User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 4 của 4

Chủ đề: Memory Overview

  1. #1
    LionKing
    Guest

    Mặc định Memory Overview

    Nhằm giúp các bạn mới đến với lĩnh vực tin học và ham hiểu biết về phần cứng, LionKing xin giới thiệu một số bài viết về bộ nhớ trong máy tính do chính LionKing biên dịch và tổng hợp từ một số tư liệu nước ngoài. Rất mong nhận được nhiều đóng góp của các bạn để bài viết thêm bổ ích và chính xác.
    • RAM làm việc như thế nào
    • Cơ bản về RAM
    • Các loại RAM?
    • Tôi cần bao nhiêu RAM


    RAM làm việc như thế nào

    RAM-Random Access Memory (Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên): là loại bộ nhớ thông dụng và quan trọng trong máy tính. Đặc trưng của RAM là "truy cập ngẫu nhiên", điều đó có nghĩa là bạn có thể truy cập trực tiếp tới bất cứ ô nhớ nào nếu như bạn biết vị trí của nó (vị trí hàng và cột của ô nhớ).

    Ngược lại với RAM là SAM (****** Access Memory: Bộ nhớ truy nhập tuần tự). Dữ liệu trong SAM được lưu trữ thành từng chuỗi ô nhớ và chỉ có thể truy cập tuần tự (VD: băng từ...). Nếu dữ liệu cần tìm không nằm tại vị trí hiện thời, mỗi ô nhớ sẽ được kiểm tra cho tới khi tìm thấy. SAM làm việc rất tốt đối với "bộ nhớ đệm" bởi vì dữ liệu trong bộ nhớ đệm được lưu giữ theo thứ tự sử dụng (một thí dụ điển hình là bộ nhớ đệm trên video card). Còn đối với dữ liệu trong RAM thì được truy cập với bất cứ thứ tự nào.

  2. #2
    LionKing
    Guest

    Mặc định

    Cơ bản về RAM.

    Cũng giống như bộ vi xử lý, 1 chip nhớ chính là mạch tích hợp (IC) của hàng triệu tranzito và tụ điện. Trong hầu hết các dạng bộ nhớ thông dụng của máy tính, như RAM động (DRAM-Dynamic RAM) chẳng hạn, mỗi tranzito và tụ điện tạo thành 1 ô nhớ, đại diện cho 1 bit dữ liệu. Tụ điện có vai trò lưu giữ bit thông tin 0 hoặc 1. Tranzito có vai trò như 1 chuyển mạch cho phép mạch điều khiển đọc trạng thái hay sự thay đổi trạng thái của tụ điện.

    Tụ điện giống như 1 cái thùng nhỏ có khả năng lưu trữ các điện tử. Để ô nhớ ở trạng thái 1 (bit 1), thùng đó phải đầy điện tích. Để nó ở trạng thái 0, thùng phải rỗng. Tuy nhiên có 1 vấn đề là "cái thùng của chúng ta bị rò", chỉ sau vài giây nó sẽ trở nên trống rỗng (nghĩa là ô nhớ bị chuyển sang trạng thái 0). Bởi vậy để cho bộ nhớ động có thể làm việc chính xác, cả CPU và bộ điều khiển bộ nhớ phải tiến hành nạp lại tất cả các tụ điện. Để làm được điều đó, bộ điều khiển bộ nhớ sẽ đọc bộ nhớ và ghi lại. Thao tác làm tươi này được thực hiện tự động sau khoảng vài phần nghìn giây.

    RAM động phải được làm tươi trong suốt thời gian làm việc. Và chính thao tác làm tươi nói trên đã dẫn tới việc hình thành tên gọi RAM động. Việc làm tươi này dẫn đến việc mất thời gian và làm chậm bộ nhớ.

    Các ô nhớ được khắc bằng axit trên các tấm mỏng silicon tạo thành mảng các cột (bitline) và các hàng (wordline). Giao của bitline và wordline tạo thành địa chỉ của ô nhớ.
    Thông qua các cột phù hợp, việc nạp điện sẽ kích hoạt các tranzito tại từng bit trên mỗi cột. Khi ghi, các hàng sẽ chứa trạng thái của tụ điện sẽ đảm nhiệm. Khi đọc, bộ khuyếc đại cảm biến sẽ quyết định mức nạp của tụ điện. Nếu lớn hơn 50% nó sẽ đọc là 1, ngược lại nó đọc là 0. Bộ đếm theo dõi sự làm tươi liên tục trên cơ sở mỗi hàng được truy cập theo thứ tự nào đó. Khoảng thời gian để thực hiện tất cả các thao tác trên là rất ngắn, cỡ nano giây (phần tỉ giây). Chip nhớ có tốc độ 70ns nghĩa là mất 70ns để đọc và nạp lại trạng thái của các ô nhớ.

    SRAM (Static RAM: RAM tĩnh) sử dụng công nghệ hoàn toàn khác. Trong RAM tĩnh sử dụng mạch điện tử Flip-Flop (mạch lật trạng thái) để lưu giữ mỗi bit nhớ. Mỗi mạch Flip-Flop dành cho mỗi ô nhớ sẽ mất từ 4-6 tranzito và quan trọng hơn cả là chúng không cần làm tươi. Điều đó ảnh hưởng lớn tới tốc độ và làm cho SRAM nhanh hơn nhiều so với DRAM. Tuy nhiên bởi vì nó gồm nhiều thứ nên trên mỗi chip, mỗi ô nhớ trong SRAM chiếm nhiều không gian hơn ô nhớ của DRAM. Cho nên mỗi chip nhớ SRAM có dung lượng nhỏ và đắt hơn nhiều so với DRAM.

    SRAM đắt, dung lượng nhỏ nên thường được sử dụng trong cache CPU.
    DRAm rẻ, dung lượng lớn nên thường dùng cho bộ nhớ trong trên các hệ thống.

  3. #3
    LionKing
    Guest

    Mặc định

    Các loại RAM phổ biến:

    SRAM (Static RAM): sử dụng tổ hợp rất lớn các tranzito, điển hình là từ 4-6 tranzito cho mỗi ô nhớ và không có 1 tụ điện nào. Nó thường được sử dụng chủ yếu trong bộ nhớ cache.

    DRAM (Dynamic RAM): mỗi ô nhớ là một cặp tranzito và tụ điện được làm tươi liên tục.

    FPM DRAM (Fast page mode dynamic RAM): chính là dạng nguyên thủy của DRAM. Đầu tiên, nó đợi hết toàn bộ việc xác định 1 bit của dữ liệu bằng cột và hàng, sau đó đọc bit đó rồi chuyển sang bit kế tiếp. Tốc độ truyền giữa nó và cache L2 khoảng 176 MBps.

    EDO DRAM (Extended data-out dynamic RAM): không đợi xử lý xong bit đầu tiên rồi mới chuyển sang bit kế tiếp mà ngay khi vị trí của bit đầu tiên được xác định, EDO DRAM sẽ tìm kiếm bit kế tiếp. Nó nhanh hơn FPM RAM khoảng 5%. Tốc độ truyền giữa nó và cache L2 khoảng 264 MBps.

    SDRAM (Synchronous dynamic RAM): có một sự đột phá đáng kể trong việc cải thiện và tăng tốc độ thực thi. Nó lưu giữ các hàng đang chứa dữ liệu được yêu cầu thêm một thời gian và di chuyển mau lẹ xuyên qua các cột, đọc mỗi bit khi nó đi qua. Phần lớn thời gian dữ liệu cần thiết bởi CPU sẽ được nối tiếp liên tục. SDRAM nhanh hơn EDO RAM khoảng 5% và là 1 dạng phổ biến trong các máy desktop hiện nay. Tốc độ truyền giao tối đa giữa nó và cache L2 khoảng 528MBps.

    DDR SDRAM (Double data rate synchronous dynamic RAM): giống như SDRAM tuy nhiên nó có băng thông rộng hơn, nghĩa là tốc độ nhanh hơn. Tốc độ truyền giao tối đa giữa nó với cache L2 khoảng 1064 Mbps (đối với DDR SDRAM 133 MHZ).

    RDRAM (Rambus dynamic RAM): là sự chuyển hướng cơ bản từ kiến trúc DRAM. Được thiết kế bởi Rambus. RDRAM sử dụng module nhớ Rambus in-line memory module (RIMM), có kích thước và cấu hình pin giống như DIMM chuẩn. Điều làm cho RDRAM thực sự khác biệt là việc sử dụng bus dữ liệu tốc độ cao đặc biệt được gọi là kênh Rambus. Chip nhớ RDRAM làm việc trong chế độ song song để lưu trữ dữ liệu ở tốc độ 800 MHz hay 1600 Mbps.

    Credit Card Memory: một module nhớ DRAM độc lập và thuộc quyền sở hữu duy nhất được cắm vào 1 khe đặc biệt dùng trong các máy tính notebook.

    PCMCIA Memory Card: một module nhớ DRAM độc lập loại khác dùng cho các máy tính notebook, các thẻ loại này có thể dùng trên bất cứ máy nào mà hệ thống hỗ trợ và phù hợp.

    CMOS RAM: Là một thuật ngữ chỉ dành cho các RAM với dung lượng nhỏ được sử dụng trong máy tính hay các thiết bị khác để lưu giữ các thiết lập chi tiết cho ổ cứng chẳng hạn. Bộ nhớ loại này cần pin nuôi để duy trì thông tin mà nó lưu giữ.

    VRAM (VideoRAM) hay multiport dynamic (MDRAM) được sử dụng cho mục đích đặc biệt trong các bộ điều hợp video (video adapter) hay trong bộ tăng tốc 3-D. Từ "multiport" (đa cổng) xuất phát từ thực tế VRAM có 2 cổng truy cập độc lập chứ không phải 1 cổng, điều đó cho phép CPU và bộ xử lý đồ họa có thể truy cập RAM cùng lúc. VRAM được gắn trên cạc đồ họa và có rất nhiều loại và của nhiều hãng khác nhau. VRAM cũng thường được sử dụng để lưu giữ thông tin đồ họa chuyên biệt như dữ liệu hình học 3D và bản đồ. VRAM đa cổng thực sự rất đắt, bởi vậy thay vào đó người ta sử dụng cạc đồ họa dùng SGRAM (synchronous graphics RAM: Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên đồ họa đồng bộ). Tốc độ thực thi là gần giống nhau nhưng giá thì rẻ hơn.
    Dung lượng của VRAM được quyết định hệ số trong độ phân giải và độ sâu màu.

  4. #4
    LionKing
    Guest

    Mặc định

    Tôi cần bao nhiêu RAM?

    Thật là tiếc vì chúng ta hầu như không bao giờ đủ RAM, và dường như việc sử dụng đúng RAM cũng vậy, đặc biệt đối với những người hay phải làm việc với đồ họa mạnh hay chơi game. Ngoài CPU ra thì RAM cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện tốc độ thực thi. Nếu bạn không có đủ RAM, thì việc tăng lượng RAM trước tiên có lẽ tốt hơn nhiều so với việc mua một CPU mới.

    Nếu hệ thống của bạn trả lời chậm chạp hoặc truy cập ổ cứng liên tục, bạn cần tăng thêm RAM. Với Win98/ME bạn cần tối thiểu 32MB RAM, mức trung bình là 64MB. Windows NT/2000 cần tối thiểu 64MB, mức trung bình là 128MB. Còn Windows XP/2003 cần từ 128MB trở lên. Với giá thị trường hiện tại thì việc sắm 1 thanh RAM 128MB chắc không quá mắc đối với bạn mà lại đảm bảo an toàn cho hệ thống.

    Linux có thể làm việc hoàn toàn bình thường chỉ với 4MB RAM (tất nhiên là xưa lắm rồi). Nếu bạn có ý định sử dụng thêm X-Windows hay một số chương trình khác bạn phải có tối thiểu là 64MB, Linux 8.0 cần trung bình là 128MB, Linux 9.0 cần trung bình là 256MB.

    Lượng RAM trong danh sách liệt kê ở trên được áp dụng đối các công việc thông thường như: truy cập Internet, soạn thảo văn bản, các ứng dụng văn phòng/gia đình thông dụng và giải trí nhẹ. Nếu bạn phải thiết kế CAD, xử lý hình ảnh, hoạt ảnh 3D... hoặc chơi game loại "nặng" thì chắc chắn điều bạn mong muốn nhất là tăng RAM. Bạn cũng cần tăng RAM nếu như máy của bạn được dành làm server (Web pagem, database, FTP...)

    Một câu hỏi khác được nhiều bạn quan tâm là bao nhiêu VRAM trên video card thì đủ?. Hầu hết các cạc hiện giờ đều có "rất" tối thiểu là 8M, trung bình là 32M. Khi mua cạc video cũng xin bạn lưu ý xem màn hình của mình có tương thích hay hỗ trợ loại cạc mà bạn chọn không.

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Web Directory Overview New Pharmacy Directory
    Gửi bởi Webdirr trong mục Chia sẻ kinh nghiệm
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 29-06-2007, 01:12 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube