Hoàng Bá có vị đắng, tính hàn, qui vào 3 kinh thận, bàng quang, tỳ; có công năng thanh nhiệt táo thấp, đặc biệt khi hạ tiêu thấp nhiệt, dẫn đến các chứng bệnh viêm bàng quang thấp nhiệt, tiểu tiện ít, đỏ, buốt, dắt...


Thành phần hóa học:


- Vỏ thân chứa 1,6% berberin; còn có các alcaloid khác là palmatin, magnoflorin, jatrorrhizin, phellodendrin, menispermin, candicin. Ngoài ra còn có các chất đắng obakunon, obakulacton, và các chất khác: b-sitosterol và campesterol.


Công dụng của Hoàng Bá:


- Theo y học cổ truyền, Hoàng Bá có vị đắng, tính hàn, qui vào 3 kinh thận, bàng quang, tỳ; có công năng thanh nhiệt táo thấp, đặc biệt khi hạ tiêu thấp nhiệt, dẫn đến các chứng bệnh viêm bàng quang thấp nhiệt, tiểu tiện ít, đỏ, buốt, dắt. Còn có tác dụng tư âm giáng hỏa, khi âm hư phát sốt, xương đau âm ỉ, ra mồ hôi trộm, di tinh do thận hỏa. Ngoài ra, hoàng bá còn có tác dụng giải độc tiêu viêm, trị sang lở, mụn nhọt.


- Tác dụng kháng khuẩn: Cao cồn vỏ cây hoàng bá có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm, trong đó có trực khuẩn lao. Hợp chất lacton trong hoàng bá có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương và gây hạ đường huyết ở thỏ bình thường. Ở thỏ đã cắt bỏ tuyến tụy, không thể hiện tác dụng này.


- Dịch chiết toàn phần của Hoàng bá làm vỡ đơn bào Entamoeba histolytica, còn Berberin làm đơn bào co thần kinh (Trung Dược Học).


- Nước sắc hoàng bá có tác dụng chống Entameoba histolytica trong ống nghiệm ở nồng độ l: 16 và Berberin có tác dụng rõ rệt ở nồng độ l: 200. Alcaloid toàn phần của Hoàng bá chứa Berberin với hàm lượng lớn nhất, ức chế trong ống nghiệm các vi khuẩn và nấm Bacillus mycoides, Bacillus subtilis, Candida albicans, Salmeonella typhi, Shigella shigae, Sh. flexneri, phế cầu, trực khuẩn lao, tụ cầu vàng,. liên cầu khuẩn (Trung Dược Học).


- Hoàng bá có tác dụng lợi tiểu và ức chế hoạt tính gây co thắt co trơn của histamin và Acetylcholin. Hoàng bá đã được kết hợp với các thuốc hóa dược trong điều trị viêm ruột kết mạn tính đạt kết quả tốt. Một bài thuốc trong có hoàng bá dã được điều trị tiêu chảy trẻ em đạt tỷ lệ khỏi và đỡ 95%. Viên Berberin đã được áp dụng điều trị lỵ trực khuẩn trên 80 bệnh nhân (30 nhiễm Shigella flexneri, 15 nhiễm Sh. Shigae và 8 nhiễm các Shigella khác) . Tỷ lệ khỏi đạt 93% (Trung Dược Học).


- Hoàng bá còn được áp dụng trong công thức kết hợp để điều trị viêm loét cổ tử cung và lộ tuyến trên 360 bệnh nhân đạt tỉ lệ khỏi và đỡ 96%. Thuốc có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, giảm tiết dịch và giúp sự tái tạo tổ chức ở nơi tổn thương cổ tử cung được nhanh hơn (Trung Dược Học).


- Nước sắc hoặc cao cồn 100% có tác dụng kháng khuẩn ở mức độ khác nhau đối với tụ cầu khuẩn vàng, phẩy khuẩn tả, các trực khuẩn than, bạch hầu, lỵ, mủ xanh) thương hàn và phó thương hàn, liên cầu khuẩn. Mức độ tác dụng hơi kém hơn so với Hoàng liên (Chinese Herbal Medicine).


- Nước sắc Hoàng Bá ức chế sự phát triển các nấm da trong ống nghiệm (Chinese Herbal Medicine).


- Hoàng Bá tính hàn mà trầm, dùng sống thì tả thực hỏa; Dùng chín không hại dạ dầy; Chế với riệu trị bệnh ở thượng tiêu; Chế với nước trị bệnh ở hạ tiêu; Chế với mật trị bệnh ở trung tiêu (Bản Thảo Cương Mục).


Cách dùng Hoàng Bá:


- Dùng 6 -12 gr rửa sạch, đun nước uống trong ngày.


- Hỗ trợ điều trị lị cấp tính, viêm ruột cấp tính: hoàng bá 9g, bồ công anh 15g. Sắc uống ngày 1 thang, 3 lần trước bữa ăn. Uống liền 2 tuần.