Lê Nam Thắng

Thứ trưởng Bộ trưởng Bộ BCVT

Ngành Bưu chính Viễn thông đứng trước không ít những thách thức và nhiều cơ hội khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trong đó Viễn thông đã có thế và lực được tích lũy sau 20 năm đổi mới và phát triển. Từ một ngành nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật (năm 1986 cả nước chỉ có gần 100.000 thuê bao điện thoại, bình quân 0.14 máy/100 dân; năm 2006 có 29,54 triệu máy, đạt mật độ 35 máy/100 dân (đạt chỉ tiêu 35 máy/100 dân mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra cho Ngành trong kế hoạch 5 năm (2006 - 2010) trên 30% dân số được nối mạng điện thoại, 17% dân số sử dụng Internet) đã phát triển ngang tầm khu vực, có nhiều đóng góp đáng kể vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện với việc Nhà nước ban hành và công bố Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử; Chiến lược phát triển Bưu chính Viễn thông đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Bộ máy quản lý cũng đươc củng cố và hoạt động ngày càng hiệu quả với sự ra đời của Bộ Bưu chính, Viễn thông ở trung ương và các sở Bưu chính Viễn thông tại các tỉnh, thành phố. Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu to lớn mà ngành đã đạt được, trong những năm qua, lĩnh vực viễn thông và Internet cũng còn tồn tại một số những hạn chế, bất cập trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, cũng như trong việc thực thi pháp luật cần được đánh giá, xem xét một cách nghiêm túc để khắc phục, nhằm tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh viễn thông thuận lợi, công khai, minh bạch, đặc biệt là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO.

Về hạ tầng mạng, đến nay chúng ta đã có tám doanh nghiệp (DN) viễn thông (VNPT, Viettel, EVNT, SPT, Hanoi Telecoms, Vishipel, FPT, VTC) được cấp phép thiết lập mạng để cung cấp các dịch vụ viễn thông ở các mức độ khác nhau. Trong đó ba DN đã triển khai đầy đủ các mạng cố định trong nước, quốc tế và di động; sáu DN đã thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ di động. Có thể nói hiện nay so với khu vực, nước ta là nước có nhiều DN hạ tầng mạng, do đó môi trường và mức độ canh tranh ngày càng quyết liệt, nhất là trong lĩnh vực thông tin di động. Trong khi việc đầu tư triển khai hạ tầng mạng đang được các DN nhà nước hoặc công ty cổ phần mà nhà nước chiếm cổ phần chi phối đẩy mạnh, thì chúng ta lại chưa có nhiều chính sách khuyến khích các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển viễn thông, Internet thông qua hình thức bán lại dịch vụ viễn thông cơ bản hoặc cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng lưới của DN hạ tầng. Mặt khác về tâm lý các DN có hạ tầng muốn làm từ A đến Z trong kinh doanh viễn thông nên tìm mọi cách để có được mạng lưới cho riêng mình, trong khi nhà nước lại chưa có các chế tài cụ thể sử dụng chung cơ sở hạ tầng, dẫn đến tình trạng ở một số địa bàn có thể có sự đầu tư chồng chéo và dư thừa năng lực mạng lưới, trong khi ở một số địa bàn khác lại thiếu. Do đó có thể nói với cách làm như vậy chưa phát huy được hết hiệu quả đầu tư và hiệu quả sử dụng tài nguyên viễn thông.
Trong khi thị truờng viễn thông đã mở cửa và ngày càng cạnh tranh, thì việc quản lý giá cước trong một thời gian dài chưa kịp đổi mới mà vẫn vận hành theo cơ chế hành chính, bao cấp và bù chéo về giá giữa các dịch vụ. Một số giá cước chưa được xây dựng trên cơ sở giá thành theo định hướng thị trường. Nhà nước còn quản lý tập trung cao và can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) và định giá của DN.

Về tài nguyên viễn thông đặc biệt các băng tần vô tuyến là rất hữu hạn, nhưng lâu nay được cấp theo nguyên tắc ai đến trước cấp trước, ai đến sau nếu còn thì cấp. Cơ chế này dẫn đến tình trạng người có năng lực thì không còn tài nguyên để triển khai, trong khi người được cấp thì triển khai chậm hoặc triển khai không có hiệu quả. Vấn đề thương quyền khai thác đối với tài nguyên viễn thông chậm được nghiên cứu áp dụng. Phí tần số và kho số chưa phản ánh kịp sự thay đổi về chính sách viễn thông trong môi trường cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.

Bộ máy quản lý nhà nước ở mặc dù đã được hoàn thiện một bước nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế phát triển. Tên của các cơ quan quản lý bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin (CNTT) ở trung ương và địa phương không phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao, làm cho “danh chưa chính, ngôn không thuận”, dẫn đến khó khăn trong công tác phối hợp và thực thi pháp luật. Mặc dù thị trường viễn thông đã mở cửa và cạnh tranh nhưng chưa có cơ quan chuyên trách quản lý viễn thông để quản lý thị trường, nhất là trong lĩnh vực kết nối mạng lưới và điều tiết cạnh tranh nhằm bảo đảm một thị trường viễn thông phát triển nhanh, lành mạnh và theo đúng quy hoạch. Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý viễn thông cũng còn nhiều bất cập về số lượng cũng như chất lượng.

Trong lĩnh vực SXKD, nhiều DN viễn thông vẫn hoạt động vẫn theo phương thức cũ, chưa nhận thức đầy đủ những thách thức khi gia nhập WTO; bộ máy cồng kềnh, mô hình SXKD chưa phù hợp môi trường mới đặc biệt là trong điều kiện hội tụ công nghệ, dịch vụ và hội nhập kinh tế quốc tế; tác phong làm việc của người lao động chưa chuyên nghiệp; hiệu quả kinh doanh và năng suất lao động nhìn chung thấp. Bên cạnh đó việc hạch toán kinh doanh chưa độc lập, rõ ràng; vẫn còn tình trạng bù chéo giữa các dịch vụ; giá cước một số dịch vụ thấp hơn giá thành dẫn đến DN phải lấy dịch vụ có lợi nhuận cao bù cho dịch vụ lợi nhuận thấp làm cho sức cạnh tranh của các DN giảm.

Khi gia nhập WTO, ngành Viễn thông Việt Nam có những cơ hội mới vô cùng to lớn, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới không nhỏ, xuất phát từ các đặc điểm và xu hướng chung sau đây:

Một là, quá trình toàn cầu hoá sẽ làm thay đổi bức tranh của thị trường viễn thông thế giới. Cam kết của các nước trong WTO và việc ra đời các công nghệ mới (Internet, di động vệ tinh v.v) đã làm mờ đi ranh giới địa lý của các quốc gia và buộc các nước phải mở cửa thị trường viễn thông của mình thông qua việc các nhà khai thác nước ngoài cung cấp dịch vụ qua biên giới (mode 1) và liên doanh (JV) hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với các đối tác trong nước (mode 2) để cung cấp dịch vụ trực tiếp bên trong lãnh thổ quốc gia.

Hai là, quá trình tự do hoá, mở cửa thị trường, cạnh tranh giữa các DN trong lĩnh vực viễn thông đang diễn ra ngày càng quyết liệt, đặc biệt là tại các địa bàn thành phố đông dân cư, nơi dễ đầu tư và dân cư có thu nhập cao, dẫn đến giá cước và doanh thu trung bình trên một thuê bao liên tục giảm. Trong khi ở vùng sâu, vùng xa thường chỉ có một, hai DN nhà nước chủ lực đầu tư tham gia cung cấp dịch vụ để thực hiện nhiệm vụ công ích và góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng.

Ba là, sự hội tụ công nghệ và dịch vụ giữa viễn thông, quảng bá và tin học, giữa các dịch vụ cố định và di động đã đặt các cơ quan quản lý nhà nước và các DN trước những cơ hội và thách thức mới. Sự hội tụ này cho phép trên nền tảng của một hạ tầng mạng lưới thống nhất, hoặc trên một băng tần số xác định người ta có thể cung cấp tất cả các dịch vụ từ cố định đến di động, từ tiếng nói đến số liệu, hình ảnh, từ viễn thông đến phát thanh, tuyền hình. Trong khi đó các quy định quản lý của nhà nước về viễn thông và việc tổ chức SXKD viễn thông của các DN lại đang được triển khai thực hiện trên cơ sở phân chia theo loại hình dịch vụ hoặc công nghệ cụ thể

Để bảo đảm hội nhập thành công, trên cơ sở đánh giá hiện trạng, phân tích các đặc điểm và xu hướng đang diễn ra, chúng ta cần xây dựng và vận dụng sáng tạo chính sách trong lĩnh vực viễn thông để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức nhằm thực hiện thắng lợi “chiến lược cất cánh” đưa viễn thông Việt Nam ngang tầm với các nước phát triển vào năm 2020. Trong bối cảnh đó, một số vấn đề chính sách sau đây cần được đặc biệt quan tâm:

Thứ nhất, về chính sách cấp phép từ nay cho đến khi ban hành Luật Viễn thông mới không nên mở rộng thêm việc cấp phép thiết lập hạ tầng mạng để tránh tình trạng cạnh tranh quá mức giữa các DN mà chủ yếu hiện nay là các DN nhà nước, nhằm tránh lãng phí nguồn lực và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Trong giai đoạn này các DN hạ tầng mạng đã được cấp phép cần tranh thủ thời gian nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở đẩy mạnh đổi mới tổ chức SXKD theo hướng hình thành tập đoàn và các tổng công ty viễn thông mạnh, có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại, chuyên môn hoá cao, có hạ tầng mạng lưới thống nhất đáp ứng được yêu cầu hội tụ công nghệ và dịch vụ; bảo đảm tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tiến tới xoá bỏ cơ chế bù chéo giữa các dịch vụ; đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các DN, giai đoạn đầu tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ giá trị gia tăng, Internet, di động. Có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bán lại dịch vụ cơ bản, cung cấp các dịch vụ Internet, dịch vụ giá trị gia tăng trên cơ sở mạng lưới của các DN hạ tầng. Tận dụng các cơ sở hạ tầng sẵn có khác đã được đầu tư như truyền hình cáp, thông tin trên đường dây điện lực để cung cấp các dịch vụ hội tụ.

Thứ hai, về chính sách quản lý giá cước, thực hiện việc cân đối lại giá cước dịch vụ trên cơ sở giá thành và quan hệ cung cầu trên thị trường. Từng bước điều chỉnh giá cước các dịch vụ hiện nay còn thấp hơn giá thành để đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các DN trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Trước mắt cần tập trung xây dựng đề án cơ cấu giá cước điện thoại nội hạt, nội vùng theo hướng xoá bỏ bao cấp, bù chéo trong việc xây dựng giá cước; bảo đảm công bằng giữa các địa bàn thành phố và nông thôn; bảo đảm hiệu quả phân bổ và sử dụng kho số. Từng bước điều chỉnh giá cước kết nối và giá cước thuê kênh giữa các DN trên cơ sở giá thành; xác định rõ phần đóng góp cho việc cung cấp dịch vụ viễn thông công ích trong giá cước kết nối.Tránh can thiệp bằng biện pháp hành chính vào việc điều chỉnh giá cước trên thị trường. Nhà nước chỉ quyết định giá cước đối với các dịch vụ công ích, các dịch vụ của các DN khống chế thị trường có ảnh hưởng đến sự thâm nhập thị trường của các DN khác.

Thứ ba, về chính sách quản lý tài nguyên viễn thông (tần số, kho số), quy hoạch tài nguyên viễn thông trên cơ sở bảo đảm đầu tư, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả. Ưu tiên quy hoạch và phân bổ tài nguyên cho công nghệ, dịch vụ mới như Internet thế hệ sau, thông tin di động thế hệ mới (IMT-2000), truy nhập vô tuyến băng rộng (WIMAX). Nghiên cứu thử nghiệm các hệ thống tài nguyên mới như IPv6, ENUM v.v. Từng bước nghiên cứu xem xét các cơ chế giữ nguyên số thuê bao khi chuyển mạng (number portability), cơ chế chọn trước nhà khai thác đường dài trong nước và quốc tế (carrier pre-selection). Trước mắt cần tập trung xây dựng đề án cấp phép theo hình thức thi tuyển (Beauty Contest) cho các băng tần có giá trị như IMT-2000, WIMAX. Do đặc thù tại Việt Nam, trong một thời gian dài chỉ có một DN viễn thông, sau này do chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Bộ Bưu chính, Viễn thông đã từng bước cấp phép cho các DN khác tham gia thị trường. Do đó việc cấp phép băng tần được thực hiện theo nguyên tắc xét cấp, tức là ai xin trước cấp trước. Cơ chế cấp phép nói trên chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu chuyển từ môi trường một DN sang môi trường nhiều DN. Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều coi tần số là nguồn tài nguyên quý hiếm nêu họ đều cấp theo phương thức thi tuyển hoặc đấu giá. Đây là phương thức chọn lựa lấy một trong số các DN xin cấp phép vượt trội nhất về năng lực tài chính, trình độ chuyên nghiệp về kỹ thuật, công nghệ, có đủ kinh nghiệm triển khai và kinh doanh một cách có hiệu quả nhất băng tần được cấp. Theo cách làm này, chỉ phân bổ tần số cho DN thực sự có khả năng thiết lập mạng và kinh doanh có hiệu quả trong cung cấp dịch vụ tránh được tình trạng DN muốn và có khả năng triển khai thì không có giấy phép còn DN có giấy phép lại không có khả năng hoặc không muốn triển khai.

Thứ tư, về chính sách quản lý kết nối và sử dụng chung cơ sở hạ tầng, chuyển mạnh từ cơ chế hành chính “xin cho” sang cơ chế hợp đồng kinh tế trong việc cung cấp dung lượng kết nối giữa các DN; xem xét áp dụng cơ chế quản lý phi đối xứng trong kết nối nhằm thúc đẩy cạnh tranh và tạo điều kiện cho các DN mới tham gia thị truờng; khuyến khích sử dụng chung cơ sở hạ tầng bao gồm vị trí lắp đặt thiết bị, cột anten, cống bể cáp và các thiết bị phụ trợ khác; tạo điều kiện thuận lợi cho các DN viễn thông thuê hạ tầng của các ngành khác như truyền hình, điện lực để thiết lập mạng lưới cung cấp dịch vụ; Từng bước nghiên cứu, xem xét áp dụng phù hợp một số cơ chế đặc biệt tại một số địa bàn và theo những điều kiên nhất định như chuyển vùng giữa các mạng di động (roaming) nhằm phục vụ các nhiệm vụ công ích, phân tách mạch vòng nội hạt (local loop unbundling) nhằm thúc đẩy cạnh tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ.

Thứ năm, về chính sách viễn thông công ích, triển khai tích cực hoạt động của Quỹ Viễn thông công ích nhằm phân định rõ việc kinh doanh và việc thực hiện nhiệm vụ công ích của DN trong giai đoạn cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng và triển khai có hiệu quả chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2006-2010 nhằm từng bước nâng cao mức độ phổ cập dịch vụ và giảm khỏng cách phát triển về viễn thông và Internet giữa các vùng miền trong cả nước. Trước mắt tập trung xây dựng đề án CNTT và truyền thông với nông thôn (ICT với nông thôn) nhằm thiết lập một hạ tầng CNTT và truyền thông hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế nông thôn Việt Nam, cung cấp được các ứng dụng và dịch vụ giá rẻ như điện thoại IP, thư điện tử, truy nhập thông tin trong nước qua Internet v.v.

Thứ sáu, về chính sách bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ, đẩy mạnh công tác xây dựng tiêu chuẩn trong lĩnh vực viễn thông và Internet phù hợp với điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường quản lý chất lượng mạng lưới dịch vụ thông qua các hình thức công bố, giám sát, báo cáo và công khai chỉ tiêu chất lượng dịch vụ cung cấp ra cho xã hội của các DN; xây dựng và hoàn thiện các quy định an toàn, an ninh thông tin cũng như năng lực phòng chống tội phạm mạng; đảm bảo việc thanh tra, kiểm tra định kỳ thường xuyên và đột xuất, đồng thời xử lý nghiêm những vi phạm về giá cước và chất lượng dịch vụ để bảo vệ quyền lợi của khách hàng.

Tóm lại, để gia nhập sâu và đầy đủ trong WTO chúng ta phải đổi mới thật sự các chính sách về quản lý từ cấp phép, tài nguyên viễn thông, giá cước, kết nối, tiêu chuẩn chất lượng đến thực thi pháp luật. Các chính sách đó phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, thông lệ và luật pháp quốc tế để bảo đảm cho ngành viễn thông Việt Nam “cất cánh” bay lên và hội nhập quốc tế thắng lợi./.


Theo TCBCVT