User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/4 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 33

Chủ đề: Bộ môn Tự động hoá XNCN - Ngày ấy - Bây giờ

  1. #1
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định Bộ môn Tự động hoá XNCN - Ngày ấy - Bây giờ

    Tự động hoá đang là một ngành "hot" nhất hiện nay của Bách Khoa và của Việt Nam. Bộ môn TĐH XNCN của ĐH BKHN luôn là một địa chỉ uy tín với các nhà tuyển dụng và là mục tiêu phấn đấu của nhiều thế hệ sinh viên.

    Tuy nhiên, những thông tin cần biết về bộ môn cũng như một số điều thú vị về những ngày đầu thành lập bộ môn thì không phải ai cũng biết và có điều kiện để biết.

    Năm ngoái, 2007, kỉ niệm 45 năm thành lập bộ môn Tự động hoá - Điện khí hoá, tôi với tư cách là lớp trưởng được mời đến dự và có được một số tài liệu về bộ môn. Thiết nghĩ những thông tin đó là cần thiết với nhiều người, nay đưa lên đây, hi vọng có thể giúp các bạn thêm hiểu và thêm yêu bộ môn TĐH XNCN.

    When a scientist thinks of something, he asks: "Why?"
    When an engineer thinks of something, he asks: "Why not?




  2. Tớ cảm ơn baohuy_pla đã chia sẻ.


  3. #2
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định Lời tựa

    LỜI TỰA

    Sự ra đời và phát triển của Bộ môn Tự động hóa gắn liền với công cuộc xây dựng đất nước với sự phát triển ngày càng hiện đại của nền công nghiệp của Việt Nam. Bộ môn Điện khí hóa đựợc thành lập tháng 5-1962 trong điều kiện khó khăn nhân lực và về cơ sở vật chất. Được sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường, với tâm huyết của người Thầy và tinh thần phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ, thầy cô giáo của Bộ môn, một năm sau ngày thành lập, Bộ môn Điện khí hóa vinh dự là 1 trong 5 đơn vị của trường ĐHBK Hà nội đã được công nhận là tổ Lao động XHCN. Lớp kỹ sư Điện khí hóa khóa đầu tiên (1964) đã đáp ứng kịp thời yêu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thầy và trò của Bộ môn Điện khí hóa đã khắc phục vô vàn khó khăn để dạy tốt, học tốt và tham gia phục vụ chiến đấu và sản xuất. Đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới, Bộ môn Tự động hóa đã có bước phát triển cao hơn với đôi ngũ cán bộ, thầy cô giáo có trình độ cao , với các trang thiết bị mới hiện đại, tiếp tục thực hiện xuất sắc nhiêm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

    Nhìn lại 45 năm qua, từ buổi đầu thành lập với tên gọi Điện khí hóa, Bộ môn Tự động hóa đã có những đóng góp quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực Điện khí hóa - Tự động hóa cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Các thế hệ Thầy cô giáo của Bộ môn, các thế hệ Sinh viên của ngành Điện khí hóa – Tự động hóa đã xây dựng nên truyền thống đáng tự hào của Bộ môn Tự động hóa và góp phần vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Trường ĐHBK Hà nội.

    Với mong muốn được lưu trữ lại những tư liệu quí cho các mai sau và là môt việc làm thiết thực kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Bộ môn, Lãnh đạo Bộ môn Tự động hóa đã mạnh dạn biên soạn cuốn kỷ yếu này. Cuốn kỷ yếu Bộ môn Tự động hóa sẽ giúp cho các thế hệ thầy cô giáo, các thế hệ cựu sinh viên và sinh viên của ngành Điện khí hóa – Tự động hóa hiểu được những sự kiện, những nét có bản về quá trình hình thành , xây dựng và phát triển của Bộ môn Tự động hóa XNCN.

    Trong quá trình biên soạn chúng tôi đã nhận được nhiều tư liệu quí, nhiều sự đóng góp quý báu của cácthầy cô giáo là lãnh đạo Đảng, chính quyền, Công đoàn Bộ môn qua các thời kỳ, các cán bộ, thầy cô giáo đã công tác tại Bộ môn Điện Khí hóa trước đây, đã và đang làm việc ở Bộ môn Tự động hóa hiện nay và các cựu sinh viên. Ban biên tập trân trọng cảm ơn sự đóng góp đó. Ban biên tập cũng chân thành cảm ơn sự đóng góp của các cán bộ và thầy cô giáo của Bộ môn Tự động hóa đã soạn thảo, trình bày cuốn kỉ yếu.

    Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng thu thập tư liệu, quyển kỉ yếu đầu tiên này sẽ chưa đầy đủ các thông tin và sự kiện về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Bộ môn Tự động hóa trong 45 năm qua. Do trình độ và khả năng có hạn, nên lần xuất bản đầu tiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Ban biên tập mong nhận được các ‎ ý kiến đóng góp về các thông tin, sự kiện và nội dung của quyển kỉ yếu để lần tái bản tới sẽ hoàn thiện và phong phú hơn, tương xứng với sự phát triển và vị thế của Bộ môn Tự động hóa XNCN, Trường ĐHBK Hà nội hiện nay.

    Tháng 5 – 2007
    Bộ môn Tự động hóa XNCN
    Trường ĐHBK Hà Nội

  4. #3
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định Sơ Lược Quá Trình Hình Thành, Xây Dựng Và Phát Triển Của Bộ Môn Tự động Hóa (1962-2007)

    Bộ môn Điện khí hóa xí nghiệp giai đoạn đầu (1962-1964): Thành lập và ổn định

    Trường Đaị học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBKHN) được thành lập ngày 6 tháng 3 năm 1956 và khai giảng khóa đầu tiên ngày 15 tháng 10 năm 1956 với 1000 sinh viên chính quy của 14 ngành học thuộc 4 liên khoa Cơ-Điện, Mỏ-Luyện kim, Xây dựng và Hóa-Thực phẩm. Khoa Điện được thành lập cùng với ngày thành lập Trường trong liên khoa Cơ-Điện và được tách thành khoa độc lập từ tháng 9 năm 1958. Ban đầu Khoa Điện gồm 3 khối ngành chính là Điện, Nhiệt và Vô tuyến điện.

    Năm 1960 thầy Tạ Bá Miên là Phó Phòng Giáo vụ được giao nhiệm vụ chuẩn bị cán bộ và tài liệu cho mở ngành Điện khí hóa xí nghiệp (ĐKHXN) của Trường ĐHBKHN. Thầy Tạ Bá Miên đã mời các thầy Nguyễn Bính và thầy Nguyễn Nam Tặng tốt nghiệp ở Trung Quốc tham gia vào công việc chuẩn bị mở ngành ĐKHXN.

    Thời gian đầu về Trường ĐHBKHN, thầy Bính và thầy Tặng tham gia công tác giảng dạy ở Bộ môn Kỹ thuật điện và tích cực chuẩn bị các tư liệu cho việc thành lập Bộ môn ĐKHXN. Ngày 20 tháng 5 năm 1962, Bộ môn ĐKHXN được quyết định thành lập với đội ngũ cán bộ của Bộ môn ban đầu gồm 5 thầy: 4 cán bộ giảng dạy là các thầy Nguyễn Bính (Trưởng Bộ môn đầu tiên), Nguyễn Nam Tặng, Nguyễn Thành, Hồ Khắc Thiệu và 1 cán bộ phục vụ giảng dạy là đồng chí Hoàng Tất Hưng. Cuối năm 1962, Bộ môn được bổ sung thầy Lê Đình Anh tốt nghiệp khóa 3 Khoa Điện. Bộ môn bắt đầu đào tạo ngành ĐKHXN từ khóa 5 của Trường gồm 42 sinh viên được chọn từ các sinh viên học năm thứ hai ngành Phát dẫn điện. Kể từ đó ngày 20 tháng 5 trở thành ngày hội truyền thống của ngành Điện khí hóa - Tự động hóa Trường ĐHBKHN.

    Các môn học chuyên ngành ban đầu của ngành bao gồm: Truyền động điện, Trang bị điện máy công nghiệp do thầy Nguyễn Bính, Tạ Bá Miên, Lê Đình Anh dạy, Khí cụ điện do thầy Hồ Khắc Thiệu dạy, Lý thuyết điều khiển tự động do thầy Nguyễn Nam Tặng dạy, môn Cung cấp điện XNCN do thầy Võ Viết Đạn (Bộ môn Phát dẫn điện) phụ trách và môn Điện tử công nghiệp do thầy Ngô Đức Dũng (Khoa Vô tuyến điện) giảng dạy. Thầy Nguyễn Thành thời gian đầu là phụ giảng môn Cung cấp điện và hướng dẫn thực tập gần 20 sinh viên tại khu gang thép Thái Nguyên.

    Theo quy hoạch ban đầu của trường do Liên Xô thiết kế không có ngành ĐKHXN, vì vậy cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm buổi ban đầu rất đơn sơ. Bộ môn được sử dụng 5 gian nhà cấp 4 thuộc dãy 18 khu trường cũ. Bộ môn Kỹ thuật điện cung cấp một số động cơ điện, máy phát và một số vật tư phụ tùng. Bằng sự cố gắng nỗ lực hết mình của tập thể các thầy, cán bộ bộ môn và sinh viên, sau một thời gian ngắn, Bộ môn đã xây dựng được 6 bàn thí nghiệm cơ bản đầu tiên về Truyền động điện và Trang bị điện.

    Năm 1963, Bộ môn dần được bổ sung nhân lực và các môn học mới. Hai thầy Nguyễn Công Hiền và thầy Nguyễn Trọng Thuần tốt nghiệp khóa 4 Khoa Điện, tiếp đó là thầy Nguyễn Thương Ngô tốt nghiệp ở Liên Xô đã về công tác ở Bộ môn. Môn học Trang bị điện thiết bị luyện kim được đưa vào giảng dạy do thầy Nguyễn Thương Ngô, Nguyễn Thành và thầy Nguyễn Trọng Thuần phụ trách, Thầy Nguyễn Công Hiền dạy môn Cung cấp điện. Bộ môn được bổ sung hai cán bộ cho phòng thí nghiệm là đồng chí Nguyễn Lê Trung và Trần Ánh Tuyết tốt nghiệp Trường Trung cấp Kĩ thuật I về.

    Với sự cố gắng hết mình, sự tâm huyết với nghề nghiệp, tinh thần làm việc hăng say, tất cả vì sự nghiệp xây dựng và ổn định của Bộ môn buổi ban đầu, các thầy giáo thế hệ đầu tiên của Bộ môn đã vượt qua mọi khó khăn về cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thiếu thốn về tài liệu,… để soạn bài giảng và giảng dạy, xây dựng Bộ môn cho đào tạo khóa sinh viên đầu tiên của ngành. Cuối năm 1964 khóa sinh viên đầu tiên của ngành ĐKHXN (khóa 5 của Trường) tốt nghiệp đánh dấu một điểm mốc rất quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển của Bộ môn và ngành Tự động hóa của Trường ĐHBKHN.


    Đồng chí Trần Duy Hưng, Chủ tịch Thành phố Hà Nội trao tặng phẩm cho 5 Tổ Lao động XHCN năm học 1963-1964. Thầy Nguyễn Thành, người đứng thứ 3 từ bên trái, đại diện cho Bộ môn nhận tặng phẩm.

    Các kỹ sư ĐKHXN khóa đầu tiên ra trường kịp thời đáp ứng nhu cầu về nhân lực cán bộ kỹ thuật của nền công nghiệp đang ở thời kỳ kế hoạch hóa 5 năm lần thứ nhất. Bộ môn được bổ sung 4 thầy tốt nghiệp khóa 5 gồm 3 thầy ngành ĐKHXN: Bùi Đình Tiếu, Lê Tòng và Nguyễn Dư Xứng và thầy Nguyễn Mộng Hùng ngành Vô tuyến điện làm cán bộ giảng dạy. Cô Lê Thị Tuyết tốt nghiệp từ Trường Trung học Kỹ thuật I được tuyển làm kỹ sư phòng thí nghiệm.

    Do có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, Bộ môn ĐKHXN đã được công nhận là Tổ Lao động Xã hội Chủ nghĩa cùng 4 đơn vị khác của Trường ĐHBKHN lần đầu vào năm học 1963-1964 và liên tục hơn 10 năm sau đó.

  5. #4
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    Giai đoạn 1965-1974: Đào tạo và xây dựng, bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam

    Sau khi khóa sinh viên đầu tiên của Bộ môn tốt nghiệp, Bộ môn tiếp tục được củng cố về mọi mặt, vừa đảm bảo sự ổn định và phát triển trong đào tạo vừa tham gia vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.

    Các năm tiếp theo, Bộ môn tiếp tục bổ sung nhân lực cán bộ giảng dạy là các kỹ sư tốt nghiệp loại giỏi của ngành ĐKHXN. Các thầy cô giáo Bộ môn tiếp tục hoàn thiện bài giảng, giáo trình cho các môn học đã có và chuẩn bị đưa vào giảng dạy các môn học mới.

    Các thầy cô giáo Bộ môn làm thí nghiệm mẫu Truyền động điện (năm 1965)

    Năm 1966, Bộ môn chuyển văn phòng và phòng thí nghiệm từ dẫy nhà 18 ban đầu lên làm việc nhà C. Các phòng thí nghiệm đặt ở tầng hầm nhà C, tầng 2 là phòng làm việc. Từ đây, các thí nghiệm cơ bản ban đầu của Bộ môn dần được đổi mới, nâng cấp. Năm 1966, hai bàn thí nghiệm truyền động điện mới với hệ phụ tải động theo mô hình của Liên xô đã được xây dựng. Các thí nghiệm đó đã góp phần đào tạo hàng nghìn kỹ sư từ khóa 10 của Bộ môn. Cuối năm 1971, sau thời gian di chuyển, sơ tán chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, rồi trở lại Hà Nội, Bộ môn chính thức được chuyển về nhà C9 khu trường mới gồm 5 phòng ở tầng 1, tầng 2 nhà C9 như hiện nay; 1 phòng ở tầng 2 C9, sau này bàn giao cho Bộ môn Điều khiển tự động. Năm 1968, lớp tại chức đầu tiên ngành ĐKHXN gồm 23 sinh viên đã làm lễ tốt nghiệp, mở ra một loại hình đào tạo kỹ sư ĐKHXN từ các đối tượng đang là người trực tiếp sản xuất.

    Trong giai đoạn này, Đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc, cùng với toàn trường, Bộ môn chuyển sang thực hiện nhiệm vụ đào tạo trong thời chiến: vừa thực hiện nhiệm vụ đào tạo với khối lượng ngày càng tăng, vừa tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đại đội tự vệ của Khoa Điện gồm các thầy do thầy Nguyễn Bính và thầy Trần Văn Tảo chỉ huy vừa giảng dạy vừa sẵn sàng tham gia chiến đấu đánh trả máy bay địch từ các hào công sự trên nóc nhà A1, A3 bằng các khẩu súng trường thô sơ.


    Ảnh các thầy cô giáo Bộ môn chụp năm 1973

    Thực hiện chủ trương của Trường, năm 1966 Bộ môn chia làm hai bộ phận: Bộ phận sơ tán ở hai điểm Lạng Sơn và Hà Bắc và một bộ phận đưa sinh viên năm cuối đi thực tập ở các cơ sở thực tập xung quanh Hà Nội. Khóa 7A, 7B và khóa 8 đang và sắp làm tốt nghiệp tiếp tục bám trụ gần Trường. Các khóa 9, 10 và lớp chuyên tu được lệnh sơ tán đến Lạng Sơn, vùng chiến khu Việt Bắc ngày xưa. Khu C (ĐHBKHN), H2 (ký hiệu của Khoa Điện) được hình thành từ đó. Tại Khu H2 Lạng Sơn, trong một ngôi nhà lá độc lập, bộ môn vẫn duy trì tất cả các hoạt động học thuật, giảng dạy khóa 9, 10. Các tài liệu, thiết bị quý được đóng hòm vận chuyển lên và bảo quản tại đây. Các giờ giảng cùng các giờ thí nghiệm Truyền động điện, Tự động khống chế truyền động điện, Trang bị điện vẫn được thực hiện trong những gian nhà lá do các thầy và sinh viên tự xây dựng bên cạnh sông Kỳ Cùng hiền hòa. Nguồn điện được cung cấp từ các “Lô cô” do Bộ môn Nhiệt cung cấp. Tháng 6 năm 1969, các lớp khóa 9, lớp chuyên tu chuyển về sơ tán ở Hải Phòng, sau đó về Hiệp Hòa (Hà Bắc). Các khóa sinh viên này phải học tập trong điều kiện khó khăn của chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ. Các thầy cô giáo của Bộ môn do phải phụ trách môn học năm cuối, hướng dẫn thiết kế tốt nghiệp khóa 8, 9, 10 nên phải đi lại rất nhiều lần từ Hà Nội lên Lạng Sơn, Hà Bắc.

    Đầu những năm 70, Nhà trường được trang bị máy tính điện tử MINSK và Bộ môn được trang bị máy tính tương tự, Bộ môn đã bổ sung hai môn học Kỹ thuật tính trên máy tính số và Mô hình hóa các hệ thống tự động trên máy tính tương tự do thầy Nguyễn Bính biên soạn bài giảng và giảng dạy, thầy Nguyễn Văn Đức tham gia giảng dạy và hướng dẫn thực hành.

    Trong thời gian chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, Bộ môn luôn giữ vững chỉ tiêu tuyển sinh, giảng dạy tốt lý thuyết. Các thầy giáo của Bộ môn đưa sinh viên đi thực tập phục vụ sản xuất. Các thầy giáo cùng sinh viên ngành ĐKHXN đã phục hồi các thiết bị máy móc ở một số nhà máy (Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy cơ khí Giải Phóng…) và khắc phục hậu quả lũ lụt năm 1971. Trong giai đoạn 1971-1973, các thầy Nguyễn Bính và Trịnh Đình Đề tham gia đề tài khoa học cấp Nhà nước GK1 “Nghiên cứu phá thủy lôi điều khiển của Mỹ” do GS.TSKH. Vũ Đình Cự làm chủ nhiệm. Đề tài GK1 được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, thầy Nguyễn Bính được thưởng Huân chương chiến công hạng 3, thầy Trịnh Đình Đề được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

  6. #5
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    Giai đoạn 1975-1983: Thời kỳ củng cố và phát triển

    Trong giai đoạn này, Bộ môn đã được tăng cường về cán bộ cả về số lượng và chất lượng. Một số thầy giáo của Bộ môn đã được đào tạo Phó tiến sĩ ở nước ngoài về. Năm 1980, thầy Nguyễn Bính được phong chức danh Phó Giáo sư đầu tiên của Bộ môn. Các môn học cơ bản của Bộ môn như Truyền động điện, Trang bị điện, Điều khiển tự động truyền động điện đã có đủ giáo trình và các bàn thí nghiệm do cán bộ Bộ môn và sinh viên tự xây dựng. Năm 1975, môn học Điện tử công suất, sau này là một trong những môn học xương sống của ngành được giảng dạy đầu tiên cho khóa 18 do thầy Nguyễn Bính, Dương Văn Nghi dạy. Môn học Vi xử lý bắt đầu được giảng dạy năm 1982 và môn học Tổng hợp hệ truyền động điện hiện đại được giảng dạy cho khóa 22 do thầy Nguyễn Trọng Thuần giảng.

    Phòng thí nghiệm được đổi mới, các bàn thí nghiệm Truyền động điện và Điều khiển Lôgíc đã được hoàn thiện và xây dựng mới phục vụ tốt cho công tác đào tạo trong bối cảnh Nhà trường và Bộ môn rất khó khăn về kinh phí. Với những thành tích đạt được trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, năm 1981 Bộ môn được tặng thưởng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

    Năm 1976, một nhóm cán bộ của bộ môn gồm các thầy Nguyễn Nam Tặng, Lê Đình Anh, Nguyễn Thương Ngô, Phạm Công Ngô, Lê Thành Lân được tách ra để thành lập Bộ môn Điều khiển tự động. Bộ môn ĐKHXN lúc đó còn 16 cán bộ và do PGS. Bùi Đình Tiếu là Trưởng Bộ môn.

    Năm 1983, theo cơ chế quản lý 2 cấp của Nhà trường, Bộ môn lớn Tự động hóa được thành lập do PGS. Nguyễn Bính làm Chủ nhiệm Bộ môn, GS. Nguyễn Trọng Thuần là Phó Chủ nhiệm Bộ môn lớn và phụ trách tổ Điện khí hóa của Bộ môn lớn.



    Ảnh các thầy cô giáo Bộ môn chụp năm 1979

    Sau khi đất nước được thống nhất, Bộ môn cũng bước sang thời kì mới: tự hoàn thiện mình, góp phần khôi phục hậu quả chiến tranh và góp phần vào công tác đào tạo đại học ở miền nam. Liên tục từ năm 1977 đến năm 1981, theo yêu cầu của Bộ Đại học, Bộ môn đã cử nhiều thầy giáo vào thỉnh giảng tại các trường ĐH Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, Đà nẵng, ĐH Kỹ thuật Thủ Đức. Các thầy Nguyễn Nam Tặng, Nguyễn Lê Trung, Nguyễn Dư Xứng, Nguyễn Mộng Hùng được chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh giảng dạy, thầy Nguyễn Mạnh Hà bổ sung cho Đại học Bách Khoa Đà nẵng.

  7. #6
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    Giai đoạn 1983-1992: Thời kì tổ chức hai cấp

    Bộ môn có nhiều đổi mới về chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ và chương trình đào tạo, phòng thí nghiệm. Hàng năm lựa chọn sinh viên tốt nghiệp xuất sắc làm cán bộ giảng dạy đã đảm bảo cho Bộ môn không hẫng hụt cán bộ sau này và bổ xung lực lượng trẻ năng động cho đội ngũ thầy cô giáo. Các môn học được cải tiến nội dung và cập nhật kiến thức mới như: Vi xử lý, Tổng hợp hệ điện cơ,…

    Năm 1987, theo chủ trương quản lý hai cấp của Nhà trường, các khoa trực thuộc trường được thành lập. Trên cơ sở Bộ môn ĐKHXN, để đáp ứng với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa trên nền tảng nền công nghiệp có mức độ tự động hóa ngày càng cao, Khoa Tự động hóa được thành lập do GS. Nguyễn Trọng Thuần làm Trưởng Khoa; sau đó là GS. Nguyễn Công Hiền làm Trưởng Khoa.

    Hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo hệ đại học chính quy, Khoa Tự động hóa bắt đầu đào tạo khóa cao học đầu tiên vào năm 1991-1992.

    Đây là thời kì khó khăn chung của cả nước và ngành giáo dục, nhưng tập thể cán bộ Khoa Tự động hóa đã luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với sự nghiệp đào tạo, cố gắng vượt qua các khó khăn, đảm bảo chất lượng đào tạo, tích cực nghiên cứu khoa học, tham gia các đề tài lớn của Nhà nước về Tự động hóa. Các cán bộ Khoa Tự động hóa đã chủ trì và tham gia 3 đề tài trong chương trình Tự động hóa 52B-01-04, 52B-01-05 và 52B-02-03 với kết quả nghiệm thu xuất sắc. Các kết quả nghiên cứu đã được triển khai ứng dụng trong thực tế như: bộ khởi động động cơ công suất lớn ở các trạm bơm, các thiết bị tự động hóa trong dây chuyền sản xuất đường,… Bộ môn cũng chủ trì và tham gia các công trình đưa các nhà máy có mức độ tự động hóa cao như Xi măng Hoàng Thạch, Đường Lam Sơn, Sữa Dielac,… vào vận hành theo đúng thiết kế khi các chuyên gia nước ngoài đã về nước.

  8. #7
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    Giai đoạn 1993 đến nay: Đổi mới và phát triển tiến tới hội nhập

    Do nhu cầu đào tạo nhân lực Tự động hóa của đất nước ngày càng cao, số lượng sinh viên của Khoa Tự động hóa ngày càng tăng với chất lượng đầu vào ngày càng tốt so với các ngành khác trong trường. Từ khóa 41, số lượng sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy ngành Tự động hóa hàng năm lớn hơn 100 với chất lượng tốt. Khối lượng giảng dạy hàng năm tăng, khối lượng bình quân của một cán bộ gấp 2,5 lần khối lượng định mức. Từ năm 2000, số lượng học viên cao học và nghiên cứu sinh hàng năm là 20-30, trong đó có 4-5 nghiên cứu sinh.

    Giai đoạn này, Bộ môn được phép mở rộng các loại hình đào tạo. Ngoài hệ chính quy ban ngày và tại chức, Năm 1993, khóa cao đẳng đầu tiên khai giảng, hàng năm tiếp theo, Bộ môn tuyển sinh hàng trăm sinh viên hệ cao đẳng. Tháng 10 năm 2003, khai giảng khóa kỹ sư văn bằng hai (KS2) ngành Tự động hóa đầu tiên với 130 sinh viên với chương trình đào tạo 2,5 năm. Các năm tiếp theo, trung bình mỗi năm, Bộ môn khai giảng 2 khóa đào tạo KS2.

    Tháng 12 năm 1995, Trường ĐHBKHN chuyển từ cơ chế 2 cấp về cơ chế 3 cấp, Bộ môn trở thành Bộ môn Tự động hóa XNCN và là một trong các bộ môn có số lượng cán bộ và sinh viên đông nhất trong Khoa Điện. Trình độ chuyên môn và uy tín của đội ngũ cán bộ Bộ môn ngày càng nâng cao. Hai thầy được phong chức danh Giáo sư và ba thầy được phong chức danh Phó giáo sư. Ba thầy được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Một số cán bộ trẻ của Bộ môn được cử đi đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ ở nước ngoài. Trong điều kiện khối lượng công việc lớn, khó khăn về kinh phí và thiết bị, tài liệu, cán bộ Bộ môn đã không ngừng nghiên cứu và học tập nâng cao trình độ chuyên môn: 2 cán bộ Bộ môn đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ ở nước ngoài; 3 cán bộ Bộ môn đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ trong nước và 2 cán bộ bảo vệ luận văn Thạc sĩ trong nước.

    Chương trình đào tạo của Bộ môn luôn được đổi mới. Một số môn học mới là Tự động hóa quá trình sản xuất, Mô hình hóa, Tin học chuyên ngành, Robot công nghiệp, Kỹ thuật lập trình được đưa vào giảng dạy cho hệ chính quy, sau đó là hệ tại chức; môn Lôgic mờ và điều khiển mờ, Điều khiển ghép nối máy tính được giảng dạy cho hệ chính quy. Năm 2002, chương trình đào tạo khóa 46 đã được đổi mới cập nhật. Năm 2004, chương trình đào tạo từ K48 đã được xây dựng theo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản (Truyền động điện, Điện tử công suất, Vi xử lý), mềm hóa phần cứng (Tin học hóa và máy tính hóa, Kỹ thuật lập trình, Máy tính điều khiển), hệ thống hóa tương thích với nền sản xuất phát triển (Robot, Hệ điều khiển phân tán, Hệ điều khiển thông minh), tăng cường tỉ lệ thực hành trong nội dung các môn học. Một số môn được bổ xung vào chương trình đào tạo từ K48 là CAD-CAM, Điều khiển số, Mạng truyền thông công nghiệp… Năm 2006, theo kế hoạch của Trường, Bộ môn xây dựng chương trình đào tạo theo tín chỉ với mục đích tạo cho người học có điều kiện thuận lợi hơn trng việc hoàn thành khóa học, chương trình mềm dẻo và nâng cao tính cập nhật kiến thức mới phù hợp với yêu cầu mới của sản xuất công nghiệp. Một số môn học tự chọn được bổ xung như: Điều khiển tối ưu, Điều khiển thích nghi, Điều khiển bền vững, Hệ thống điều khiển DCS, Tự động hóa các dây chuyền cán thép, nhà máy nhiệt điện, dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng, Cơ điện tử,…

    Để nâng cao chất lượng đào tạo với tăng tính thực hành, từ năm 2003 Bộ môn đã có chủ trương và kế hoạch sắp xếp lại các phòng thí nghiệm, đổi mới và nâng cấp các bàn thí nghiệm. Năm 2004 đổi mới và nâng cấp các bàn thí nghiệm cơ bản Truyền động điện, Điều khiển lôgic. Năm 2004-2005, Bộ môn được trang bị phòng thí nghiệm Truyền động điện – Điện tử công suất hiện đại, Năm 2005-2006 xây dựng các bàn thí nghiệm Vi xử lý, bàn thí nghiệm PLC, Tự động hóa quá trình sản xuất. Và đến cuối năm 2006, Bộ môn đã có đủ các phòng thí nghiệm cơ bản của chương trình đào tạo. Cũng trong năm 2006, Bộ môn đã được tăng thêm diện tích 80 m2 ở tầng 2 nhà C9 tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đào tạo, nghiên cứu khoa học.

    Trong giai đoạn này, tập thể cán bộ Bộ môn đã chủ trì và tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và các đề tài cấp Bộ, các dự án cấp Nhà nước. Dự án cấp Nhà nước đã có sản phẩm “Tủ kích từ điều khiển số cho máy phát nhà máy thủy điện” đã được cấp bằng sáng chế độc quyền, là một trong hai bằng sáng chế mà Trường ĐHBK nhận được trong khoảng 10 năm trở lại đây. Tổng số kinh phí của các đề tài nghiên cứu khoa học và dự án đến hàng tỷ đồng.

    Quan hệ của Bộ môn với các bộ môn đào tạo ngành Tự động hóa trong nước đã được củng cố và phát triển. Năm 2000, Bộ môn đã kết nghĩa với Bộ môn Tự động điện công nghiệp Trường Đại học Hàng Hải. Từ năm 2003, Hội thảo khoa học giữa các bộ môn đào tạo ngành Tự động hóa phía Bắc được tổ chức hàng năm với nội dung trao đổi chương trình đào tạo, giáo trình, kinh nghiệm tổ chức giảng dạy và các vấn đề về hướng nghiên cứu.
    Với những thành tích đạt được trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong dịp lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Bộ môn, Bộ môn được tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba. Và trong các năm tiếp theo được tặng thưởng Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ.


    Lễ tiễn thầy Trịnh Đình Đề và thầy Hoàng Tất Hưng về hưu năm 1999


    Các cô giáo Bộ môn qua các thời kì

  9. #8
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    THÀNH TÍCH ĐÀO TẠO

    VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Đào tạo


    45 năm xây dựng và phát triển, Bộ môn Điện khí hóa – Tự động hóa đã đào tạo 17 Tiến sĩ, 200 Thạc sĩ, 6000 Kỹ sư và Cử nhân cao đẳng.
    TT
    Hệ đào tạo
    Khóa / giai đoạn
    Tổng số khóa
    Số lượng
    1
    Thạc sĩ
    1991-2006
    200
    2
    Tiến sĩ
    1992-2006
    17
    3
    Hệ Đại học chính quy
    K05-K47
    43
    2260
    4
    Hệ Đại học tại chức
    K04-K42
    39
    2460
    5
    Hệ KS chính quy bằng 2
    01- 03
    3
    130
    6
    Hệ cao đẳng
    1-11 / K43-K48
    11
    1845
    Các đề tài nghiên cứu khoa học

    Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước:

    TT
    Mã số
    Tên đề tài
    Giai đoạn
    Chủ trì,
    (tham gia)
    1
    GK1
    Phá hủy thủy lôi và bom từ trường
    1971-1973
    (Nguyễn Bính, Trịnh Đình Đề)
    2
    52B-01-04
    Khởi thảo phương pháp xây dựng Tự động hóa ở Việt nam
    1986-1990
    Ng. Trọng Thuần
    3
    52B-01-05
    Tự động hóa trong công nghiệp thực phẩm
    1986-1990
    (Trịnh Đình Đề)
    4
    52B-02-03
    Điện tử công suất
    1986-1990
    Bùi Quốc Khánh
    5
    KC-02-07
    Ứng dụng vi xử lý điều khiển số động cơ xoay chiều
    1991-1995
    Ng. Trọng Thuần
    6
    KHCN-04-03
    Tự động hóa các công nghệ liên tục và công nghệ lai
    1996-1998
    Ng. Công Hiền
    7
    KHCN-10-04
    Nghiên cứu thiết kế chế tạo hệ thống thiết bị điều khiển thông minh phục vụ TĐH và bảo vệ môi trường
    1996-2000
    Ng. Công Hiền
    8
    KC-03-07
    Nghiên cứu thiết kế chế tạo các thiết bị và hệ thống thông minh phục vụ đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực TĐH và các công nghệ cao khác thay cho nhập ngoại
    Bộ môn chủ trì 3 đề tài nhánh.
    2001-2005
    Ng. Công Hiền






    Ng. Công Hiền
    Ng. Văn Liễn
    Ng. Mạnh Tiến
    9
    KC-03-03-04
    Nghiên cứu xây dựng hệ điều khiển cho dây chuyền thức ăn chăn nuôi
    2001-2005
    Bùi Quốc Khánh
    Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:

    TT
    Mã số
    Tên đề tài
    Giai đoạn
    Chủ trì
    1
    B93-01-33
    Nghiên cứu hệ điều khiển tự động hóa quá trình công nghệ
    1993-1995
    Nguyễn Công Hiền
    2
    B83-96
    Hệ truyền động điện động cơ đồng bộ cấp từ nguồn dòng chuyển mạch tự nhiên
    1996-1997
    Bùi Quốc Khánh
    3
    Ứng dụng truyền động điện trong điều tốc tuốc bin thuỷ điện nhỏ
    1997-1998
    Nguyễn Văn Liễn
    4
    B-2004-28-145
    Chế tạo bộ điều khiển số cho truyền động động cơ không chổi than
    2004-2005
    Võ Minh Chính
    5
    VLIR-HUT
    Nghiên cứu thiết kế bộ điều khiển số cho máy CNC
    2003-2006
    Nguyễn Hồng Quang
    6
    Nghiên cứu chế tạo biến tần ma trận
    2006-2007
    Trần Trọng Minh
    Dự án cấp Nhà nước:

    TT
    Mã số
    Tên đề tài
    Giai đoạn
    Chủ trì
    1
    Nghiên cứu chế tạo bộ khởi động mềm cho động cơ công suất lớn
    1994-1995
    Bùi Quốc Khánh
    2
    20-02-DAĐL
    Hoàn thiện công nghệ chế tạo tủ chỉnh lưu điều khiển kích từ máy phát các nhà máy điện
    2002-2005
    Ng. Trọng Thuần
    Phát minh sáng chế khoa học

    Người được cấp
    Nguyễn Hồng Quang
    Nguyễn Trọng Thuần
    Vũ Vân Hà
    Bằng độc quyền sáng chế
    Tủ kích từ điều khiển số cho máy phát nhà máy thủy điện
    Số
    6017
    Cấp ngày
    5/12/2006
    Nơi cấp
    Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam

    Các tài liệu đã xuất bản

    1.Truyền động điện, Nguyễn Bính, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1962
    2.Các bài tập truyền động điện, Nguyễn Bính, Lê Đình Anh, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1962.
    3.Trang bị điện, Nguyễn Bính, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1963.
    4.Mô hình hóa hệ thống tự động, Nguyễn Bính, Nguyễn Văn Đức, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1974.
    5.Truyền động điện, Bùi Đình Tiếu, Phạm Duy Nhi, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1974.
    6.Tự động khống chế truyền động điện, Trịnh Đình Đề, Võ Trí An, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1974.
    7.Trang bị điện các thiết bị luyện kim và gia nhiệt, Nguyễn Thành, Đại học Bách khoa Hà Nội, 1975.
    8.Trang bị điện máy cắt gọt kim loại và nâng vận chuyển, Bùi Đình Tiếu,Đại học Bách khoa Hà Nội, 1975.
    9.Kỹ thuật biến đổi điện năng,Nguyễn Bính, Dương Văn Nghi,NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, 1975.
    10.Điện tử công suất, Nguyễn Bính,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội.
    11.Bài tập và giải mạch điện tử công suất, Nguyễn Bính,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội.
    12.Điều khiển xa, Nguyễn Công Hiền, Hà Tất Thắng,Đại học Bách khoa Hà Nội.
    13.Cơ sở truyền động điện (dịch), Bùi Đình Tiếu, Lê Tòng, Nguyễn Bính,NXB Khoa học & Kỹ thuật, 1977.
    14.Trang bị điện đại cương, Phạm Duy Nhi, Phan Cung, Lê Hồng Nam,Đại học Bách khoa Hà Nội, 1977.
    15.Kỹ thuật tính toán trên máy tính điện tử số tương tự, Nguyễn Bính, Phan Cung,Nhà xuất bản Đại học Bách khoa Hà Nội, 1978.
    16.Các đặc tính của động cơ trong truyền động điện (dịch), Bùi Đình Tiếu, Lê Tòng,NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, 1979.
    17.Phân tích tổng hợp hệ thống điều khiển tự động truyền động điện, Trịnh Đình Đề, Võ Trí An,NXB Khoa học & Kỹ thuật, 1983.
    18.Cơ sở truyền động điện, tập 1, 2, Bùi Đình Tiếu, Phạm Duy Nhi,NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, 1983.
    19.Điều khiển tự động truyền động điện, Trịnh Đình Đề, Võ Trí An,NXB Đại học & Trung học chuyên nghiệp, 1985.
    20.Một số ứng dụng của thiết bị điện từ, điện tử và bán dẫn trong máy sản xuất, Bùi Đình Tiếu, Nguyễn Trọng Thuần,NXB Khoa học & Kỹ thuật, 1985.
    21.110 sơ đồ thực hành dùng Thyristor và Triac (dịch), Bùi Đình Tiếu, Tạ Bá Miên, NXB Khoa học & Kỹ thuật, 1989.
    22.Những bài toán chỉnh lưu bán dẫn lực, Lê Tòng, Bùi Đình Tiếu, NXB Khoa học & Kỹ Thuật, 1990.
    23.Truyền động điện, Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Thị Hiền,NXB Khoa học & Kỹ thuật, 1994.
    24.Trang bị điện máy công nghiệp dùng chung, Vũ Quang Hồi, Nguyễn Văn Chất, Nguyễn Thị Liên Anh,NXB Giáo dục, 1994.
    25.Trang bị điện điện tử máy gia công kim loại, Nguyễn Mạnh Tiến, Vũ Quang Hồi,NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994.
    26.Điện tử công suất - Kỹ thuật điện - 100 bài tập và bài giải, Nguyễn Bính,NXB Khoa học & Kỹ thuật, 1995.
    27.Điều chỉnh tự động truyền động điện, Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Văn Liễn, Dương Văn Nghi, Phạm Quốc Hải,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 1996.
    28.Bài giảng kỹ thuật biến đổi, Võ Quang Lạp, Bùi Đình Tiếu, Đại học Mỏ - Địa chất, 1997.
    29.Phân tích và giải mạch điện tử công suất, Phạm Quốc Hải, Dương Văn Nghi NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 1999.
    30.Điều khiển logic và ứng dụng, Nguyễn Trọng Thuần,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2000.
    31.Hệ thống cung cấp điện của xí nghiệp công nghiệp, đô thị và nhà cao tầng, Nguyễn Công Hiền, Nguyễn Mạch Hoạch,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2001.
    32.Tự động hoá quá trình sản xuất, Nguyễn Văn Liễn, Võ Việt Sơn, Nguyễn Công Hiền,Đại học Bách khoa Hà Nội, 2001.
    33.Điện tử công suất, Trần Trọng Minh, NXB Giáo dục, 2002.
    34.Lập trình Visual C++ 6.0 từ cơ bản đến nâng cao, Nguyễn Công Ngô, NXB Thống Kê, Hà Nội, 2002.
    35.Điều khiển động cơ xoay chiều cấp từ biến tần bán dẫn, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Mạnh Tiến, Đoàn Quang Vinh,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2003.
    36.Điện tử công suất, Võ Minh Chính, Phạm Quốc Hải, Trần Trọng Minh,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2004.
    37.Hệ thống sản xuất tự động hoá tích hợp máy tính, Nguyễn Phạm Thục Anh, Trần Trọng Minh,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
    38.Mô hình hóa hệ thống và mô phỏng, Nguyễn Công Hiền, Nguyễn Phạm Thục Anh,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
    39.Cơ sở truyền động điện, Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Văn Liễn,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
    40.Hệ điều khiển DCS cho nhà máy sản xuất điện năng, Bùi Quốc Khánh, Phạm Quang Đăng, Phạm Hồng Sơn,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
    41.Trang bị điện và tự động hoá cần trục, Bùi Quốc Khánh, Hoàng Xuân Bình,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
    42.Điều khiển logic các thiết bị Điện-Điện tử, Võ Trí An, NXB Khoa học & Kỹ thuật, 2006.
    43.Giáo trình truyền động điện, Bùi Đình Tiếu, NXB Giáo dục, 2006.
    44.Lý thuyết điều khiển tự động, Nguyễn Công Ngô, Tái bản lần thứ 7, NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
    45.Điều khiển Robot công nghiệp, Nguyễn Mạnh Tiến,NXB Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2007.

  10. #9
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    BỘ MÔN TỰ ĐỘNG HÓA HIỆN NAY


    Đội ngũ cán bộ


    Bộ môn hiện có 36 cán bộ trong đó:
    -31 cán bộ giảng dạy, 5 cán bộ phục vụ giảng dạy.
    -1 Giáo sư, 3 Phó Giáo sư, 10 Giảng viên chính.
    -12 Tiến sĩ, 7 Thạc sĩ.
    -5 cán bộ đang được đào tạo Tiến sĩ và Thạc sĩ ở nước ngoài.
    Nhóm chuyên môn:
    -Truyền động điện và Trang bị điện.
    -Điện tử công suất.
    -Tự động hóa quá trình công nghệ.
    -Điều khiển-Tự động hóa
    Phòng thí nghiệm:


    PTN Điện tử công suất: C9-203


    PTN Điều khiển Logic: Cầu C2-C9




    PTN Truyền động điện: Cầu C2-C9

    PTN Điều khiển quá trình: C9-203


    PTN PLC: C9-102

    PTN Robot và Điều khiển số C9-102

    PTN Vi xử lý: C9-102


  11. #10
    Quân nhân danh dự Avatar của baohuy_pla
    Tham gia ngày
    Sep 2006
    Bài gửi
    1.411

    Mặc định

    VỀ MỘT THỜI GIAN LÀM VIỆC TẠI TRƯỜNG
    Thầy Tạ Bá Miên
    Học xong đại học Thiên Tân Trung Quốc, cuối tháng 6 năm 1956, tôi về Hà Nội. Chờ 4 hôm, được anh Lê Văn Giang, khi đó là phó vụ trưởng vụ Đại học thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục, cho biết tôi được bố trí về trường Đại học Bách Khoa. Nhận quyết định tôi lập tức tới trường. Anh Hoàng Xuân Tuỳ ra đón và đưa tôi tới ngay phòng họp tại gian chính giữa nhà F. Trong phòng đã có khoảng 20 người đang ngồi họp. Anh Tuỳ giới thiệu tôi với anh em. Hầu hết là cán bộ giảng dạy, các môn Toán, Lý, Hoá mới tốt nghiệp trường sư phạm về trường khoảng một tuần. Sau đó anh Tuỳ cho biết: sau này tôi sẽ làm việc tại khoa Điện. Trường lúc đó có 5 khoa: khoa Điện, khoa Cơ khí, khoa Xây dựng, khoa Mỏ - Luyện kim và khoa Hoá - Thực phẩm. Lúc đó chưa có hiệu trưởng. Anh Tuỳ với danh nghĩa hiệu phó đứng ra tập hợp đội ngũ cán bộ quản lý lo việc xây dựng, tổ chức trường sở. Đội ngũ cán bộ quản lý trường khi đó ngoài anh Tuỳ ra, còn có anh Cấp làm chánh văn phòng, anh An Trưởng phòng giáo vụ, anh Bạch trưởng phòng quản trị và 5, 7 anh em cán bộ chính trị lo việc tổ chức bảo vệ và hoạt động hành chính. Đội ngũ cán bộ quản lý chuyên môn đang trong quá trình sắp xếp, ít lâu sau mới hình thành rõ nét: anh Nguyễn Như Kim làm chủ nhiệm khoa Điện – Vô tuyến điện, anh Lê Tâm làm chủ nhiệm, anh Nguyễn Sanh Dạn phó chủ nhiệm khoa Xây dựng - Thuỷ lợi; anh Lê Bảo phó chủ nhiệm khoa Cơ khí - Dệt; anh Nguyễn Đức Thừa chủ nhiệm khoa Mỏ - Luyện kim; anh Phạm Đồng Điện chủ nhiệm khoa Hoá - Thực phẩm.


    Về trường được một tuần tôi lần lượt đón các anh Nguyễn Như Kim từ Pháp về, rồi anh Nghi, anh Nguyễn Trọng Quế, sáu tháng sau được đón các anh Bùi Duyên, Thế Hùng, Hà Học Trạc, Nguyễn Bình Thành và một số anh tốt nghiệp trung cấp từ Trung Quốc về.


    Lúc đầu, thật khó mà tưởng tượng đây là cơ sở vật chất của một trường Đại học. Toàn trường chỉ có 4 ngôi nhà 2 tầng A, B, C, D nhà F, nhà E (anh em thường gọi là chuồng chim) một nhà ăn tập thể cấp 4 và một dãy nhà lá lụp xụp ở cổng trường. Gia đình anh Hoàng Xuân Tuỳ ở trong căn hầm bên trái nhà F. Hai tầng trên cùng dùng làm phòng họp và nơi làm việc. Sáu tháng sau Liên Xô cử chuyên gia Trifonov sang giúp ta xây dựng kế hoạch giảng dạy; phòng gác tầng 2 nhà F còn dùng làm nơi làm việc của chuyên gia. Hầu hết cán bộ giảng dạy sống tập thể tại nhà D. Khi đó sân vận động còn là bãi đất hoang nằm giữa các nhà A, B, C, D. Trong khuôn viên trường có rải rác một số ngôi mộ, khu trường mới còn là ruộng trồng rau của nhân dân và nghĩa địa. Không khí chính trị khi mới mở trường thật sôi động. Một mặt nhà nước phải khắc phục những khó khăn do sai lầm trong cải cách ruộng đất mang lại, một mặt bọn nhân văn giai phẩm đang phát động một chiến dịch vu cáo, khích động dân chủ cực đoan đả vào chính quyền và công an. Song, cán bộ trường ta vẫn vững vàng, không hợp tác, tổ chức những cuộc họp nhằm phê phán và tỏ sự phẫn nộ trước những luận điểm sằng bậy.


    Tôi đang bắt tay và chuẩn bị bài giảng môn Nguyên lý kỹ thuật Điện và giúp phụ đạo một số anh em học sinh học bổ túc công nông cũ về môn hình học hoạ hình thì anh Nghi và tôi được cử sang Trung Quốc một tháng cùng thương vụ Sứ quán Việt Nam mua sắm bổ xung thiết bị thí nghiệm cho hai môn vật lý, hoá học và một số dụng cụ đo lường cho các môn chuyên nghiệp. Khi hoàn thành nhiệm vụ trở về nước, tôi nhận được quyết định làm phó phòng giáo vụ. Lúc đó, phòng giáo vụ đặt tại phòng phía phải, sau chuyển sang phòng phía trái nhà F.


    Về phòng giáo vụ không lâu, cả trường tổ chức đi tham gia lao động xây dựng kênh dẫn nước thuỷ nông Bắc Hưng Hải. Không khí trong trường sôi động hẳn lên. Anh em cán bộ giảng dạy và sinh viên nhận làm một đoạn kênh, thi đua nhau đưa năng suất đào đất và bốc chuyển lên cao. Anh Tuỳ lúc đó làm chỉ huy trưởng công trường. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật được nảy sinh. Không khí làm việc rất hồ hởi. Anh Hoàng Xuân Tuỳ làm việc rất có trách nhiệm và là con người giàu lòng tình cảm biết thương yêu anh em. Những lần thi tuyển sinh, tự anh liên hệ ra đề thi rồi bảo quản cẩn mật. Sáng hôm thi, anh gọi bác Triềng làm công tác thư viện mang máy chữ lên tại nhà F, kiểm tra máy, giấy cẩn thận rồi yêu cầu bác đánh lên stencil. Sau đó anh gọi anh Thiếu công nhân ấn loát lên in tại chỗ. In xong anh giao cho tôi niêm đề thi vào phong bì và phân phối đến các phòng thi. Cả anh và chị Song Linh đều coi chúng tôi là người em thân thiết trong nhà.


    Sau này tôi nhận dạy thêm các môn kỹ thuật điện, trang bị điện cho năm thứ hai các ngành Luyện kim, Mỏ, Cơ khí và Truyền động điện cho sinh viên ngành Phát dẫn điện. Tôi cũng tích cực chuẩn bị cán bộ và tài liệu để đến khoá 5 mở ngành Điện khí hoá xí nghiệp. Ngay khi kết thúc học kỳ I năm đầu tiên, tôi đã đưa trình kế hoạch thi vấn đáp và được chấp thuận.


    Đầu năm 1962, tôi được thưởng huân chương lao động hạng ba và được cử đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô cùng với các anh Tự (cơ khí), anh Bình Thành (Điện), anh Đạo (cơ lý thuyết), anh Bình (Động lực) vân vân. Tháng 3 năm 1965 tốt nghiệp phó tiến sĩ, về nước tôi được cử làm trưởng phòng giáo vụ thay anh Phan Hoàng Mạnh. Khi này phòng giáo vụ đặt tại phòng 212 nhà C1 khu trường mới. Nhiệm vụ phòng giáo vụ khí đó cũng không có gì thay đổi so với lúc đầu, nghĩa là cùng các khoa tổ chức việc lập kế hoạch giảng dạy, lập đê cương giảng dạy các môn, lịch trình giảng dạy, bố trí thời khoá biểu, quản lý quy chế, chế độ làm việc, điều động cán bộ giảng dạy khi cần thiết, xét duyệt, bố trí kế hoạch in ấn cho ấn loát, liên hệ đối ngoại về giảng dạy. Ngoài ra còn tham gia vào việc chuẩn bị tách trường,thành lập các trường Công nghiệp nhẹ, trường Xây dựng, trường Mỏ điạ chất. Tôi còn nhớ, khi đó theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục, trường mở khoá đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật cho các trường phổ thông. Sắp xếp kế hoạch chương trình đào tạo của khoá này thật khó khăn. Rồi cuối cùng cũng vượt qua.


    Khi giặc Mỹ bắt đầu đánh pháo miền Bắc, trường sơ tán lên Lạng Sơn. Hiệu bộ đóng tại Fật Fùa, cạnh dòng sông Kỳ Cùng. Phòng giáo vụ khi đó được ban giám hiệu phân công giúp các khoa ổn định nơi sơ tán, nhanh chóng đi vào giảng dạy, điều động cán bộ giảng dạy, vận động sinh viên cải tiến cách học tập, cung cấp tài liệu thư viện, in ấn và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong giảng dạy, học tập. Phòng Giáo vụ, khi đó, vừa phải làm việc tại trường vừa phải làm việc tại nơi sơ tán. Bản thân tôi ki đó lại là Đảng uỷ viên của trường, trực tiếp làm bí thư liên chi Đảng khối cơ quan. Ngoài nhiệm vụ ở phòng giáo vụ, tôi còn phải giải quyết những vấn đề nảy sinh trong liên chi, ổn định nơi ăn chốn ở, điều kiện làm việc của khối cơ quan. Lúc đó tôi phải đi đi về về luôn giữa trường và nơi sơ tán. Nhiều buổi họp ban giám hiệu, họp đảng uỷ ở nơi sơ tán đến khuya. Những buổi tối cùng nhau ăn cháo gà, cháo cá, nghe tiếng quả cây mỡ rơi lộp bộp thật vui. Không khí làm việc khi đó rất háo hức. Một lần đi xe hoả từ Lạng Sơn về Hà Nội, đến ga Đồng Mỏ gặp máy bay Mỹ đến bắn phá, tối nhảy xuống tàu bị ngã, xưng tấy chân, không đi được, anh Nguyễn Thế Hùng phải cõng tôi từ ga Hà Nội về trường. Khi địch bắn phá Hà Nội, trận địa pháo cao xạ trường trường bắn lên rất dữ. Địch ném bom bi vào trường làm chết một số người, trong đó có anh Nhàn cán bộ giảng dạy môn Nga văn. Xác các anh chết bom được quàn tại hội trường bát giác trong khu trường cũ (gần khu thể dục sinh viên và khoa Đại học tại chức ngày nay). Lễ tiễn đưa các anh thật là cảm động! Một lần khác địch bắn rốc két vào ngay đằng sau nhà tôi ở, bên trái nhà F. Lúc đó tôi cùng các anh trong ban giám hiệu vừa họp xong, chạy xuống nấp cả tại căn hầm nhà D. Mọi người đều căm thù giặc đến cao độ, ra sức tăng thêm cường độ làm việc không biết sợ.


    Cuối năm 1970, tôi phải rời Bách Khoa lên nhận nhiệm vụ mới tại Ban Khoa Giáo Trung Ương mới thành lập, mà sau này tôi làm vụ trưởng vụ Giáo Dục Đại Học. Tuy không làm việc ở trường nữa, tôi vẫn rất gắn bó với trường, giữ được mối tình cảm sâu sắc và hết lòng giúp đỡ trường trong khi cần thiết. Mặc dầu được ban Khoa giáo hết lòng sử dụng và ưu ái, khi về hưu được được cấp mức lương cố vấn bậc hai, tôi vẫn tiếc phải xa trường, xa các bạn bè thân yêu, có thể nói là gần gũi nhất về mặt tình cảm trong suốt cuộc đời tôi. Giá mà không có cuộc chia tay ấy, tôi vẫn được sống và làm việc ở trường cho đến khi hưu trí thì đẹp đẽ, hạnh phúc biết bao!

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/4 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube