User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 3 của 3

Chủ đề: Lạm phát là gì?

  1. #1
    Ủy viên Trung Ương box Thảo Luận Avatar của Trien Chieu
    Tham gia ngày
    Nov 2003
    Bài gửi
    554

    Mặc định Lạm phát là gì?

    Gần đây quả thực hai từ lạm phát làm tốn bao nhiêu giấy mực của báo chí, biết bao lời ca thán của nhân dân, nhằm phổ biến kiến thức cho nhân dân tớ copy cái này ở đây theo chỉ dẫn từ SVDH-US. Chỉ là chia sẻ kiến thức nhưng cũng mong được thảo luận
    ------------------------
    Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó. Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của hai loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi.

    Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với năm trước. Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con số (single-digit inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation)...
    Một ví dụ điển hình của siêu lạm phát là vào năm 1913, tức là ngay trước khi chiến tranh thế giới nổ ra, một USD có giá trị tương đương với 4 mark Đức, nhưng chỉ 10 năm sau, một USD đổi được tới 4 tỉ mark. Vào thời đó, báo chí đã đăng tải những tranh ảnh biếm họa về vấn đề này: người ta vẽ cảnh một người đẩy một xe tiền đến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác cho thấy ngày đó đồng mark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như một loại nhiên liệu.

    Lạm phát được tính như thế nào?

    Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và các tạp chí kinh doanh cũng làm việc này).

    Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm. Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này.

    Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Tuy nhiên, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là CPI - Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index) đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế..., được mua bởi "người tiêu dùng thông thường".
    Hiện nay, CPI của Việt Nam đo giá cả của khoảng 400 loại hàng hoá, trong khi đó để tính CPI ở Mỹ người ta điều tra tới 80.000 loại hàng hoá và dịch vụ. Không những thế, CPI còn được tính riêng cho nhóm người tiêu dùng nông thôn, thành thị, công nhân viên chức thành thị...

    Nguyên nhân lạm phát

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính.
    - Lạm phát do cầu kéo
    Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là”quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hoá”.

    - Lạm phát do chi phí đẩy
    Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế... Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.

    - Lạm phát do cơ cấu
    Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh từ đó.

    - Lạm phát do cầu thay đổi
    Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát.

    - Lạm phát do xuất khẩu
    Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.

    - Lạm phát do nhập khẩu
    Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
    - Lạm phát tiền tệCung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.

    Ai là nạn nhân của lạm phát?


    Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thành nạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều là người tiêu dùng. Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là:

    - Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất về giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá đã tăng lên gấp nhiều lần.

    - Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm đánh mất của cải nhanh nhất.

    - Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp hơn. Vậy ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người sung sướng nhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ gánh hơn.

  2. #2
    HUT's Engineer Avatar của walktheweb
    Tham gia ngày
    May 2006
    Bài gửi
    873

    Mặc định

    Lời nói đầu: Hãy nghe một bài bình luận của Andrew Symon tử tờ báo Asiatime

    Mời bạn hãy cùng nhau dịch thuật đoạn sau.


    source:

    http://www.atimes.com/atimes/Southea.../JC18Ae02.html





    Inflation tests Vietnam's growth
    By Andrew Symon

    Vietnam’s transition from a centrally planned to market oriented economy faces a new host of challenges posed by galloping inflation. Depending on how deftly economic and financial policymakers respond, it could make or break the country’s until now successful economic reform program.

    The country’s main consumer inflation benchmark was up 15.7% year on year in February, the biggest jump in over a dozen years and currently the highest rate in industrializing East Asia. Inflation has jumped by double digits for each of the past five months,



    threatening to undermine the macroeconomic and social stability that has underpinned fast GDP growth, which over the past five years has averaged over 8%.

    In particular, discontent over increased inflation is on the rise in the industrial sector, the backbone of Vietnam’s export-driven economy. That’s been witnessed in the growing number of industrial disputes and strikes over wages and work conditions, which to date have disproportionately hit foreign-invested firms.

    In mid-February, more than 5,000 workers went on strike demanding pay rises, more allowances, and a reduction in working hours at the Japanese-owned Yazaky Eds Viet Nam Ltd, which produces automobile parts for export from the northern industrial city of Haiphong City. Local newspapers reported that the workers said that their average monthly wages of between 1.1 milion dong - 1.2 million dong (US$68.75 to US$75), which are above minimum wage rates, were not enough to cover even their daily living expenses.

    In the first two weeks of this year, 50 strikes took place across the fast industrializing country, according to the Ministry of Labor. In early March, some 10,000 workers walked off the job at the South Korea-owned Tae Kwang Vina factory, which makes shoes for US apparel company Nike on the outskirts of Ho Chi Minh City. Those factory workers similarly demanded higher pay to keep pace with rising prices.

    From 1995 to the end of January 2006, more than 1,000 strikes took place in Vietnam, with some 387 of those worker walk-outs occurring last year and coinciding with rising local costs, according to government statistics. Of those, 300 strikes targeted foreign-invested firms. To the chagrin of foreign investors, the government last year increased the minimum wage for industrial workers by around 25%. But as consumer prices surge, labor unrest is nonetheless on the rise.

    Vietnam is not alone in Asia in facing inflationary pressures, but its headline rates are nearly double those of its main regional competitors, with China’s rate hovering around 7.1% and Indonesia 7.4%. Hanoi’s emerging inflation problem can only partially be blamed on global market forces, including fast rising food and petroleum prices.

    The state-run General Statistical Office said upon its announcement of February’s 15.7% year-on-year spike in consumer prices that the increase was driven mainly by a 25.2% increase in the cost of foodstuffs and a 16.4% rise in housing and building materials, reflecting the country’s breakneck construction boom.

    The overheating economy is also unsettling the balance of payments, with a huge trade deficit opening up as imports rise. For the first two months of 2008, the deficit was US$4.2 billion, compared to $12.4 billion for the whole of 2007. That statistic represented a sharp rise on the $4.8 billion for 2006.

    But those pressures are being compounded in Vietnam’s particular case by a host of domestic factors, including the rapid inflow of foreign capital, consequent fast growth in the local money supply and, apparently, the government’s relative inexperience in managing such technocratic challenges.

    The government has in recent years sought to modernize the State Bank of Vietnam (SBV) into a capable steward of monetary and exchange rate policies, as part of its World Bank endorsed financial sector reform program. It was precisely those types of market-friendly reforms that had in recent years made Vietnam a regional darling for international investors and manufacturing businesses.

    Now with macroeconomic stability at risk, that love affair has hit choppy waters. Those concerns were underlined when the government abruptly postponed a major EuroMoney investment conference scheduled for earlier this month which last year drew over 1,500 delegates from more than 30 different countries, resulting in scores of new multi-million dollar investments and joint venture deals.

    Then there was only praise for Vietnam’s economic dynamism and the government’s pro-market and pro-investment policies; now the government appears to be crawling at least partially back into its isolationist communist era shell as it avoids a possible platform for criticism of its new, more restrictive policy settings. The conference organizers have said the event will be held in September instead.

    But it’s not clear that by then macroeconomic stability will have been restored. Inflation and other pricing distortions brought on by what some analysts refer to as Vietnam’s "overheating" economy clearly represents the government’s and central bank’s first big technocratic test since opening widely the economy to foreign capital inflows.

    The SBV has in recent months put a brake on money supply growth, in a blunt attempt to mop up the liquidity flowing into the financial system through foreign direct investments and portfolio flows. The SBV has long maintained an effectively fixed exchange rate at an artificially low rate to promote exports. Now that rate, as of March 13 officially at 15,865 dong per US dollar, is coming under increasing speculative pressure for an upward revaluation.

    Foreign businesses in the export sector have been most adversely affected by the SBV’s recent interventions. That includes the central bank’s efforts to tighten the local money supply, which have made it increasingly difficult for firms to exchange foreign currency, primarily US dollars, for the local currency, the dong.

    At the same time, the government has ordered the central bank and other ministries to put more restrictions in place. That includes stricter rules for lending, raising interest rates, increasing compulsory bank reserves and expanding bond issues to absorb local currency. Credit growth through the banking system is also through government order to be limited to 30% in 2008, capped lower than the 40% growth seen in 2007.

    The government has also tentatively allowed the exchange rate to appreciate above its current above-under trading band of 0.75% to 2%, an official rate set and managed by the SBV. A strong dong, policymaker hopes, will help reduce inflation by making imports relatively cheaper, but also raises concerns that an appreciating currency will also make exports less competitive vis-à-vis China, which has also recently allowed its fixed exchange rate to rise only marginally.

    Hanoi’s new tighter monetary policy settings are also straining local businesses, particularly those with significant foreign currency receipts and which draw on foreign funds in order to make local payments. There are a growing number of reports about foreign-invested firms encountering dong shortages at local banks, with some as a result lacking the resources to pay staff and rents. With banks under strict orders to preserve their dong holdings, many businesses are now operating outside of the official banking system for their local currency needs.

    Vietnam’s nascent stock market, which has lost much of its luster over the past 12 months, is also being hit by inflation and the government's restrictive response. For instance there has been widespread selling on the Ho Chi Minh Exchange among the local retail investors who dominate the US$20 billion market. In an attempt to calm investor jitters, the government’s investment arm is reportedly purchasing more shares to shore up prices.

    The bigger risk is that tighter monetary conditions afflict the banking sector, which some argue was already wobbly before inflationary pressures entered the financial equation. Analysts predict that cracks could appear first at the so-called joint stock banks, as competition for deposits increasingly favors larger state-owned banks because of their inherent (or at least hoped for) sovereign guarantee. The US credit rating agency Standard & Poor's (S&P) warned in a February report that "a prolonged liquidity squeeze will exacerbate the inherent structural weakness in Vietnam’s banking system".

    Meanwhile US investment bank JPMorgan Chase expects headline inflation to average 16.1% this year, nearly double the 8.5% clip experienced in 2007. However views about how dangerous the inflationary situation is to the country’s overall economic health vary. S&P says it does not expect high inflation to result in a sovereign credit rating downgrade in the next one or two years, unless inflation accelerates much faster.

    That’s cold comfort to the country’s huge poor population, which with the rising price of basic staples is finding it increasingly difficult to make ends meet. Jonathan Pincus, the United Nations Development Program’s (UNDP) senior economist in Hanoi, recently told the media that the government needs to target inflation below 10% so that businesses can confidentially map out production and investment plans, exports remain competitive, and the poor are not disproportionately hurt.

    The economist noted that Vietnam's inflation rate is now twice as high as other countries in the region, including China. "It is a big blow if the inflation is above 10%," Pincus said. "Vietnam has to recognize that there are global problems, but there are also problems that are very specific to Vietnam and need to be solved in Vietnam." For now, the verdict is still out on whether Vietnam’s until now untested technocrats are up to that task.

    Andrew Symon is a Singapore-based journalist and analyst. He may be reached at andrew.symon@yahoo.com.sg.

  3. #3
    Ủy viên Trung Ương box Thảo Luận Avatar của Trien Chieu
    Tham gia ngày
    Nov 2003
    Bài gửi
    554

    Mặc định

    Năm nay mà lạm phát 16.1% như anh JPMorgan Chase dự báo thì toi, nhưng có vẻ anh viết bài này cũng chỉ là nhà báo viết chung chung nên chủ yếu nêu sự kiện mà không thấy nêu giải pháp cụ thể nào cả. Hầu hết những thông tin này đều không có gì mới và có thể tìm trong các báo điện tử ở VN.

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube