , người ta vì ấm mà cần tình.

    Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi.

    Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau, và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy.
    ***

  10. #9
    Phong thần Avatar của nhienyeu94
    Tham gia ngày
    Jul 2010
    Bài gửi
    35

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu

    Thân thể
    (Xuân Diệu)

    Bấy giờ gió lên cùng một miếng trăng to. Ðã khuya, giòng sông nhẹ xao, chiếc thuyền rún rẩy một cách khoan khoái. Ðèn thành phố sắp những chấm xa.
    Ở đây, tạo vật đương tắm ái tình. Người ta vào hẳn trong yêu mến vu vơ... Cây cối đu đưa, lá tre nhỏ sột soạt làu nhàu. Phong cảnh tợ hồ thanh tao, nhưng kỳ thực lẩn vẩn những chiều khơi trêu lơi lả. Gió trăng không ngây thơ; gió trăng hữu ý quá. Phong cảnh không những có linh hồn: phong cảnh đương khoái lạc..
    Tuy không ngừng nói, bảy chàng trai thấy mát mẻ tràn mạn vào người. Một cái thích miên man lan ở dưới trời; có lẽ không gian quặn lại vì sung sướng. Nước. Nước xanh và chảy ánh vàng. Yên lặng. Yên lặng và đầy nhớ nhung. Không còn sớm nữa nhưng cũng chưa quá khuya; thì giờ vừa vặn...
    Lòng niên thiếu tự nhiên man mác. Bảy chàng trai đã bớt hẳn tiếng cười; câu chuyện chầm chậm thay đề, cũng như chiếc thuyền khoan thai trôi vào trong xa, trong trăng, trong lòng tình tứ của đêm đẹp. Ðó là bảy chàng Tú mới đêm nay mừng sự rảnh rang và sự thi đỗ bằng một cuộc chơi thuyền suông trên sông Hương, sau khi đã ăn một bữa cơm sang và đã uống hơi nhiều rượu. Câu chuyện ầm ỹ lúc mới đi bây giờ đã nhỏ, thân mật, hệ trọng. Người ta không nói chuyện đá cầu hay chuyện mấy ông giáo nữa. Mình mẩy của tuổi thanh xuân đang nở nang bối rối; trí não đã ngủ dần theo lời ru, để cho thân thể một mình tự nghe... Những ngày hè oi ả thường cho ta một cảm giác hoan lạc ẩn trong sự lười biếng, mệt mề. Huống chi đêm trăng này, một đêm của mùa sinh sản.
    ***
    Bảy chàng trẻ.
    Bao nhiêu tình!
    Ðính vai hề của lớp học, bỗng dưng khai đề một cách đột ngột:
    ― Giữa bọn mình đây, anh nào đã có tình nhân?
    Lực vai hề số hai, cũng hùa theo:
    ―Anh nào có thì nói nghe chơi! còn tụm nhau mãi đâu mà sợ sau này bị chế diễu mãi.
    Phú nhại giọng văn sĩ:
    ― Phải chúng ta như một đàn chim gió sắp chia rẽ, tan tác bốn góc chân trời... Ai có tâm sự thì nói đi thôi. Dưới ánh trăng cái gì đục mấy cũng hóa ra trong trẻo...
    Ðính hạ giọng, thúc giục:
    ― Anh Nhân? Anh đã biết rồi chứ? Anh Tấn? Anh Ðịnh? Anh nào đã nếm mùi đời? Nhất là anh Tấn, anh “hoang” lắm. Cặp mắt đen ướt kia đa tình số một, anh “biết” thế nào hở anh?
    Tấn bị tra khảo, vội vàng thoát nạn bằng cách đổ tội cho Khuông:
    ― Ðã có anh Cả Khuông ta đây, còn hỏi ai nữa?
    Nghe nói đến Khuông, tức thì cả bọn ồ ạt:
    ― Phải đấy! Khuông! Khuông! Nói chuyện nghe đi!
    Thế là sáu người kia xúm nhau bá lấy Khuông, nói rộng, tán dài,ca tụng, châm chích, hỏi han. Khuông cười lộ cả hai hàm răng. Trong một lớp học, người nào có vợ là một kỳ quan, một tý gì cũng là cớ để anh em nói đến “chị ấy”. Khuông thường phải làm ra vẻ trơ, tự mình chế diễu mình trước để anh em chán, không ai biếm một người lỳ.
    Thực ra, Khuông thấy trong lòng khó chịu. Lòng Khuông có một lớp đắng cay, động đến là nhắc Khuông nhớ tới. Lần này, Khuông cũng lại cười rất vui vẻ, nhưng khi gần hết cái cười, môi trên của chàng đưa lên thêm, khinh khỉnh như cười nhạt với mình.
    ***
    Hồi còn đi học―tuần trước đây―Khuông lớn tuổi nhất trong lớp: Khuông đàn anh cả trường. Hai mươi lăm tuổi của chàng điêu đứng bao phen vì thi cử. Chàng “cựu trào” lắm; chàng đã biết cái thời người đậu thành chung sẵn sàng đi làm việc và có vợ con; chàng đã xưa, và chàng đã từng trải hoa nguyệt.
    Mặt chàng có vẻ tình si lắm, lông mày đen và rậm, mắt đưa đẩy rất nhanh, miệng rộng và môi dô ra, chờ đón. Tuy chàng quá tuổi, chàng vẫn còn một ít đẹp. Nghĩa là chàng không bao giờ hết đa tình.
    Chàng cưới vợ rất ngẫu nhiên: một buổi sáng, Khuông thức dậy, nhíu mày để tự trách mình, rồi nửa tháng sau, một người đàn bà hiền hậu lấy Khuông làm chồng. Cưới vợ như kẻ phóng lãng cất nhà: để tự ngăn cấm... Nhưng có ngăn cấm được không? Khuông vẫn cứ đi, để góp về trong thân thể và tâm hồn bao nhiêu não nề đau đớn.
    Bây giờ thì Khuông đã dừng bước; nhưng một ngày mai nào đây, biết đâu con ngựa bất trị lại không dẫn chàng đi... Dẫu sao, Khuông cũng đã được một ít khôn ngoan, chàng tự cho mình là người anh lớn của một bọn em nhỏ, các bạn chàng. Tội nghiệp! bọn trai tân ấy nhiều tưởng tượng quá; họ nói chuyện một cách ngon lành; họ ca tụng và dường như ganh tị với Khuông, cho rằng Khuông đã vào trong một nguồn khoái lạc. Họ tin chắc như thế; họ giàu cái thân thể mới của họ, họ có biết đâu...
    ***
    Và câu chuyện hơi nặng, hơi thô, gia vị một thứ thầm trộm rì rào, ngập ngừng như ăn vụng, thèm muốn như trẻ con. Bởi vì bóng trăng trong cũng thở những ý điếm đàng, và trên nước choá vòng vàng, tợ hồ một thân thể đang tắm...
    Khuông im lặng. Phải, chàng đã già, so với sự mơ ước của sáu bạn chàng, chắc tất cả còn đương trinh. Bóng trăng như có vị đắng cay; khi chàng ngửa mặt lên, ánh sáng vào miệng chàng, chàng mỉm miệng lại.
    Sáu chàng trẻ hoa tay múa chân, như trẻ nhỏ sắp được đi xem hát... Họ vui vẻ khoe bày những điều nghe góp được bấy lâu, hay xem lén trong sách vở rơi vào tay họ. Thỉnh thoảng giọng đổi thấp kéo ra nhè nhẹ rồi bùng lên giữa một cái thác cười. Ý chừng họ đương tiếc sao họ chỉ đẩy một chiếc thuyền suông không có đàn bà, như uống một chén nước lã. Chỉ một điều còn cứu cho câu truyện thả lỏng, là vẻ thơ ngây tự nhiên của tuổi trẻ khác hẳn với bề thô tục của những tay sành sõi sâu xa.
    Khuông vô ý ngồi chệch sang một bên, như ngồi riêng. Chàng não nùng nghĩ đến cái kho từng trải nhem nhuốc của chàng. Chàng cũng chẳng làm chi quá đáng, chàng đã sống như mọi người, thế thôi; song chàng có một điểm trong sạch trong linh hồn, nó càng trái ngược với sự dơ bẩn mà nó khinh, mà thân thể chàng đã và vẫn yêu, khốn nạn! chàng tiếc sáu cái thanh niên kia, chúng sẽ hấp tấp lăn vào bụi đời. Và ngực nở kia sẽ lép, và những cánh tay kia, khi co lại, sẽ còn đâu những bắp thịt nổi như những ổ bánh mì! Và còn đâu sức lực kia, vạm vỡ, chắc chắn, phồng tròn, hiện giờ đương hoài vọng những cách tự phá!
    Nếu chàng có thể hoãn lại cho lâu thời kỳ huỷ hoại đó! Sáu con đực tốt đẹp sẽ dúi vào thú vui, không lý sự gì, mảnh liệt mê điên như những con thiêu thân át hẳn vào ánh đèn tìm chết cháy, hay con bò say húc đầu và tấm vải đỏ ám ảnh, để gặp một nhát gươm.
    Khuông nghĩ tới đây, bỗng giật mình. Lực đánh hai tay vào vai chàng, trong khi mọi người cười rộ.
    ― Anh Khuông ỷ mình có vợ, không thèm nói chuyện với chúng tôi. Anh còn trẻ chán, tội chi làm cụ già? Dạy cho chúng em một vài bài đi, anh ạ!
    Khuông lại cười to một lần nữa, làm cho Lực tưởng mình nói hay, bèn thêm:
    ― Khuông đương nhớ vợ ở nhà quê chứ gì! Chúng tôi không có ai để mà nhớ cả. Chúng tôi thì nói nhưng anh thì làm.
    Nhân câu của Lực, Khuông trả lời:
    ― Rồi đến lượt các anh làm thì tôi lại nói.
    ― Ừ, nói đi, nói đi!
    Các bạn Khuông cùng cười, nghĩ bụng rằng Khuông sẽ kể cho nghe một cuộc tình nào đó, một sự tình cờ, gặp gỡ hay chính đêm tân hôn.
    Nhưng đến khi nghe Khuông mở miệng nói những chuyện không vui tý nào, họ cũng không tẩy chay, không “đả đảo”. Có lẽ vì họ nói chuyện đã nhọc, đã chán; cũng có lẽ vì họ ngạc nhiên thấy một anh Khuông rất khác, bi quan, đạo đức, không phải anh Khuông thường ngày nói chuyện gái một cách thản nhiên.
    Khuông hơi ngà ngà: chàng đã uống nhiều rượu; tâm hồn chàng hăng hăng ấm ấm, lại thêm sáng trăng kích thích, như xui chàng diễn thuyết hay cung khai.
    ***
    Khuông nói:
    ― Ồ? các em bé của tôi thèm khát đến thế hay sao? Tội nghiệp! Các em còn mới mẻ thực. Thân thể! ôi thân thể của chúng ta! Tôi giết hắn đã rõ lắm rồi, các em ạ!
    Bọn mình còn trẻ, còn xanh, sức lực quá giàu chỉ chờ tiêu bớt. Lửa mùa xuân sôi nổi, bồng bột lắm mà. Những điều thích thú chói lọi hào quang trước mắt mở rộng của ta. Ta vây bọc một thứ bụi vàng chung quanh những thân hình ước mơ. Ta nghĩ cái thú toại thịt là cái thú của thiên đường, ta mong được lên từng trời thứ bảy; ta ao ước, khao khát, thèm thuồng, van xin; chỉ vì các anh chưa được nếm một cái quả, nên các anh chảy nước miếng, các anh ăn trước bằng tưởng tượng. Nhưng hai tuần, một tháng sau khi đã bước bước đầu! Ðê vỡ hẳn, nước tràn ào, không ai gìn giữ nữa. Ta vồ lấy thú vui, như mất trí. Tôi biết một người chỉ tiêu trọn cái thanh niên của họ trong hai tháng mà thôi!
    Và có những người, các anh nghe chưa? Sụp ngay sau nước đầu. Ai thấy mà họ không nói: một toà thân thể, một lần sức lực, nghĩ là một kho khoái trá. Song họ chỉ chắc chắn ngoài mã, mới vừa châm có một mồi lửa, thì ôi thôi, họ đã sụp đổ, ho lao...
    Rồi cái choáng ban đầu tan đi, ta không ở trong sương mờ thần tiên nữa, ta nhìn thấy thân thể ta. Thân thể! Ôi! một đứa trẻ con không biết gì đau bụng, không nghĩ đến cam tích và sán lãi, không nhớ những đêm sôi quặn ruột, chỉ vòi kẹo, đòi bánh, mãi mãi, không chừa. Một đứa trẻ ham hố, chỉ được cái cam đảm yếu hèn là thèm muốn tha thiết. Ðứa bé nhai đường, đường rẻ mạt hạng, đường xấu, đường đen; rồi hết cơn ăn, nó nghe ai xát vào lợi. Và ăn mía, rách cả lưỡi! Uống sữa nóng, rốp cả miệng! Thân thể! Một thằng trẻ con!
    Sau cái choáng ban đầu, ta nhìn thấy thân thể ta như một người nào khác.
    Một bên nói: ngươi đừng như thế nữa. Ngươi làm ta khó chịu vô cùng. Ngươi lại làm ta xấu hổ, nhục nhã. Ðó là trường hợp anh Thuyên. Một đêm kia, anh lò mò trong một cái nhà lá tối om, sờ soạng đi tới chum nước, ngụm đầy một ngụm nước lạnh. Ðể làm gì? Ðể phun vào dưới cửa buồng, đặng mở cho khỏi kêu. Ði rón rén, sợ vấp, sợ đụng chạm, sợ té ngã, sợ bị nghe. Sợ tiếng ồn, sợ ánh sáng, sợ mình, sợ người. Ðể làm gì? Ðể nhận một cái tát tai mà không dám kêu, chỉ lo rằng cái tát kêu quá, có thể làm người ta thức dậy. May mà người con gái đần độn lại ngủ ngay, nếu la lên thì chết. Thuyên mừng rỡ, vội vàng về chỗ để sáng sớm cút ngay.
    Một bên nói: “ta cấm ngươi”. Còn một bên nói: “Tôi đói! Tôi khát!” Rồi thì làm nũng, uốn éo, van xin. Người ta không nghe thì nổi lên lộng quyền tiếm vị. Và sau khi đã dằng co kình địch, thân thể bèn được như ý. Rồi thì thân thể lập tức làm người yếu, người đau “tôi mệt, tôi nhọc, chăm sóc cho tôi, tôi chết đây!” Rồi bên kia, quá lo lắng vì quá hiền từ, phải thuốc thang bồi bổ. Và ngầy ngà, trách móc: “Ta đã dặn trước, sao ngươi không chịu nghe? Bây giờ ngươi sụp ngã, khổ lây đến ta, phiền cho ta quá!” Rồi vừa an ủi, vừa càu nhàu, chúng ta nói tỷ nói tê, nói thầm nói thỉ với cái thân thể như vợ khuyên chồng.
    Một buổi sáng, cái mình thức dậy, nghe mỏi mệt từng đốt xương, nghe từng khớp xương rời rã. Người ta bắt đầu bẻ ngón tay, kêu lốp rốp. Rồi đứng uốn vai, uốn lưng, hai tay vươn lên trần nhà, hai chân nhón lên, miệng ứ dài một tiếng chán nản. Và chỉ muốn lăn lại nơi gường ngủ vùi thêm một giấc khỏi phải dậy nữa, như ai đổ một đống thịt không xương. Phải đi tắm để cào bao nhiêu móng tay vào da, cho máu chạy hăng thêm một tí.
    Ấy là chuyện mỗi ngày. Vài hôm bớt đi, rồi cả thân thể lại uể oải. Còn nữa: đợi ta đọc sách, mắt ta xây xẩm đi. Buồn cười cho anh Ðông...
    Có ai còn nhớ thằng Ðông khi xưa, mập mạp ấy không nhỉ? Một bận nó cứ than rằng đau mắt. Nó thấy cái gì cũng mờ mờ. Tưởng vì ban đêm đèn chói, hay đâu ban ngày cũng vậy. Một người bạn cắt nghĩa cho nó: “Anh khởi sự đau mắt hột chứ gì, khi trước tôi cũng thế.” Ðông bèn cắp sổ đi nhà thương chữa mắt. Ông đốc tờ khám, ban cho Ðông một câu: “Mắt anh rất thường, rất như thường”. Ðáng lẽ phải sung sướng. Ðông lại năn nỉ: “ Không tôi đau... đau mờ...”, chưa kịp nói hết thì đốc tờ bảo:
    ― Mắt anh chả cận thị mà chả viễn thị, không đau gì hết. Tôi biết lắm, người ta chỉ ưng mang kính trắng để ra vẻ trí thức. Anh về đi!
    Ðông tiu nghỉu. Về ngạc nhiên với tôi: “Mắt mờ thế này mà tốt”. Thằng ấy ngây thơ quá, tốt bên ngoài chớ sao; xấu bên trong, đốc tờ biết sao được, Ðông nức tiếng là “hoang”...
    Nào có mờ mắt thôi đâu! lại còn thế này nữa; một hôm, một buổi chiều... ta sợ đau sốt rét vì nhiều muỗi, ta uống hai viên ký ninh. Bỗng nhiên ai đánh trống nho nhỏ đều đều vào lỗ tai; lắng kỹ: ai lắc màng tai mình, nghe bùng lên, kêu vù vù. Hai viên ký ninh, có gì mà kêu giữ vậy. Tai ta vốn đã chờ sẵn để đánh trống, vì ta quá hoang chơi...
    Còn cái đầu! nhiều đêm người ta có cảm giác như sọ sắp bắn tung xương, vì máu dồn lên nhiều quá.
    Không phải nhức, mà nặng, mà chật, muốn vỡ đi. Ước gì gối lên một hòn núi cao, cho máu không dồn lên được. Còn những hiện tượng nào nữa, những quảng cáo dài dặc đã nói với anh rồi. Thân thể! còn gì phiền nhiễu cho hơn?
    Cũng không cần có bệnh mới đau. Tôi đã nói nhiều kẻ sụp ngay nước đầu... Và cả những lúc đương yếu như thế, thân thể có chịu nằm yên để ta chăm sóc cho đâu. Thực là trẻ con: đau mà vẫn cứ vòi quà. Trời ơi, khó ngăn cản làm sao! Thân thể ta ở trên một con đường chuồi, chỉ chực lăn xuống, xuống thấp, thấp đen, đen tối. Lấy lý gì cắt nghĩa điều ngu ngốc thậm tệ ấy? Chẳng phải có một sức mạnh vô hình, một sức mù, nhưng mạnh nó xô đẩy ta ư?
    Chỉ những thanh niên như chúng ta, hay những tay bất trị mới đi ca tụng thú vui. Nếu ta rõ ta, ta sẽ đau đớn, ảo não. Mỗi lần nhượng bộ là mỗi lần thua. Rồi ta đến cái thái độ bi kịch này: ta ghét thân thể ta, và vì thế muốn lăn nhào vào cung truỵ lạc, phá đi cho hỏng luôn một thể. Dường như nói: “đã thế thì ta chơi nữa, mặc kệ ngươi đổ nát cho rồi”. Cũng như đưa một thúng bánh cho trẻ con, vì thấy nó tham ăn vô độ.
    Lắm khi người ta đi chơi chỉ để thoát ly một sự quấy nhiễu.
    Trong khi ta chúi mình vào, ta vẫn nghe một thứ cay đắng âm ỷ, huống chi là sau...
    Ta vâng theo một sức đẩy xô, chỉ có thế!
    Và các anh, các bạn! Sao không ráng lùi lại thời kỳ tự phá, giữ cho lâu những bắp thịt của ngực nở, của tay cứng, của chân vặm? Ta sẽ thấy chán chường, buồn tởm, sau những cơn đầu; ta sẽ khóc theo sau tuổi trẻ, ta sẽ thấy tủi nhục vì tự thấy ở dưới quyền áp chế của một sức mãnh liệt, xảo trá, nó để cái rát lưỡi liền sau vị ngọt ngon; ta sẽ già. Ta gì?―chính tôi đó!
    ***
    Khuông cười lên một tiếng lớn, cố ý tự chế nhạo mình để khỏi ngượng về bài thuyết lý trái thời của chàng. Chàng đứng vùng dậy, vươn vai, hút một ngực đầy không khí. Và hăng hái nói:
    ― Khi người ta có hai mươi tuổi! Hai mươi!
    Sông Hương vẫn làm duyên... Phong cảnh ngẫu nhiên dường như trong trẻo hơn vì đêm khuya và im lặng, cũng như linh hồn của bảy chàng niên thiếu sáng sủa cùng với trăng cao. Ðêm chầy. Chiếc thuyền rộng rãi nhờ đi suông trùng trình mạnh hơn, vì gió hơi cứng.
    Trời trong vắt, mênh mông giăng rộng trên núi xa nghĩ ngợi và cây gần mơ yên. Ðêm chầy...
    Một tiếng gà sang sảng gáy chói chang vang động ở trong bóng nguyệt linh lung.
    ***

  11. #10
    HUT's Student Avatar của Bảo Huy
    Tham gia ngày
    Feb 2009
    Bài gửi
    254

    Mặc định Re: Truyện ngắn Xuân Diệu


+ Trả lời chủ đề
Trang 1/2 12 CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. những câu chuyện cực ngắn_ý nghĩa cực lớn
    Gửi bởi AIMI_TRỊNH trong mục Truyện ngắn
    Trả lời: 4
    Bài cuối: 26-09-2011, 05:13 PM
  2. 'Bé' Xuân Mai: 'Em thích có bạn trai là người Việt'
    Gửi bởi beyeuanh1 trong mục Thời trang & Điện ảnh
    Trả lời: 3
    Bài cuối: 14-07-2010, 01:18 PM
  3. Trả lời: 0
    Bài cuối: 28-04-2010, 08:56 AM
  4. Kiều
    Gửi bởi chutichhtcbkf trong mục Thơ ca
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 07-09-2006, 04:45 PM
  5. AQ chính truyện- Lỗ Tấn
    Gửi bởi cáo đeo nơ trong mục Văn học
    Trả lời: 15
    Bài cuối: 06-09-2006, 04:19 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube