User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 10

Chủ đề: Đa dạng Sinh Học - Biodiversiry

  1. #1
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định Đa dạng Sinh Học - Biodiversiry

    Khái niệm đa dạng sinh học




    Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm "Đa dạng sinh học" (biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,...; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái .

    Có thể coi, thuật ngữ "đa dạng sinh học" lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Nay có ít nhất 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học. Định nghĩa được đưa ở trên là định nghĩa được dùng trong Công ước Đa dạng sinh học. Các định nghĩa khác về Đa dạng sinh học:

    - toàn bộ gen, các loài và các hệ sinh thái trong một vùng hoặc trên toàn thế giới .

    - tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái . [FAO]

    - tính đa dạng, trạng thái khác nhau về đặc tính hoặc chất lượng (R.Patrick,1983)

    - sự đa dạng và tính khác nhau của các sinh vật sống và các phức hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó. Tính đa dạng có thể định nghĩa là một số lượng xác định các đối tượng khác nhau và tần số xuất hiện tương đối của chúng. Đối với đa dạng sinh học, những đối tượng này được tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ sinh thái phước tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử của vật chất di truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác nhau và sự phong phú tương đối của chúng. (OTA, 1987).

    - sự đa dạng của các sinh vật trên trái đất, bao gồm cả sự đa dạng về di truyền của chúng và các dạng tổ hợp. Đây là một thuật ngữ khái quát về sự phong phú của sinh vật tự nhiên, hỗ trợ cho cuộc sống và sức khoẻ của con người . Khái niệm này bao hàm mối tương tác qua lại giữa các gen, các loài và các hệ sinh thái (Reid & Miller, 1989).

    - sự phong phú về sự sống trên trái đất, bao gồm hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, cũng như các thông tin di truyền mà chúng lưu giữ và các hệ sinh thái mà chúng tạo nên (AID, 1989).

    - tính đa dạng của sự sống và các quá trình hoạt động của nó (U .S. Forest Service, 1990).

    - bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và quá trình sinh thái học mà chúng tham gia . Đây là khái niệm bao trùm cho mức độ phong phú của tự nhiên, bao gồm cả số lượng và tần số xuất hiện của các hệ sinh thái, các loài và các gen di truyền trong một tổ hợp xác định. (McNeely et al., 1990).

    - tính đa dạng của sự sống ở mọi cấp độ tổ chức, biểu hiện bởi số lượng và tần số xuất hiện tương đối của các đối tượng (gen, sinh vật, hệ sinh thái) (EPA, 1990).

    - tính đa dạng của gen di truyền, kiểu gen và các bộ gen cũng như mối quan hệ của chúng với môi trường ở mức phân tử, loài, quần thể và hệ sinh thái (FAO, 1990).

    - tính đa dạng về di truyền, phân loại và hệ sinh thái của các sinh vật sống ở một vùng, một môi trường, một hệ sinh thái xác định hoặc toàn bộ trái đất (McAllister, 1991).

    - toàn bộ sự đa dạng và khác nhau giữa các sinh vật sống và trong chính sinh vật đó, cũng như đối với các hệ sinh thái mà các sinh vật tồn tại trong đó; bao hàm cả đa dạng hệ sinh thái hoặc đa dạng quần xã, đa dạng loài và đa dạng di truyền (Pending legislation, U .S. Congres 1991).

    - tính đa dạng của sự sống và các quá trình hoạt động của nó. Bao gồm tính đa dạng về các sinh vật sống, sự khác biệt về mặt di truyền giữa chúng và các quần xã, các hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó. (Keystone Dialogue, 1991)

    - tính đa dạng và sự khác nhau của tất cả động vật, thực vật và vi sinh vật trên trái đất, có thể được phân thành 3 cấp: đa dạng di truyền (biến thiên trong loài), đa dạng loài, và đa dạng sinh cảnh (Overseas Development Administration, 1991).

    - Đề xuất một cấp thứ tư - đa dạng chức năng - sự đa dạng của những phản ứng khác nhau đối với những thay đổi của môi trường, nhất là sự đa dạng về quy mô không gian và thời gian mà các sinh vật phản ứng với nhau và với môi trường (J. Steele, 1991).

    - toàn bộ các gen di truyền, các loài và các hệ sinh thái trong một vùng (WRI, IUCN and UNEP, 1992).

    - toàn bộ sự đa dạng của sự sống trên trái đất. Bao gồm tất cả các gen di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các quá trình sinh thái (ICBP, 1992).

    - toàn bộ sự đa dạng và sự khác nhau giữa các sinh vật sống và trong chính sinh vật đó, các tổ hợp sinh vật và các hệ sinh thái hướng sinh cảnh. Thuật ngữ bao gồm các mức đa dạng hệ sinh thái, loài và sinh cảnh, cũng như trong một loài (đa dạng di truyền) (Fiedler & Jain, 1992).

    - tính đa dạng của sinh vật ở mọi cấp độ, từ những biến dị di truyền trong cùng một loài đến sự đa dạng của các loài, giống/chi, họ và thậm chí cả các mức phân loại cao hơn; bao gồm cả đa dạng hệ sinh thái, gồm cả các quần xã sinh vật trong các sinh cảnh cụ thể và các điều kiện vật lý mà chúng sinh sống trong đó (Wilson, 1992).

    - là phức hệ vượt quá sự hiểu biết và có giá trị không thể đo đếm được, đa dạng sinh học là toàn bộ tính đa dạng của sự sống trên trái đất (Ryan, 1992).

    - tính đa dạng về cấu trúc và chức năng của các dạng sống ở các mức di truyền, quần thể, loài, quần xã và hệ sinh thái (Sandlund et al., 1993).

    - là toàn bộ đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái, cũng như những tác động tương hỗ giữa chúng, trong một vùng xác định, tại một thời điểm xác định (di Castri, 1995).

    - là toàn bộ các mức tổ chức về mặt di truyền học, các cấp phân loại và sinh thái học, cũng như mối tương tác theo thứ bậc, tại các mức độ tổ hợp khác nhau (di Castri & Younốs, 1996).

  2. #2
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Khái niệm đa dạng loài


    Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó.

    Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau .

    Có lẽ do thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ "đa dạng sinh học" thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", đặc biệt là "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú. Đa dạng sinh học toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu . Ước tính đến thời điểm này đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên trái đất vào khoảng 5 triệu đến gần 100 triệu . Theo như ước tính của công tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất. Nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật.

    Mức độ loài thường được coi là một mức cố nhiên được dùng khi xem xét sự đa dạng của tất cả các sinh vật. Loài cũng là yếu tố cơ bản của cơ chế tiến hoá, và sự hình thành cũng như sự tuyệt chủng của loài là tác nhân chính chi phối đa dạng sinh học. Mặt khác, các nhà phân loại học không thể nhận biết và phân loại loài với độ chính xác tuyệt đối, khái niệm loài rất khác nhau giữa các nhóm sinh vật.

    Hơn nữa, số lượng các loài chỉ đơn thuần cho biết một phần về đa dạng sinh học, ẩn chứa trong thuật ngữ này là khái niệm về mức độ hoặc quy mô của sự đa dạng; tức là những sinh vật có sự khác biêt rõ rệt về một số đặc điểm đặc thù sẽ có vai trò quan trọng đối với đa dạng sinh học hơn nhiều so với những sinh vật giống nhau .

    Một loài càng có nhiều khác biệt với các loài khác (ví dụ, có một vị trí cô lập trong hệ thống phân loại), thì loài đó càng có đóng góp nhiều đối với mọi mức độ của đa dạng sinh học toàn cầu . Như vậy, xét theo quan điểm này, 2 loài thằn lằn răng nêm Tuatara (chi Sphenodon) ở New Zealand, là những thành viên hiện còn sót lại của bộ bò sát Rhynchocephalia, có vai trò quan trọng hơn các thành viên thuộc 1 số bộ thằn lằn bậc cao khác. Theo lập luận này, một vùng với nhiều đơn vị phân loại bậc cao khác nhau sẽ có tính đa dạng về cấp phân loại lớn hơn những vùng có ít đơn vị phân loại bậc cao mặc dù có nhiều loài hơn. Chẳng hạn, hệ sinh thái biển thường có nhiều ngành sinh vật hơn nhưng ít loài hơn so với hệ sinh thái trên cạn, do đó đa dạng về cấp phân loại sẽ cao hơn nhưng đa dạng loài sẽ thấp hơn. Các biện pháp nghiên cứu đang được phát triển cố gắng kết hợp việc định lượng sự đặc thù tiến hoá của loài .

    Tầm quan trọng về mặt sinh thái học của một loài có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc quần xã, và do đó đến đa dạng sinh học. Ví dụ, một loài cây của rừng mưa nhiệt đới là nơi cư trú của một hệ động vật không xương sống bản địa với một trăm loài, hiển nhiên đóng góp đối với việc duy trì đa dạng sinh học toàn cầu là lớn hơn so với một thực vật núi cao châu Âu không có một loài sinh vật nào phụ thuộc vào .

  3. #3
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Khái niệm đa dạng hệ sinh thái


    Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái .

    Đánh giá định lượng về tính đa dạng ở mức quần xã, nơi cư trú hoặc hệ sinh thái còn nhiều khó khăn. Trong khi có thể định nghĩa về nguyên tắc thế nào là đa dạng di truyền và đa dạng loài, từ đó xây dựng các phương pháp đánh giá khác nhau, thì không có một định nghĩa và phân loại thống nhất nào về đa dạng hệ sinh thái ở mức toàn cầu, và trên thực tế khó đánh giá được đa dạng hệ sinh thái ở các cấp độ khác ngoài cấp khu vực và vùng, và cũng thường chỉ xem xét đối với thảm thực vật. Một hệ sinh thái khác nhiều so với một loài hay một gen ở chỗ chúng còn bao gồm cả các thành phần vô sinh, chẳng hạn đá mẹ và khí hậu .

    Đa dạng hệ sinh thái thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thành viên. Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tương đối của các loài khác nhau cũng như các kiểu dạng của loài . Trong trường hợp thứ nhất, các loài khác nhau càng phong phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư trú càng đa dạng. Trong trường hợp thứ hai, người ta quan tâm tới số lượng loài trong các lớp kích thước khác nhau, tại các dải dinh dưỡng khác nhau, hoặc trong các nhóm phân loại khác nhau . Do đó một hệ sinh thái giả thiết chỉ có một vài loài thực vật sẽ kém đa dạng hơn vùng có cùng số lượng loài nhưng bao gồm cả động vật ăn cỏ và động vật ăn thịt. Do tầm quan trọng của các yếu tố này khác nhau khi đánh giá tính đa dạng của các khu vực khác nhau, nên không có một chỉ số có căn cứ chính xác cho việc đánh giá tính đa dạng. Điều này rõ ràng có ý nghĩa quan trọng đối với việc xếp hạng các khu vực khác nhau .

  4. #4
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Khái niệm đa dạng di truyền

    Đa dạng di truyền là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, và vi sinh vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau .
    Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.

    Đa dạng di truyền là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã. Xét cho cùng, đa dạng di truyền chính là sự biến dị của sự tổ hợp trình tự của bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền.

    Một biến dị gen xuất hiện ở một cá thể do đột biến gen hoặc nhiễm sắc thể, ở các sinh vật sinh sản hữu tính có thể được nhân rộng trong quần thể nhờ tái tổ hợp. Người ta ước tính rằng, số lượng các tổ hợp có thể giữa các dạng khác nhau của các trình tự gen ở người cũng như ở ruồi giấm đều lớn hơn số lượng các các nguyên tử trong vũ trụ. Các dạng khác của đa dạng di truyền có thể được xác định tại mọi cấp độ tổ chức, bao gồm cả số lượng DNA trong mỗi tế bào, cũng như số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể.

    Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể giao phối cùng loài có được nhờ chọn lọc. Mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần suất khác nhau của các gen trong tập hợp gen. Điều này cũng tương tự trong tiến hoá của quần thể. Như vậy, tầm quan trọng của biến dị gen là rất rõ ràng: nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo .

    Chỉ một phần nhỏ (thường nhỏ hơn 1%) vật chất di truyền của các sinh vật bậc cao là được biểu hiện ra ngoài thành các tính trạng kiểu hình hoặc chức năng của sinh vật; vai trò của những DNA còn lại và tầm quan trọng của các biến di gen của nó vẫn chưa được làm rõ.

    Ước tính cứ 109 gen khác nhau phân bố trên sinh giới thì có 1 gen không có đóng góp đối với toàn bộ đa dạng di truyền. Đặc biệt, những gen kiểm soát quá trình sinh hóa cơ bản, được duy trì bền vững ở các đơn vị phân loại khác nhau và thường ít có biến dị, mặc dù những biến dị này nếu có sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính đa dạng của sinh vật. Đối với các gen duy trì sự tồn tại của các gen khác cũng tương tự như vậy . Hơn nữa, một số lớn các biến dị phân tử trong hệ thống miễn dịch của động vật có vú được quy định bởi một số lượng nhỏ các gen di truyền.

  5. #5
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái


    Khái quát
    Cuộc sống của chúng ta đang phải hoàn toàn phụ thuộc vào các hệ sinh thái (HST) để tồn tại . Từ nước chúng ta uống đến lương thực chúng ta ăn; từ biển cả cung cấp cho chúng ta những sản phẩm phong phú đến đất để chúng ta xây dựng nhà cửa ... Các HST cho ta hàng hoá và dịch vụ mà cuộc sống chúng ta không thể thiếu . Các HST lọc sạch không khí và nước, duy trì đa dạng sinh học, phân huỷ và tái quay vòng các chất dinh dưỡng, cũng như đảm bảo vô số các chức năng quan trọng khác. Nó làm cho Trái đất có sự sống.

    Tuy nhiên, các HST vẫn đang ngày một bị con người xâm phạm không thương tiếc. Trên khắp thế giới, con người sử dụng quá mức và lạm dụng các HST quan trọng, từ các rừng mưa nhiệt đới cho tới các rạn san hô, đồng cỏ, thảo nguyên... đã gây suy thoái và phá huỷ nghiêm trọng các HST - nơi nuôi dưỡng của mọi loài . Điều đó đã làm ảnh hưởng tới cuộc sống tự nhiên, được xác nhận bằng con số các loài bị đe doạ, đồng thời gây hại đến các lợi ích của con người qua việc làm cạn kiệt dòng tài nguyên mà chúng ta sống phụ thuộc. Cuộc sống nghèo khổ đã buộc nhiều người phải huỷ hoại các HST mà họ sống nhờ vào, ngay cả khi họ hiểu rằng, họ đang chặt cây hay bắt cá tới mức chúng không thể phục hồi được. Lòng tham hay sự táo tợn, sự không hiểu biết hay vô ý đều đẩy con người đến chỗ không đếm xỉa đến những giới hạn của tự nhiên để duy trì các HST. Khó khăn lớn nhất vẫn là con người ở mọi tầng lớp xã hội, từ những người dân bình thường đến các nhà hoạch định chính sách, không có khả năng tận dụng nguồn tri thức hiện có hoặc thiếu các thông tin căn bản về điều kiện và triển vọng trong tương lai xa của các HST. Điều đó sẽ dẫn tới các HST có nguy cơ bị phá huỷ gây ra những hậu quả nặng nề chưa từng thấy đối với quá trình phát triển kinh tế và cuộc sống của con người . Ngày nay, nhiều quốc gia đang trải qua những tác động do suy thoái các HST gây ra dưới hình thức này hay hình thức khác: Nạn thiếu nước ở Punjab, ấn Độ; xói mòn đất ở Tuva, Nga; cá chết ngoài khơi Bắc Carolina, Hoa Kỳ. Trượt đất trên các diện tích đất dốc có rừng bị phá ở Honduras; cháy các cánh rừng bị xáo trộn ở Borneo và Sumatra, Inđônêxia; kiệt quệ nguồn cá ở Biển Đen; hàng nghìn người chết và hàng triệu người mất nhà cửa do lũ lụt ở sông Dương Tử, hậu quả của chặt phá rừng đầu nguồn... Mặc dù phải trả giá rất đắt do làm suy thoái các HST và chúng ta phải phụ thuộc vào năng suất của các HST, song chúng ta lại biết quá ít về toàn bộ tình trạng của của các HST Trái đất. Chúng ta cần phải hiểu các HST của Trái đất tồn tại ra sao ? Chúng ta có thể quản lý như nào để các HST vẫn duy trì tình trạng tốt và có hiệu suất trước những yêu cầu ngày càng tăng của con người ?

    Các thành phần và quá trình cơ bản của sinh quyển được liên kết với nhau và với những sản phẩm mà chúng cung cấp cho con người . Các mối liên hệ qua lại này cho thấy sẽ không thể quản lý loài nếu thiếu sự quản lý đặc điểm di truyền và nơi sống của chúng và không thể có được những biện pháp bảo tồn tối ưu nếu không có sự hiểu biết về các mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và nhu cầu của con người . Tính đa dạng loài và gen di truyền, cũng như nơi cư trú và hệ sinh thái trong một quốc gia, là những nguồn tài nguyên quan trọng cần được sử dụng bền vững trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia . Cho dù một quốc gia có tính đa dạng sinh học cao hay không, thì việc quản lý sử dụng tài nguyên sinh vật của quốc gia đó vẫn nên là một ưu tiên quốc gia để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu cuả con người và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ toàn cầu của quốc gia .

  6. #6
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Hệ sinh thái nước ngọt


    Nơi cư trú
    Các nền văn hoá của trên thế giới xưa và nay đều tập trung trên các nơi cư trú nước ngọt, Babylon được xây dựng ở vùng châu thổ giữa sông Tigris và Euphrates, Ai Cập bên cạnh sông Nile, thành Rome bên cạnh sông Tiber, thủ đô Aztec trên một hòn đảo nhân tạo trên hồ Tenochtitlan, Pari bên sông Seine, Kinshsa bên sông Zaire . Các sông, hồ, ao, suối, các vùng đất ngập nước trên thế giới đã cung cấp phần lớn nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũng như một số lượng lớn cá và các thuỷ sản khác cho con người trên toàn thế giới .

    Đa dạng loài
    Các thuỷ vực nước ngọt là nơi cư trú của rất nhiều loài cá, lưỡng cư, động vật không xương sống, thực vật thuỷ sinh, và các vi sinh vật. Ước tính, chỉ riêng sông Amazon đã có 3000 loài cá, chỉ ít hơn 25% tổng số loài thú trên toàn trái đất. Đa dạng sinh học nước ngọt là ít được biết đến nhất trên trái đất. Các nhà khoa học tin rằng, chẳng hạn Thái Lan có thể có khoảng 1000 loài cá nước ngọt, nhưng chỉ khoảng 475 loài được ghi nhận hiện nay .

    Ngày nay, đa dạng sinh học nước ngọt đang bị đe doạ nghiệm trọng, đây là một chỉ số đầy ấn tượng về tính trạng các hệ sinh thái nước ngọt của trái đất. Tất cả các loài cá bản địa trong các lưu vực ở Mexico đã bị tuyệt diệt. Một cuộc khảo sát gần đây ở Malaysia cho thấy chỉ còn chưa tới một nửa trong số 266 loài cá được biết trước đây của nước này . Tại Singapore, 18 trong số 53 loài cá nước ngọt được ghi nhận năm 1934 đã không còn xuất hiện trong các nghiên cứu toàn diện của 30 năm sau . ở đông nam nước Mỹ, 40-50% các loài ốc sên nước ngọt đã tuyệt chủng hoặc bị đe doạ do việc ngăn sông hoặc kênh đào hoá các dòng sông. Thậm chí trên phạm vi một lục địa, tỷ lệ mất đi của các loài cũng rất cao . ở face=".VnTime"> Bắc Mỹ, 1/3 loài cá nước ngọt bản địa đã bị tuyệt diệt hoặc bị đe doạ ở các mức độ khác nhau .

    Nơi cư trú nước ngọt
    Đa dạng sinh học trong các hệ thống nước ngọt phân bố trong các loại hình thuỷ vực khác cơ bản với các hệ thống biển hoặc đất liền. Các sinh vật trên đất liền hoặc trong biển sống trong các môi trường mà ít nhiều có sự liên tục trên một vùng rộng lớn, và các loài sẽ có sự điều chỉnh nhất định phạm vi phân bố của chúng khi các điều kiện khí hậu hoặc sinh thái bị thay đổi . Còn những nơi cư trú nước ngọt tương đối không liên tục, và nhiều loài nước ngọt không di chuyển dễ dàng qua vùng đất liền phân chi châu thổ sông thành các đơn vị riêng biệt. Điều này gây ra ba ảnh hưởng:

    a) Các loài nước ngọt phải tiếp tục tồn tại khi có những thay đổi về khí hậu và sinh thái ở nơi cư trú

    b) Đa dạng sinh học nước ngọt thường có tính địa phương hoá cao, thậm chí các hệ thống hồ và suối nhỏ cũng thường có những dạng sống tiến hoá đơn nhất có tính địa phương

    c) Đa dạng loài trong các thuỷ vực nước ngọt thường cao, ngay cả ở những vùng có số lượng loài tại từng điểm cụ thể thấp. Điều này là do có sự khác nhau về thành phần loài giữa các địa điểm.

    Các hồ nước ngọt là những ví dụ điển hình của "đảo sinh cảnh" (trong trường hợp này, các thuỷ vực được bao quanh bởi đất liền). Nói chung, giống như các đảo, các hồ này càng rộng và càng cổ thì thường có tính đặc hữu càng cao, và trong các hồ có nguồn gốc từ nứt gãy địa chất ở châu Phi hoặc hồ Baikal ở Trung á, đa dạng loài có thể rất kỳ diệu . Với hàng trăm loài mỗi hồ, mà 90% số đó trong một số trường hợp không còn tìm thấy nữa, các hồ Đồng Phi có mật độ các loài đặc hữu địa phương lớn nhất thế giới .

    Đe doạ đối với các hệ sinh thái nước ngọt
    Đáng tiếc, các hồ cũng giống những hòn đảo theo một khía cạnh khác: các loài sinh vật có khả năng tuyệt diệt cao khi bắt đầu có các thay đổi về nơi cư trú hoặc khi các loài ngoại lai được nhập nội . Việc nhập nội của các loài không phải bản địa - đáng tiếc vẫn thường được sự đồng ý và khuyến khích của các chính phủ - luôn đi liền với sự suy giảm đa dạng sinh học và sự tan vỡ của nghề cá, chẳng hạn ở các hồ như hồ Chapala của Mexico, hồ Gatun của Panama và hồ Lớn của Bắc Mỹ.

    Các yếu tố khác đóng góp vào sự suy thoái của các hệ sinh thái nước ngọt và các sinh vật bản địa của chúng là sự ô nhiễm hoá học và ô nhiễm nhiệt, việc khai thác quá mức và những thay đổi về nơi cư trú (chẳng hạn như việc xây đập nước). Những yếu tố này ảnh hưởng tới đa dạng sinh học ở các mức độ khác nhau ở các các vùng công nghiệp hoá và các vùng đang phát triển. Tại châu Âu và Bắc Mỹ, ô nhiễm, axit hoá và các biến đổi vật lý của dòng chảy đã tạo ra các ảnh hưởng mạnh nhất. Trong khi đó ở phần lớn Nam Mỹ và châu Phi, việc khai thác quá mức và sự nhập nội của các sinh vật không phải bản địa là những tác nhân tương đối quan trọng gây nên sự suy giảm đa dạng sinh học.

    Các chương trình bảo vệ đa dạng sinh học nước ngọt ở các nước công nghiệp hoá đã bị tụt hậu quá xa so với các chương trình bảo vệ sinh vật ở cạn. Các khu bảo vệ thương là các hồ hoặc các lưu vực nhỏ, còn các sông suối thường quá dài để tập hợp thành các vùng bảo vệ thích hợp. Ngoài ra, các sông suối thường chảy qua nhiều khu vực chính trị hoặc chính chúng tạo nên những đường biên giới chính trị (ví dụ, sông Danube chảy qua hoặc là biên giới của bảy quốc gia châu Âu). Do đó, việc quản lý hiệu quả đa dạng sinh học ven sông thường là một khó khăn của hoạt động chính trị.

    Phương pháp chính để bảo vệ đa dạng sinh học nước ngọt là xác định các loài đặc thù bị đe doạ hoặc đang gặp nguy hiểm đưa chúng vào chương trình phục hồi quốc gia hoặc bảo vệ quốc tế. Đáng tiếc, cách tiếp cận này đã không đạt hiệu quả. Ví dụ, ở Mỹ, không có các loài thuỷ sinh nào được xếp vào danh sách các loài đang gặp nguy hiểm của chính phủ, nhưng có 10 loài cá đã biến mất do tuyệt chủng.

  7. #7
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển



    Năm 1768, chỉ 27 năm sau phát hiện loài bò biển Steller ở biển Bering, con cuối cùng đã bị giết, cùng chia sẻ số phận này là loài chim Anca lớn bị tuyệt diệt vào những năm 1840, loài hải cẩu Caribbean vào những năm 1950 và một số những loài sinh vật ở biển khác mà ta không biết.

    ít được đưa ra công khai hơn so với sự suy giảm đa dạng sinh học trên đất liền, sự suy giảm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái ở biển là một vấn đề toàn cầu .

    Sự đa dạng đáng kinh ngạc: Cho dù những loài sinh vật biển đã được biết đến ít hơn so với trên đất liền, ở một số khía cạnh nào đó, sự đa dạng của biển vẫn nhiều hơn. Trong 33 ngành sinh vật trên thế giới, chỉ trừ một ngành, còn lại đều xuất hiện ở biển, và trong đó 15 ngành chỉ có ở biển.
    Các hệ sinh thái rạn san hô: Với các cấu trúc vật lý vô cùng phức tạp, năng suất sơ cấp cao, và có tính đa dạng loài cao nhất so với tất cả các quần xã sinh vật khác trong các môi trường sống tương ứng của chúng, có thể coi các rạn san hô tương tự như những rừng nhiệt đới .
    Các rạn san hô và con người: Các rạn san hô có vai trò rất quan trọng bởi sự phong phú sinh học, các dịch vụ kinh tế và môi trường mà chúng cung cấp cho hàng triệu người .
    Đa dạng sinh học và các rạn san hô bị đe doạ: Một số rạn san hô đang bị đe doạ được coi là hết sức quan trọng về khía cạnh sinh học
    Đe doạ đối với đa dạng sinh học biển
    Đe doạ đối với các rạn san hô: Các rạn san hô quanh thế giới đang bị đe doạ bởi sự tấn công từ các hoạt động của con người .

  8. #8
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Sự đa dạng đáng kinh ngạc
    Đa dạng sinh học trong môi trường biển

    --------------------------------------------------------------------------------

    Tính đa dạng của các hệ sinh thái biển, từ các rừng ngập mặn cấu trúc phức tạp cho tới các tầng nước giữa của đại dương có vẻ không có gì đặc trưng, có thể so sánh được với tính đa dạng trên đất liền.

    Các rạn san hô, giống như những rừng nhiệt đới, nổi bật nhờ sự đa dạng loài đáng kinh ngạc. Các mức độ đa dạng loài khác nhau giữa các hệ sinh thái, phụ thuộc vào vị trí.

    Những rạn san hô có độ phong phú loài cao nhất được tìm thấy ở một vệt kéo dài từ Đông Nam Á đến Rạn Great Barrier, ngoài khơi đông bắc Australia .

    Hơn 700 loài san hô được tìm thấy ở vùng này .
    Vùng Indo-West-Pacific có nhiều hơn 16% con số ước tính 19.000 loài cá nước ngọt và nước mặn của thế giới .
    Rạn Great Barrier, hệ thống rạn san hô lớn nhất thế giới, bao phủ diện tích 349.000 km2 và chỉ chiếm 1/10 của 1% diện tích đáy đại dương, nhưng có:
    gần 8% (1500) số loài cá của thế giới
    nhiều hơn 700 loài san hô
    hơn 4000 loài thân mềm
    252 loài chim làm tổ và sinh sản trên các đảo san hô, 5 loài rùa biển sống ở các rạn san hô, một số loài cá voi và cá heo có cuộc sống liên quan đến rạn san hô này .
    Tại quần đảo Philippine (với các rạn san hô Bolinao, Tubbataha, và các rạn san hô đảo Apo và Balicasag) có hơn 2000 loài cá sống trên hoặc gần các rạn san hô, trong khi đó chỉ có 448 loài sống quanh Hawaii và 507 loài ở Bahamas.
    Tính đa dạng loài của các phần nhỏ hơn của rạn san hô cũng rất ấn tượng.

    Các rạn san hô Capricorn phía nam tận cùng Rạn Great Barrier chỉ chiếm 3% diện tích của toàn bộ phức hệ Rạn Great Barrier nhưng có tới 859 loài cá và chiếm 72% số loài của phức hệ. Độ phong phú về các loài cá này (4,5% toàn bộ số loài cá trên thế giới) có thể sánh với độ phong phú về thực vật của Costa Rica (3% tổng số loài thực vật của thế giới) và về số loài động vật (4,7%), nhưng Costa Rica lớn gấp 4 lần so với phần Capricom của Rạn Great Barrier.
    So sánh những ước tính này với các hệ sinh thái rạn san hô khác:

    Vùng biển ven bờ của biển Địa Trung Hải có ít hơn 25% số loài cá của Rạn Great Barrier và ít hơn 20% số loài của Quần đảo Philippine .
    Dải ven bờ trung Đại Tây Dương của Hoa Kỳ, có thể so sánh với độ dài của Rạn Great Barrier, nhưng chỉ có 250 loài cá, ít hơn 1/5 số loài của Ran Great Barrier.
    Tuy nhiên, các rạn san hô bên ngoài vùng Indo-West-Pacific cũng rất quan trọng với các quần thể và các loài đặc hữu của chúng.

    Mặc dù ở Biển Đỏ kiểu dạng san hô ít hơn, nhưng ở đây có nhiều loài đặc hữu hơn so với các vùng khác của phía Đông Biển Ấn Độ Dương.
    Mặc dù các rạn san hô có nhiều điểm giống với rừng nhiệt đới, nhưng tính đặc hữu của các loài bản địa của các rạn san hô lại thấp hơn.

    Ví dụ, trong khắp Ấn Độ - Thái Bình Dương tìm thấy phần lớn các loài của rạn san hô.
    Bởi các loài rạn san hô phân tán dễ dàng, nên các loài đặc hữu bản địa tồn tại chỉ trong các phần đảo đại dương cô lập. Chẳng hạn, 20% các loài san hô và 30% của các loài cá ven bờ ở Hawaii là đặc hữu cho chuỗi đảo này .
    Do các loài rạn san hô có xu hướng phân bố rộng, nên so với rừng nhiệt đới, chúng ít bị đe doạ bởi sự tuyệt chủng loài hơn. Tuy nhiên, sự suy thoái vẫn đe doạ khả năng đáp ứng nhu cầu con người của cả hai loại hệ sinh thái này .

    Gần đây, người ta thấy rằng vùng biển sâu có thể cũng có đa dạng loài cao . Tuy nhiên, các nhà đại dương học vẫn biết rất ít về chúng.

    Cho đến năm 1938, tuy loài cá vây tay mới chỉ biết đến dưới dạng hoá thạch, người ta vẫn cho rằng chúng còn sống sót ở Ấn Độ Dương.
    Cho đến giữa những năm 1970, những hốc thuỷ nhiệt ở đại dương mới được phát hiện ở Đông Thái Bình Dương dọc theo các sống của đáy đại dương nơi các lớp vỏ trái đất bị dồn về một phía . Các hệ sinh thái đa dạng và độc nhất này là nơi cư trú của các dạng sống vẫn còn nhiều mới mẻ đối với các nhà khoa học.

  9. #9
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Các hệ sinh thái rạn san hô
    Rừng Amazon của đại dương

    --------------------------------------------------------------------------------

    Các rạn san hô và các quần xã sinh vật có liên quan bao trùm một diện tích ước chừng 600.000 km2, chủ yếu nằm giữa Hạ chí tuyến và Đông chí tuyến. Các rạn san hô chỉ chiếm ít hơn 0,2% tổng diện tích đại dương (tương đương 4% diện tích đất canh tác của trái đất)

    Các rạn san hô thường được tìm thấy ở các tầng nước nông, ở độ sâu khoảng 30m và trải dài khoảng 15% dải bờ biển của thế giới . Thuỷ sản ở các rạn san hô này và vùng thềm lục địa gần kề có thể đạt sản lượng gần 10% sản lượng thuỷ sản toàn cầu nếu được khai thác chọn vẹn.

    Xét cục bộ, các rạn san hô thậm chí có tầm quan trọng như một nguồn thực phẩm. ở Đông Nam á, thuỷ sản ở rạn san hô cung cấp10-25% giá trị dinh dưỡng cho người dân sống dọc theo bờ biển.

    Các rạn san hô cũng bảo vệ cho các vùng ven bờ tránh xói mòn. Trong trường hợp các đảo san hô vòng, san hô cung cấp nền móng cho chính bản thân đảo . Tại ấn Độ Dương, 77% các đảo độc lập và các quần đảo được hình thành duy nhất từ sự tích luỹ các rạn san hô.

    Các rạn san hô tương tự với các rừng mưa nhiệt đới ở 2 điểm:

    Cả hai đều phát triển mạnh dưới các điều kiện nghèo dinh dưỡng (nơi mà các chất dinh dưỡng chủ yếu được giữ trong các vật chất sống), nhưng vẫn hỗ trợ hiệu quả các quần xã đa dạng thông qua các chu trình tuần hoàn.
    Cả hai đều có các mức độ đa dạng loài rất cao .
    Tuy nhiên, các rạn san hô và các hệ sinh thái biển khác chứa nhiều các dạng sống hơn so với các nơi cư trú trên đất liền. Trong 33 ngành sinh vật trên thế giới, chỉ trừ một ngành, còn lại đều xuất hiện ở biển, và trong đó 15 ngành chỉ có ở biển.

    Các rạn san hô được chú ý tới bởi đây là một trong những nơi có năng suất tổng số (năng suất thô) cao nhất của trái đất.

    Năng suất sơ cấp tinh của các rạn san hô xấp xỉ 2500 gam cacbon/m2/năm, có thể so sánh với con số 2200 gam cacbon/m2/năm của rừng nhiệt đới và chỉ 125 gam cacbon/m2/năm ở ngoài đai dương.
    Các sinh vật đơn bào dạng ống (polyp) san hô, lớp sinh vật sống mỏng bao phủ bên ngoài cấu trúc của rạn san hô, cung cấp chủ yếu năng lượng cho các quần xã. Các sinh vật nhỏ bé có chứa tảo này, trong quá trình sống chuyển ánh sáng mặt trời thành năng lượng, đồng thời nhận chất dinh dưỡng từ chất thải của các polyp.
    San hô và một ít tảo đá vôi tạo nên rạn (có thể cấu thành hơn một nửa vật chất đá của một rạn) tạo thành một nền móng canxi cacbonat. Kết quả tích luỹ của nhiều thế hệ tạo nên các kết cấu lớn, cung cấp nơi cư trú và ẩn nấp cho vô số sinh vật khác. Các rạn san hô là kết quả của hàng nghìn năm sinh trưởng. Do đó, một số trong đó là những quần xã sống lâu đời nhất của hành tinh.
    Các hệ sinh thái kết hợp
    Các rạn san hô khác hẳn so với các môi trường biển khác bởi tính đa dạng loài của chúng, nhưng nhiều loài của rạn san hô cũng phụ thuộc vào các hệ sinh thái kết hợp khác.

    Thông thường, các rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển có mối liên hệ vật lý và sinh học:

    Các rạn san hô như những đê chắn sóng tạo điều kiện cho các rừng ngập mặn ven biển phát triển;
    Chất canxi của rạn cung cấp cát và trầm tích để rừng ngập mặn và cỏ biển sinh trưởng trên đó; và
    Các quần xã rừng ngập mặn và cỏ biển cung cấp năng lượng đưa vào hệ sinh thái ven biển và nơi đẻ trứng, nuôi con và kiếm ăn cho nhiều loài sinh vật có quan hệ với rạn san hô.

  10. #10
    Quân Nhân Danh Dự Avatar của Hung.LQ
    Tham gia ngày
    Aug 2005
    Bài gửi
    953

    Mặc định

    Các rạn san hô và con người

    --------------------------------------------------------------------------------

    Các rạn san hô là một trong những hệ sinh thái có giá trị nhất của trái đất bởi lẽ độ phong phú sinh học rất lớn và các dịch vụ kinh tế và môi trường mà chúng cung cấp cho hàng triệu người . Theo một ước tính, nơi cư trú rạn san hô cung cấp cho con người các nguồn tài nguyên sống (chẳng hạn như cá) và các dịch vụ (như du lịch và bảo vệ bờ biển) với giá trị khoảng 375 tỉ đô la mỗi năm.

    Các rạn san hô quan trọng bởi các lý do:

    Đa dạng sinh học: Các rạn san hô là một trong những hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học nhất trên trái đất. Cho đến nay, khoảng 4000 loài cá và 800 loài san hô tạo thành rạn đã được xác định. Tuy nhiên, các chuyên gia vừa mới bắt đầu thống kê số lượng tổng số các loài tìm thấy ở đây . Một nhà khoa học nổi tiếng, Marjorie Reaka-Kudla, ước tính có khoảng 1 đến 9 triệu loài có quan hệ với rạn san hô. Sử dụng con số này và các ước tính thô về sự suy giảm rạn san hô do con người gây ra, tiến sỹ Reaka-Kudla dự đoán rằng có trên 1 triệu loài có thể đối mặt với sự tuyệt chủng trong vòng 4 thập kỷ tới .
    Các động - thực vật rạn san hô cung cấp cho con người:

    Thuỷ sản: Phần lớn người nghèo trên thế giới sinh sống tại các vùng ven biển thuộc các khu vực đang phát triển, có nguồn Protein phụ thuộc trực tiếp vào các loài sinh vật sống ở rạn san hô. Trên toàn cầu, 1/5 lượng protein động vật mà con người sử dụng có nguồn gốc từ môi trường biển, đạt giá trị hàng năm khoảng 50 tỉ đến 100 tỉ đô la . Ở các nước đang phát triển, các rạn san hô cung cấp khoảng 1/4 tổng lượng cá đánh bắt, theo một ước tính cung cấp thực phẩm cho 1 tỷ người ở châu Á . Nếu được quản lý hợp lý, các rạn san hô có thể cho sản lượng trung bình 15 tấn cá và các thuỷ sản khác trên 1 km2 trong một năm. Tuy nhiên, rất nhiều vùng trên thế giới, đánh bắt thuỷ sản đang làm suy kiệt nguồn tài nguyên này do khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt.
    Dược liệu mới: Trong những năm trở lại đây, các bệnh vi sinh vật gây ra cho con người đã càng tăng sức đề kháng trước những thuốc kháng sinh đang có. Các nhà khoa học đang phải quay lại đại dương để nghiên cứu các phương thức chữa bệnh mới . Các loài rạn san hô có triển vọng đặc biệt bởi có nhiều hoá chất được những sinh vật này tạo ra với mục đích tự bảo vệ. Triển vọng này vừa mới được phát hiện. San hô đang thực sự được dùng trong cấy ghép mô xương, và các hoá chất tìm thấy ở một vài loài hữu ích đối với xử lý virut. Các hoá chất của những loài liên quan đến rạn san hô có thể đưa ra hướng điều trị mới cho các bệnh bạch cầu, ung thư da, và các bệnh u bướu khác. Theo một ước tính, 1/2 các nghiên cứu dược phẩm mới chữa ung thư hiện nay tập trung vào các sinh vật biển.
    Các sản phẩm khác: Hệ sinh thái rạn san hô là nơi cung cấp nhiều sản phẩm kinh tế khác, từ san hô, vỏ sò làm thành đồ trang sức và đồ mỹ thuật du lịch đến cá và san hô sống nuôi trong bể kính; cát và đá vôi dùng trong công nghiệp xây dựng. Tuy nhiên, các hoạt động khai khoáng thường phá vỡ những nơi cư trú này .
    Các rạn san hô cung cấp rất nhiều dịch vụ môi trường, trong đó một số khó định lượng, nhưng rất quan trọng đối với những người sống ở gần đó. Những dịch vụ này bao gồm:

    Giá trị giải trí: Công nghiệp du lịch là một trong những ngành phát triển nhanh nhất của nền kinh tế toàn cầu . Các rạn san hô là sức hấp dẫn chính đối với các thợ lặn, những người câu cá giải trí và những kỳ nghỉ hè (một số những bãi biển đẹp nhất được tạo thành do sự xói mòn tự nhiên của các rạn san hô gần đó). Hơn 100 nước duy trì lợi nhuận từ các giá trị giải trí của những rạn san hô của họ. Các rạn san hô của Florida đưa lại 1,6 tỉ đô la vào nền kinh tế mỗi năm từ du lịch. Các nước vùng Caribbean, nơi hấp dẫn hàng triệu du khách mỗi năm đến các bãi biển, rạn san hô, trung bình 1/2 tổng sản phẩm quốc dân thu được từ công nghiệp du lịch, có giá trị đạt 8,9 tỉ đô la năm 1990.
    Bảo vệ dải bờ biển: Các dải san hô làm thành vùng đệm cho dải bờ biển liền kề trước những tác động của sóng biển và những cơn bão . Giá trị bảo vệ này rất lớn, từ duy trì năng suất cao của ngư nghiệp vùng rừng ngập mặn và đất ngập nước cho đến bảo vệ nền kinh tế được xây dựng quanh các bến cảng, và thường thì tại vùng nhiệt đới, các cảng này được che chắn bởi các rạn san hô.
    Bảo vệ khí hậu: Quá trình quang hợp ở biển cố định cacbon dioxit nếu không sẽ làm tăng lên hiện tượng ấm lên toàn cầu .
    Trên toàn cầu, ước tính khoảng nửa tỷ dân sống sống trong phạm vi 100 km của một rạn san hô, đang thu nhập chính từ các sản phẩm của hệ sinh thái này và được chúng bảo vệ.

    Một nghiên cứu hiện nay cho thấy việc phá huỷ 1 km rạn san hô gây tổn thất từ 137.000 - 1.200.000 đô la trong vòng 25 năm, đó là chỉ mới tính đến giá trị của ngư nghiệp, du lịch và bảo vệ đơn thuần.

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Hosting dành cho học sinh sinh viên
    Gửi bởi binhanga trong mục Các vấn đề CNTT khác
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 15-01-2004, 06:21 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube