User Tag List

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/5 123 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 49

Chủ đề: Rock và Jazz

  1. #1
    Jun
    Guest

    Mặc định

    Chương 1

    LỊCH SỬ ROCK VÀ JAZZ
    Chương 1: Những Gì Đã Tạo Nên Âm Nhạc?

    Âm nhạc bao gồm những thành phần cơ bản có thể thấy được thông qua lịch sử của mọi nền văn hoá như :

    * Âm sắc (phẩm chất đặc trưng về âm thanh của một giọng hát, nói hoặc một nhạc cụ)
    * Độ cao (pitch)
    * Độ ồn
    * Duration
    * Nốt lặng(Silence)

    Với năm thành phần cơ bản này chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều các thành phần phụ nữa có thể tồn tại trong các loại nhạc này nhưng không tồn tại trong các loại nhạc khác.

    Trải qua nhiều thế kỷ, những suy nghĩ hay học thuyết về âm nhạc được phát triển rất khác nhau đối với mỗi nền văn hoá khác nhau. Ngày nay, lịch sử âm nhạc hoặc nền văn hoá có thể định nghĩa chung bao gồm âm nhạc phương Tây, âm nhạc phương Đông, và âm nhạc sơ khai. Trong các loại nhạc chung này, nền văn hoá âm nhạc lại được chia ra thành rất nhiều nhánh khác. Ví dụ, đối với âm nhạc phương Tây, chúng ta có thể bao gồm cả âm nhạc Tây Âu và Mỹ, trong khi đó đối với âm nhạc phương Đông, chúng ta có rất nhiều vùng Tây Á, Đông Á… Âm nhạc sơ khai có thể bao gồm âm nhạc châu Phi và thổ dân châu Úc.

    Âm thanh của âm nhạc được tạo ra bởi sự rung động của một hay nhiều vật thể, ví dụ như cái dây, ống sậy, hay mặt trống. Tiếng rung động của môi hay những rung động của loa radio cũng được xếp là những âm thanh của âm nhạc. Trong một cây đàn guitar, dây đàn guitar sẽ rung khi có một tác động vào nó như kéo-thả, trong khi đó âm thanh của cây kèn trumpet được tạo ra bởi các rung động ở môi của nghệ sĩ. Một rung động nói chung được phân biệt bởi biên độ và tần số của nó. Tần số càng cao thì độ cao hoặc âm thanh sẽ càng cao. Âm thanh càng ầm ỹ thì biên độ của chúng càng lớn.

    Độ cao (pitch) được định nghĩa như là độ cao thấp của âm thanh. Nếu một âm thanh được phát ra khi chúng ta ấn một trong các phím ở bên trái cùng của đàn piano sẽ rất trầm(khoảng 30 cps) trong khi đó ngược lại sẽ rất cao (khoảng 4000cps) khi chúng ta ấn vào các phím ở phía bên phải cùng. Ngày nay, chúng ta có thể nghe rất nhiều độ cao khác nhau, từ những âm rất trầm như của tuba, bass dây, bass điện tử… đến các âm rất cao như của piccolo(sáo kim, có âm cao hơn sáo thường một quãng tám), violin, guitar điện tử…Độ cao được phân chia thành hai thành phần chính là giai điệu và cách hoà âm. Hai thành phần này rất quan trọng ngay cả khi chúng không được sử dụng hết trong các dòng âm nhạc.

    Giai điệu có thể xuất hiện một mình, kết hợp cùng với các giai điệu khác(đối âm/phức điệu) hay kết hợp với hoà âm. Giai điệu có thể chứa những đoạn lướt, đoạn cách quãng, hay nói chung đơn giản là các nốt nhạc kế tiếp nhau. Một giai điệu là sự kết hợp sinh động giữa âm thanh và cảm xúc. Một số giai điệu có thể rất gai góc, ồn ào nhưng một số khác có thể rất bình dị, êm ả. Hầu hết các giai điệu phổ biến đều đơn giản và dễ hát, trong khi một số giai điệu mang tính nghệ thuật hơn lại khá phức tạp. (Tất nhiên, nói chung thì mỗi người đều cảm nhận một cách khác nhau, “đơn giản” và “phức tạp” chỉ mang tính tương đối).

    Một định nghĩa đơn giản về hoà âm là “âm thanh của hai hay nhiều nốt ở cùng một thời điểm”. Khái niệm hợp âm và vòng hoà âm là những khía cạnh quan trọng cần nhắc đến khi nói tới hoà âm.

    Một hợp âm là âm thanh của 3 hay nhiều nốt nhạc ở cùng một thời điểm. Các hợp âm cơ bản thường bao gồm 3 nốt(được gọi là triad), 4 nốt(hợp âm 7), 5 nốt(hợp âm 9), 6 nốt(hợp âm 11), và 7 nốt(hợp âm 13). Thông thường các hoà âm đơn giản(thường bao gồm các loại nhạc phổ thông như rock, country hay folk), chứa các hợp âm 3, trong khi một số hoà âm phức tạp hơn ( nhạc cổ điển và jazz) sử dụng tất cả các loại hợp âm kể trên. Một ví dụ về các bài hát sử dụng hợp âm đơn giản là bài “Maybelline” của Chuck Berry trong khi đó có thể có một ví dụ phức tạp hơn khi xem xét bài “Orinthology” của Charlie Parrker. Cần phải ghi nhớ lại một lần nữa là không có một định nghĩa tuyệt đối về sự đơn giản hay phức tạp của âm nhạc. Một số các bài nhạc đơn giản không bao giờ khiến người ta muốn rời bỏ chúng trong khi đó một số các bài phức tạp khiến người ta chỉ muốn vứt chúng đi ngay lập tức.

    Hợp âm có thể được phân chia thành hai loại là hợp âm trưởng và hợp âm thứ. Một số nhà soạn nhạc đơn giản coi hợp âm trưởng đại diện cho những nét nhạc tươi sáng, vui vẻ trong khi hợp âm thứ dành cho những nét nhạc u ám, ảm đạm và tối tăm hơn. Hoà âm của dòng nhạc phương Tây được thừa hưởng chủ yếu dựa trên hai loại hợp âm này và hệ thống hoà âm của họ được coi là hệ thống khoá trưởng-thứ(Major-Minor tonality - hệ thống này đã được phát triển khá đầy đủ rất sớm từ những năm đầu thế kỷ XVIII). Hợp âm có thể được coi như là những từ trong một câu nhạc. Các câu nhạc sẽ bao gồm rất nhiều từ và nhạc sỹ có thể tự do chọn từ ngữ trong vốn từ của mình cho bản nhạc của họ.

    Một thành phần chính khác của âm nhạc là Âm sắc (Timbre)- màu sắc của các tone nhạc. Mỗi một nhạc cụ âm nhạc sẽ tạo ra một âm sắc khác nhau mà người nghe có thể nhận ra ngay đâu là một nốt C của kèn trumpet, đâu là của đàn guitar. Tai của chúng ta cảm thấy sự khác biệt giữa kèn trumpet và đàn guitar cũng như mắt của chúng ta phân biệt giữa mầu xanh và đỏ(trừ khi bạn mù mầu). Cũng như việc pha trộn các mầu sắc khác nhau, âm sắc cũng có thể được trộn lẫn vào nhau. Khi bạn nghe trumpet và trombone hoà lẫn vào nhau bạn sẽ rất khó phân biệt đâu là trumpet và đâu là trombone. Tính đa dạng trong việc hoà lẫn âm sắc khác nhau là không có giới hạn và chắc hẳn bạn cũng như tôi đã không ít lần phải ngạc nhiên đến thán phục trước những cách phối hợp nhạc cụ này. Vậy thì âm sắc của âm thanh có ảnh hưởng tới tai của chúng ta như thế nào? Như đã nói ở trên, mọi nhạc cụ(kể cả giọng nói) đều tạo ra một âm sắc riêng biệt, các âm sắc này được tạo bởi các âm thanh nguyên bản đồng bộ, mỗi âm thanh này được gọi là một âm bội(overtone). Âm thấp nhất và nổi trội nhất được gọi là âm cơ bản và đây chính là âm thanh mà tai ta nhận biết được rõ nét. Ngoài các âm cơ bản này ra còn một số âm phụ chúng ta không thể phân biệt được một cách rõ ràng nhưng cũng rất quan trọng khi phân biệt các loại nhạc cụ tương đối giống nhau. Tất cả những âm thanh rắc rối nói trên được hợp nhất vào một từ âm sắc. Một người đầu bếp có thể làm một món mỳ gà khác hẳn người đầu bếp ở của hàng khác, và với cùng một nét nhạc, nhạc sỹ có thể tự do biến đổi âm sắc để chúng ta có thể thưởng thức thoả thích cái tai của mình .

    Một thành phần khác đã được nói tới là độ ồn. Đơn giản như tên của nó đây là độ ồn ào như các bản nhạc Heavy Metal trong khi một số loại nhạc khác lại khá tĩnh lặng. Tuy vậy, các loại nhạc đều sử dụng độ ồn một cách rất biến thiên trong bản nhạc của mình. Trong âm nhạc phương Tây có một số thuật ngữ dùng để chỉ độ ồn này . Mezzo-piano (trung bình thấp), mezzo-forte(trung bình cao), pianisimo(rất thấp), fortissimo(rất cao) là một số từ dùng để chỉ độ ồn. Nếu một giai điệu được bắt đầu từ nhẹ nhàng và sau đó là khá ầm mỹ chúng ta sử dụng từ “cresendo”, ngược lại là “decresendo”.

    Thành phần thứ tư là Duration, được định nghĩa là khoảng thời gian cho tới khi ta nghe được nốt nhạc tiếp theo. Nói một cách khác, đôi khi bạn nghe 4-8 nốt nhạc trong một giây, đôi khi là đến 10 giây mới nghe một nốt nhạc.

    Duration có một thành phần phụ quan trọng là nhịp điệu. Nhịp điệu được sử dụng ở mọi nơi trong cuộc sống. Tim chúng ta đập theo nhịp, những bước chân theo nhịp, sóng biển vỗ bờ theo nhịp, và trong âm nhạc phổ thông nó là một trong những cái quan trọng nhất trong thành phần để tạo nên món ăn âm nhạc.

    Có một số nhịp khá tự do nhưng nói chung nhịp điệu là một công thức bao gồm các duration(khoảng cách) nốt nhạc. Nói một cách thông thường trong âm nhạc phổ thông, nhịp điệu là một thước đo sự lặp lại của âm thanh có thể cảm nhận được hay nghe được. Cái nhịp có thể cảm nhận hay nghe lại được này được gọi là beat. Trong một số loại nhạc (như hard-driving jazz hay rock) nhịp này khá mạnh trong khi đó ở một số loại khác lại khá mỏng manh yếu ớt.

    Tốc độ của các nhịp (beat) này được gọi là nhịp độ(tempo). Nhịp độ phụ thuộc khá nhiều vào các loại nhạc cụ(ví dụ như kèn chẳng ai lại thổi nhanh như khi đánh guitar điện ) và vào cảm xúc của nhạc sỹ cũng như loại nhạc. Các bản ballad trữ tình thường có nhịp độ khá chậm trong khi đó những bản Heavy Metal đôi khi có nhịp độ nhanh không tưởng.

    Các loại nhạc phổ thồn thường sử dụng một mẫu nhịp bao gồm nhóm 2,3 nhịp hoặc sự kết hợp của các nhóm này. Ví dụ, nếu như trong mẫu nhịp nhóm 2 nhịp người ta có thể đếm 1,2,1,2,1,2… trong khi nhóm 3 nhịp là 1,2,3,1,2,3,1,2,3… Mỗi một nhịp có độ dài nhất định. Nói chung nhạc Rock thường sử dụng mẫu nhịp 4/4(nói chung). 4/4 được hiểu là mỗi một đơn vị nhịp(khuông nhạc chẳng hạn) có 4 nhịp thời lượng bằng nhau (kết hợp hai nhóm 2 nhịp) tuy vậy các nhịp này không được coi trọng như nhau. Nhịp 1 và 3 được coi là các nhịp “mạnh”, nhịp 2 và 4 được coi là các nhịp “nhẹ”. Mạnh hay nhẹ ở đây cũng có thể coi như sự lên xuống trong nhịp điệu. Thông thường trong các loại nhạc phổ thông, ca từ và/hoặc giai điệu thay đổi dựa trên các nhịp mạnh, trong khi nhip yếu là các dấu nhấn “nhân tạo”. Trong cách đánh trống của nhạc Rock, trống cái thường dùng để tạo ra các nhịp mạnh trong khi snare drum(trống có dây căng ngang để tạo âm thanh dồn dập ???) và chũm choẹ nhấn ở các nhịp yếu. Nhấn ở nhịp yếu còn được gọi là nhấn lệch (syncopation). Trong nhịp 3/4, nhịp đầu tiên là mạnh trong khi hai nhịp còn lại là yếu. Nói chung tất cả các mẫu nhịp đều có nhịp đầu tiên là mạnh được gọi là nhịp đầu(downbeat).
    Ngay cả khi jazz và Rock được tạo bởi các nhịp dựa trên mẫu nhịp 2 hoặc 3, cũng vẫn có một số sự kết hợp khác. Ví dụ nhịp 5/4(3+2) và có thể được đếm 1,2,3,4,5,1,2,3,4,5,… trong đó nhịp 1 và 4 là mạnh, các nhịp còn lại là yếu. (ví dụ khác như bài Yesterday được viết trên nhịp 7/

    Thành phần cuối cùng của mọi loại âm nhạc là khoảng lặng. Khoảng lặng là một âm thanh quan trọng trong nghệ thuật sắp xếp âm thanh để tạo nên bản nhạc. Không có khoảng lặng âm nhạc chỉ còn là một bát cháo sườn đặc quánh âm thanh mà thôi và khoảng lặng đã mang lại sự sáng sủa cho bản nhạc.
    Âm nhạc là một món ăn với các thành phần vô cùng đa dạng phụ thuộc vào loại âm nhạc và sự sáng tạo của các nhạc sỹ. Tuy vậy, năm thành phần cơ bản trên không thể thiếu được trong bất cứ một loại nhạc nào nhưng ca từ, giai điệu, nhịp điệu… có thể không nhất thiết phải tồn tại.

  2. #2
    Jun
    Guest

    Mặc định

    Chương 2: Khởi Nguồn Của Nhạc Jazz

    Nhạc jazz được khởi nguồn từ đâu ? Nhạc sỹ nào, xã hội nào, nền văn hoá nào đã tạo nên jazz ?

    Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học.

    Trong suốt những năm đầu tiên phát triển của đất nước Mỹ, chế độ sở hữu nô lệ được coi là một chuẩn mực. Nô lệ bị ép buộc đến từ châu Phi phải làm việc vất vả trong các đồn điền của người Mỹ. Những nhạc công và những tài năng âm nhạc trong số đó đã học được rất nhanh nền âm nhạc vốn có sẵn của phương Tây, cùng lúc đó, âm nhạc phương Tây cũng đã có không ít bài học về âm nhạc Phi châu.

    Nền văn hoá sơ khai của châu Phi coi trọng âm nhạc hơn phương Tây rất nhiều. Âm nhạc là một khía cạnh quan trọng trong những hoạt động hàng ngày của thổ dân châu Phi. Thổ dân châu Phi rất coi trọng các hoạt động theo nhịp điệu khá phức tạp và tiến bộ dựa trên một ca từ và giai điệu đơn giản. Những nét nhịp điệu này đã gắn liền với nô lệ châu Phi trong suốt thời gian họ bị bắt ép làm nô lệ ở Mỹ.

    Hơn nữa, một số những người Mỹ da đen mới cũng thể hiện mình thông qua nét âm nhạc truyền thống của họ. Vì cách xa quê hương nên âm nhạc truyền thống một phần cũng không thể thể hiện chính xác được vì rất nhiều lý do, ví dụ như không được sử dụng các nhạc cụ châu Phi truyền thống. Chúng ta có thể hiểu như một ban nhạc rock của các nghệ sỹ châu Phi khi biểu diễn ở Mỹ không được sử dụng bất cứ một cây guitar điện, một dàn trống… Tuy vậy, ban nhạc này vẫn đủ nội lực để có thể sử dụng các nhạc cụ có sẵn tạo ra âm nhạc của mình và điều này là chính xác đối với các nô lệ da đen ở Mỹ.

    Bên cạnh việc tìm các nhạc cụ mới, các nhạc sỹ châu Phi cũng đã mở rộng mình để tìm hiểu âm nhạc của phương Tây. Sự mở rộng này là khởi nguồn nảy mầm của nhạc jazz. Những ca từ, giai điệu, nhịp điệu, và cả văn hoá Tây phương không ít thì nhiều cũng đã dần thấm vào những người da đen. Tất nhiên, các nhạc sỹ da trắng cũng đã bị ảnh hưởng nhiều khi nghe nhạc của người da đen. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.

    Ngày nay, ở đâu đấy chúng ta vẫn còn bắt gặp những nét nhạc cổ xưa của Phi châu trong Rock và Jazz. Ví dụ, chúng ta có thể thấy phương pháp “gọi và trả lời” được biến tấu khi ca sỹ hát chính hát một đoạn nhạc và sau đó cả nhóm đồng ca hát phụ hoạ lại (giống như những câu hỏi và trả lời).

    Một ví dụ khác là “pitch-bending”. Trong suốt những năm ra đời của Jazz, các nhạc sỹ đã uốn cong cao độ trong bài hát của mình tuỳ theo những yêu cầu khác nhau. Hiệu ứng này tạo ra một sự ngạc nhiên cho tai của chúng ta vì không biết thực sự nốt nhạc kết thúc ở đâu. Một số ít các nhạc sỹ Rock và Jazz hiện nay vẫn sử dụng phương pháp này, hãy lắng nghe một đoạn guitar solo trong một bản Rock mà xem. Hầu hết các nhạc cụ tổng hợp(ví dụ Organ) đều có các thiết bị pitch-bend tích hợp bên trong.

    Khi nhạc Jazz phát triển, có rất nhiều các loại nhạc khác đã ra đời dựa trên jazz, Rhythm & Blue, Soul,Funk,Rap và Rock ‘n’ Roll đều đã thừa hưởng rất nhiều từ Jazz

  3. #3
    Jun
    Guest

    Mặc định

    Chương 2: Khởi Nguồn Của Nhạc Jazz

    Nhạc jazz được khởi nguồn từ đâu ? Nhạc sỹ nào, xã hội nào, nền văn hoá nào đã tạo nên jazz ?

    Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học.

    Trong suốt những năm đầu tiên phát triển của đất nước Mỹ, chế độ sở hữu nô lệ được coi là một chuẩn mực. Nô lệ bị ép buộc đến từ châu Phi phải làm việc vất vả trong các đồn điền của người Mỹ. Những nhạc công và những tài năng âm nhạc trong số đó đã học được rất nhanh nền âm nhạc vốn có sẵn của phương Tây, cùng lúc đó, âm nhạc phương Tây cũng đã có không ít bài học về âm nhạc Phi châu.

    Nền văn hoá sơ khai của châu Phi coi trọng âm nhạc hơn phương Tây rất nhiều. Âm nhạc là một khía cạnh quan trọng trong những hoạt động hàng ngày của thổ dân châu Phi. Thổ dân châu Phi rất coi trọng các hoạt động theo nhịp điệu khá phức tạp và tiến bộ dựa trên một ca từ và giai điệu đơn giản. Những nét nhịp điệu này đã gắn liền với nô lệ châu Phi trong suốt thời gian họ bị bắt ép làm nô lệ ở Mỹ.

    Hơn nữa, một số những người Mỹ da đen mới cũng thể hiện mình thông qua nét âm nhạc truyền thống của họ. Vì cách xa quê hương nên âm nhạc truyền thống một phần cũng không thể thể hiện chính xác được vì rất nhiều lý do, ví dụ như không được sử dụng các nhạc cụ châu Phi truyền thống. Chúng ta có thể hiểu như một ban nhạc rock của các nghệ sỹ châu Phi khi biểu diễn ở Mỹ không được sử dụng bất cứ một cây guitar điện, một dàn trống… Tuy vậy, ban nhạc này vẫn đủ nội lực để có thể sử dụng các nhạc cụ có sẵn tạo ra âm nhạc của mình và điều này là chính xác đối với các nô lệ da đen ở Mỹ.

    Bên cạnh việc tìm các nhạc cụ mới, các nhạc sỹ châu Phi cũng đã mở rộng mình để tìm hiểu âm nhạc của phương Tây. Sự mở rộng này là khởi nguồn nảy mầm của nhạc jazz. Những ca từ, giai điệu, nhịp điệu, và cả văn hoá Tây phương không ít thì nhiều cũng đã dần thấm vào những người da đen. Tất nhiên, các nhạc sỹ da trắng cũng đã bị ảnh hưởng nhiều khi nghe nhạc của người da đen. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.

    Ngày nay, ở đâu đấy chúng ta vẫn còn bắt gặp những nét nhạc cổ xưa của Phi châu trong Rock và Jazz. Ví dụ, chúng ta có thể thấy phương pháp “gọi và trả lời” được biến tấu khi ca sỹ hát chính hát một đoạn nhạc và sau đó cả nhóm đồng ca hát phụ hoạ lại (giống như những câu hỏi và trả lời).

    Một ví dụ khác là “pitch-bending”. Trong suốt những năm ra đời của Jazz, các nhạc sỹ đã uốn cong cao độ trong bài hát của mình tuỳ theo những yêu cầu khác nhau. Hiệu ứng này tạo ra một sự ngạc nhiên cho tai của chúng ta vì không biết thực sự nốt nhạc kết thúc ở đâu. Một số ít các nhạc sỹ Rock và Jazz hiện nay vẫn sử dụng phương pháp này, hãy lắng nghe một đoạn guitar solo trong một bản Rock mà xem. Hầu hết các nhạc cụ tổng hợp(ví dụ Organ) đều có các thiết bị pitch-bend tích hợp bên trong.

    Khi nhạc Jazz phát triển, có rất nhiều các loại nhạc khác đã ra đời dựa trên jazz, Rhythm & Blue, Soul,Funk,Rap và Rock ‘n’ Roll đều đã thừa hưởng rất nhiều từ Jazz.

  4. #4
    Jun
    Guest

    Mặc định

    Chương 3: Và Blue Xuất Hiện


    Trước khi chúng ta đi sâu hơn về Jazz, cần phải dừng lại ở một loại nhạc. Đây có thể không chính xác được xếp là một phong cách nhạc nhưng nếu chỉ coi là những nền móng của một loại nhạc thì không thật chính xác. Những nền móng này không chỉ được bắt gặp ở trong Rock và Jazz mà còn trong rất nhiều các loại nhạc phổ thông khác, bao gồm, country, gospel, và cả một số tác phẩm cổ điển cùng thời với nó. Đó chính là Blues.
    Khởi nguồn của Blues không đơn giản một cách chắc chắn như là đã được khắc lên đá. Trong một vài năm, đã có rất nhiều chuẩn mực về giai điệu, cách hoà âm được thiết lập, và những chuẩn mực này đã và vẫn đang được biểu diễn rộng rãi. Blues có thể rất buồn, hạnh phúc, chậm, nhanh, không lời, ca khúc… và thậm chí là bất cứ nét nhạc nào do các nghệ sỹ viết ra.

    Một trong những chuẩn mực được phổ biến rộng rãi về blues được gọi là “gam blues” (blues scale - bắt đầu từ C : C,Eb,F,Gb,G,Bb) được xuất phát có lẽ là từ gam ngũ âm của người châu Phi (African Pentatonic scale- C,D,E,F#,G#,A#) và kết hợp với các gam âm nguyên của phương Tây (C,D,E,F,G,A,B) và dần dần kết hợp để tạo nên gam blues như hiện nay. Như đã nói ở trước, các nốt méo được sử dụng ngay từ những ngày đầu tiên phát triển nên Jazz, theo cách đó hiệu ứng “pitch-bending” có thể tạo ra những nốt nhạc lỏng lẻo để tạo nên những thuật ngữ như “flat-third”,”flat-fifth”, và “flat-seventh”, của gam blues. Tính lỏng lẻo không ổn định của blues đã tạo nên một chất rất riêng của nó.

    Cùng với gam chuẩn của nhạc blues, một quá trình hình thành giai điệu của nhạc blue cũng đã xảy ra. Quá trình đó bây giờ được gọi là “12 bar blues -?” (I,I,I,I,IV,IV,I,I,V,IV,I,I). Mỗi một chữ số La Mã ở đây tương ứng với một trong bốn nhịp và mẫu này được lặp lại trong suốt quá trình soạn một bản nhạc blues.

    Lời cua những bản nhạc blues thông thường khá đơn giản nhưng vào thời điểm đó khá là sầu thảm. Rất nhiều lời của các bài blues được viết dưới dạng thơ ngũ âm(iambic-thơ trào phúng cổ của người Hy lạp). Khi lời của bài hát được viết dưới dạng ngũ âm, 12 hợp âm của chúng ta được chia thành 3 phần bằng nhau. Phần đầu của lời(gọi là phần A) thường được lặp lại và sau đó đến phần tiếp theo khác đi(phần B) là phần cuối cùng. Lời bài hát sẽ được lặp lại theo mẫu sau “A A B”. Đây là một ví dụ, bài “Don’t Fish in My Sea” của Ma Rainey :


    My daddy come home this mornin' drunk as he could be, (A)
    My daddy come home this mornin' drunk as he could be, (A)
    I knowed by that he's done got bad on me. (B)
    He used to stay out late, now he don't come home at all,
    He used to stay out late, now he don't come home at all,
    I know there's another mule kickin' in my stall.
    If you don't like my ocean, don't fish in my sea,
    Don't like my ocean, don't fish in my sea,
    Stay out of my valley, and let my mountain be.
    I ain't had no lovin' since God knows when,
    I ain't had no lovin' since God knows when,
    That's the reason I'm through with these no good triflin'men.
    Never miss the sunshine till the rain begin to fall,
    Never miss the sunshine till the rain begin to fall,
    You'll never miss you ham till another mule be in your stall.

    Lịch sử của các giọng hát nhạc blues được chia thành hai nửa. Mỗi nửa thể hiện một giai đoạn khác nhau. Nửa đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ IXX đến những năm 1930. Nửa này ghi nhận hai phong cách hát blues riêng biệt. Phong cách thứ nhất có thể được coi là country hoặc rural-blues trong khi đó phong cách còn lại được gắn mác city hoặc urban-blues ().

    Nhạc blues đồng quê được hát bởi những người đàn ông với nhạc cụ và phần nhạc đệm đơn giản. Những ca sỹ hát nhạc blues thời đó thường chỉ có cây guitar là nhạc cụ duy nhất để đệm cho mình. Ca từ cũng rất đơn giản và âm nhạc thật sự rất mộc mạc và không hề được gọt dũa. Một số ca sỹ nam nổi tiếng được ghi vào sử sách có thể kể tới là Lightnin' Hopkins, Huddie Ledbetter, Big Bill Broonzy, và Blind Lemon Jefferson.

    Nhạc blues thành phố bao gồm cả giọng ca của các ca sỹ nam và nữ. Âm nhạc ở đây tao nhã và tinh tế hơn nhạc blues đồng quê. Thay bởi phần nhạc nền đơn giản, những ca sỹ nhạc đồng quê thành phố còn có thể sử dụng một nhóm khiêu vũ nhỏ phụ hoạ. Bessie Smith, Ma Rainey, và Chippie Hill là những ca sỹ nổi tiếng nhất ở phong cách này.
    Sau năm 1930, phong cách nhạc blues bắt đầu thay đổi. Đi theo sự phát triển của các giọng ca blues, sự phát triển trình độ của một số các nhạc công cũng tăng lên đáng kể. Vào lúc này, những nghệ sỹ nhạc blues lớn có thể sử dụng nhạc cụ tốt như là giọng hát của họ. Vào thời gian khởi đầu, các nhạc công thường bắt chước phong cách của các ca sỹ nhưng đến thời điểm này một số ca sỹ cũng đã phải sao chép phong cách của các nhạc công lớn. Một số các nghệ sỹ chính trong thời kỳ này có thể kể đến như Joe Turner (có ảnh hưởng lớn tới Rock ‘n’ Roll sau này) , Joe Williams, và Jimmy Rushing (Both Williams và Rushing đều hát trong ban nhạc nổi tiếng Count Basie). Các nhạc sỹ có thể vừa hát vùa đệm đàn nổi tiếng có thể kể tới Louis “Satchmo” Armstrong, B.B.King, Ray Charles.

    Như đã nói ở trên, Blues được sử dụng nhiều trong tất cả các loại nhạc phổ thông. Chúng ta có thể kể ra đây một vài ví dụ như "Rock Around the Clock" bởi Bill Haley và the Comets (l954); "409" bởi the Beachboys (l961); "Reeling and Rockin" bởi Chuck Berry (late l950s); "In the Mood" thực hiện bởi Glenn Miller (l941); "Hound Dog" bởi Elvis Presley (l957); và "Can't Buy Me Love" bởi the Beatles (l965).

  5. #5
    Jun
    Guest

    Mặc định

    Chương 4: RAGTIME (1890-1920)

    Phong cách tiêu biểu đầu tiên của Jazz và có lẽ là phong cách phổ biến nhất đầu tiên ở Mỹ là Ragtime, dựa trên chủ yếu là nền nhạc piano solo.

    Vì Ragtime được xây dựng chủ yếu trên một nền nhạc solo, kỹ thuật sử dụng piano ở đây được coi trọng và rất phát triển. Phần bên trái được sử dụng để chơi các âm thanh trầm và hợp âm, phần tay phải chơi đệm cho bài hát. Vào thời điểm đó, cách chơi này là khá khó khăn và đòi hỏi những kỹ năng nhất định. Song song với những âm thanh mạnh mẽ của Ragtime là một số lượng lớn các nốt nhấn lệch khá rắc rối.

    Hầu hết các bản nhạc và lời của Ragtime đã được soạn trên giấy. Lý do đơn giản là các nhạc sỹ đã có thể bán để kiếm tiền như các ca sỹ bán băng và đĩa như hiện nay. Vào thời đó, TV, radio, còn chưa được phát minh hoặc chưa được phổ biến rộng rãi, vì vậy, nhu cầu giải trí tại gia là rất lớn.

    Chơi piano vào những năm cuối thế kỷ IXX là khá phổ biến, mọi người dân đều có thể tự chơi nhạc tại nhà, ngay cả nếu họ không biết/muốn chơi, họ vẫn có thể trả tiền để mời một nhạc công tới chơi. Nhờ cách đó, Ragtime đã được nghe và phổ biến trên khắp nước Mỹ.

    Nhờ tính phổ biến của mình, Ragtime được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh , hội hè, trong khách sạn, quán ăn, Những cuộc thi Ragtime trên khắp nước Mỹ cũng được tổ chức, và thậm chí dân chúng cũng có thể nhẩy múa dựa trên phong cách Jazz phổ biến này.

    Ragtime được cấu tạo dựa trên rất nhiều các chất liệu cổ điển phương Tây. Mỗi Rag chứa 4 giai điệu chính và quan trọng ngang nhau. Tuy vậy các phần trong nhạc Rag lại khá đối lập nhau, phần đầu rất ồn ào ầm mỹ trong khi phần thứ hai lại ngược lại hoàn toàn.
    Nghệ sỹ viết và chơi nhạc Ragtime nổi tiếng nhất có lẽ là Scott Joplin. Joplin được đào tạo chính quy để viết opera. Một số các nhạc sỹ quan trọng khác là Tom Turpin, Joseph Lamb, và James Scott.

    Ragtime dần dần lụi tàn vào khoảng năm 1920 khi các dòng nhạc Jazz khác phát triển. Vào những năm 1970, Ragtime(đặc biệt kể đến Scott Joplin) đã một lần nữa phát triển lại dòng nhạc này trong bộ phim nổi tiếng “The Sting” được đóng bởi Robert Redford và Paul Newman. Soundtrack của bộ phim này đã được giải thưởng của Viện Hàn lâm trong cùng năm đó. Những nhà đạo diễn và cả những người dân Mỹ một lần nữa lại tìm ra phong cách nhạc độc đáo này sau nửa thế kỷ Scott Joplin không còn tồn tại nữa.

  6. #6
    Jun
    Guest

    Mặc định

    CHƯƠNG 5: NEW ORLEANS DIXIELAND (1900-1920)

    Ngay trong khi Ragtime đang phát triển rực rỡ, một dòng nhạc Jazz khác đã được hình thành. Ở miền nam nước Mỹ, một thành phố cảng với nền kinh tế vững chắc đã là cái nôi để phát triển dòng nhạc Jazz mới. Kết quả là chúng ta có dòng nhạc Jazz ở New Orleans theo kiểu Dixieland.

    Trong những năm đầu tiên của thế kỷ XX, New Orleans với nền kinh tế vững chắc của mình đã là cái nôi vững chắc để nghệ thuật phát triển. Khi Venice(Italy) vào những năm 1500 tới 1600 phát triển mạnh, âm nhạc thời kỳ Phục hưng và tiền-Baroc đã được gieo mầm và phát triển. Pháp và Đức vào những năm 1700-1800 cũng là những nước có tiềm lực kinh tế mạnh, đi cùng nó là nghệ thuật hội hoạ đỉnh cao. Một lần nữa vào những năm 1900 Mỹ là nước phát triển mạnh nhất và New Orrleans là trung tâm của những cơ hội phát triển mới.

    New Orleans là một thành phố có thể bao dung mọi thành phần trong xã hội cũng như mọi nền văn hoá. Lịch sử của thành phố đã chứng minh điều này. Đầu tiên, thành phố này là của người Pháp trong khoảng 50 năm. Vào năm 1764. nó là của người Tây Ban Nha trong khoảng 40 năm. Sau khi được trả lại cho người Pháp, cuối cùng nó đã được mua bán để thành một phần của nước Mỹ. Với sự giao thoa này thì đây là một nơi lý tưởng để hoà trộn nền văn hoá châu Phi và phương Tây tạo nên Jazz.

    Một vài hiện tượng tự nhiên, xã hội, kinh tế tồn tại ở đây đã ảnh hưởng trực tiếp tới Jazz. Đầu tiên phải kể đến những người Pháp lai da đen có một nền văn hoá âm nhạc cổ điển trang nghiêm, và tiếp đến là âm nhạc cổ truyền thô mộc ít tinh tế hơn của người da đen.

    Thứ hai, một truyền thống tổ chức tang lễ rất đặc biệt nhưng lại phổ biến ở New Orleans với sự tham gia của ban nhạc tang lễ chơi các hành khúc. Trong lịch sử có rất nhiều kiểu nhạc công đã được mời chơi trong các lễ tang, nhưng ở New Orleans, nhạc công chơi theo một cách rất đặc biệt. Như mọi ban nhạc tang lễ chơi ngoài nghĩa địa khác, họ cũng tấu những bản nhạc chậm rãi, u ám. Ngay sau tang lễ, ban nhạc cũng lặp lại những ca khúc đau buồn đó cho đến khi đám rước tiến đến cổng nghĩa trang. Ngay lập tức ban nhạc sẽ chuyển sang loại nhạc nhanh và vui vẻ. Thứ nhạc nhanh và vui này sẽ đi theo đám rước cho tới khi họ về đến thị trấn để rũ bỏ những u sầu khi mất một người thân.

    Thứ ba, bên cạnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, thành phố còn có 32 khu vực đặc biệt gọi là Storyville (lầu xanh-“red-light” district). Trong mỗi khu thường có 4 lầu xanh 2 tầng, tầng dưới là các phòng lớn và tầng trên dùng để “làm việc”. Các phòng lớn này cũng giống như hộp đêm hiện nay đã chơi một thứ nhạc mới và thịnh hành suốt cả ngày để đem lại thư thái cho những ông chủ. Khu Storyville này đã đem lại rất nhiều công việc cho các nhạc công chơi Jazz.
    Khi dòng nhạc Dixieland bắt đầu phát triển cũng là lúc phong cách chơi nhạc và nhạc cụ được định hình. Các nhạc cụ chuẩn bao gồm kèn trumpet(hoặc cornet), clarinet, trombone, banjo, tuba và trống.

    Trumpet thông thường là loại nhạc cụ “to mồm” nhất trong số này và hấu hết thời gian trumpet đảm nhận vai trò chính trong ban nhạc. Người chơi trumpet thường được gọi là “King”. Ngoài vai trò chơi nhạc theo giai điệu có sẵn, trumpet còn có nhiệm vụ chơi những khúc ngẫu hứng. Thông thường các nhạc công sẽ tự chơi những khúc ngẫu hứng theo ý mình, tuy vậy cũng không đi quá xa với bản nhạc để đến nỗi công chúng không còn nhận ra được  . Ngoài ra, người thổi kèn trumpet với vai trò “to mồm” nhất của mình còn phải sáng tạo thế nào để có thể lôi kéo đông đảo dân chúng lắng nghe và…
    Clarinet cung cấp các hoà âm và đối âm dựa trên nền trumpet chính. Clarinet không to mồm như trumpet, nhưng lại có khả năng chơi nhanh và với âm vực cao hơn. Một nghệ sỹ clarinet giỏi có thể thêm rất nhiều sáng tạo độc đáo cho bản nhạc của mình.

    Kèn trombone, với thanh kéo của mình có thể dễ dàng tạo ra những âm méo (pitch-bend), những âm thanh phổ biến trong nhạc Jazz. Có thể nói, với ba nhạc cụ trong bộ kèn hơi này, một thứ âm nhạc phức điệu(polyphonic) đã được ra đời.
    Bên cạnh đó, các ban nhạc còn sử dụng các nhạc cụ giữ nhịp bao gồm tuba,banjo và bộ gõ. Tuba cung cấp những âm thanh trầm(bass), banjo cung cấp những hợp âm ổn định, còn trống và bộ gõ tạo ra nhịp của bài hát.

    Một trong những nhạc sỹ nổi tiếng được nhiều người biết tới nhất trong thời đại đó là King Oliver (leader/trumpeter). King Oliver cũng đã tập hợp được nhiều nhạc công giỏi và mỗi người trong số họ cũng đã nổi tiếng ở vị trí của mình, trong đó phải kể đến Louis Amstrong.

    Vào cuối thế chiến lần thứ nhất, những sự thay đổi trong luật pháp đã làm cho khu Storyville bị tan rã. Với việc mất đi các saloon và chỗ làm việc, các nghệ sỹ bắt đầu chuyển sang sống ở các khu vực khác của nước Mỹ, phần lớn ở Chicago. Với sự gia nhập này, một dòng nhạc Jazz mới đã được hình thành.

  7. #7
    Jun
    Guest

    Mặc định

    CHƯƠNG 6: CHICAGO STYLE DIXIELAD (1920)


    Năm 1920 được đánh dấu trong lịch sử nước Mỹ bởi hai sự kiện, trong đó có một sự kiện là “Jazz Age”(còn lại là “Roaring Twenties”). Sau thế chiến thứ nhất, Mỹ giờ đây đã là một siêu cường về mặt kinh tế. Độ ngắn của váy đã tăng lên cùng với thị trường chứng khoán , và tâm trạng của người Mỹ rất phấn khích. Phụ nữ đã bắt đầu tìm được chỗ đứng trong xã hội và sự tự do của mình.

    Rất nhiều các nhạc sỹ nhạc jazz người New Orleans đã di chuyển lên phía bắc,bao gồm cả King Oliver và Louis Amstrong, và làm rung chuyển thành phố này bởi âm nhạc của mình. Chicago vào những năm 1920 là một thành phố phát triển, tuy chính quyền bị điều khiển bởi các băng nhóm gangster(tiêu biểu là Al Capone) nhưng là nơi rất tốt để một dòng nhạc Jazz mới bắt đầu phát triển.
    Vào những năm 1920, việc phủ sóng radio trên toàn nước Mỹ đã thành công và radio đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của người Mỹ. Radio là một vật dụng không thể thiếu của các gia đình Mỹ dùng để nghe những tin tức trực tiếp và giữa các tin tức đó là âm nhạc. Âm nhạc của các nhạc sỹ Jazz, đó chính là Jazz, một phong cách nghệ thuật mới.

    Cùng với sự phát triển của radio, công nghiệp thu âm bắt đầu phát triển. Máy quay đĩa gia đình bắt đầu được phổ biến và các nhạc sỹ Jazz cũng đã bắt đầu thu âm các ca khúc của mình để phổ biến khắp nơi. Ngay cả khi công nghệ radio và thu âm lúc đó còn quá thô sơ so với bây giờ, dân chúng cũng đã say mê môi trường âm nhạc mới mẻ này. Ngoài ra công nghệ thu âm cũng đã mang lại môi trường giáo dục cho các nhạc sỹ mới với các ca khúc kinh điển có thể nghe đi nghez lại.

    Chicago-style Dixieland khác khá nhiều so với nguyên bản của nó (New Orleans). Nhóm nhạc Jazz ở Chicago thường lớn hơn, có thêm một số nhạc cụ bộ kèn hơi, ví dụ như saxophone hoặc vài cây kèn trumpet nữa. Nhũng đoạn solo ngẫu hứng cũng trở nên phức tạp và đầy kỹ thuật. Guitar chơi chậm rãi đã thay thế banjo, và các tay bass đàn dây đã thay thế dần tuba. Vì các ban nhạc ở đây không còn tham gia vào các đoàn diễu hành như ở New Orleans nữa, piano và một số các nhạc cụ cố định khác cũng đã được thêm vào ban nhạc. Việc phối âm cũng đã phức tạp hơn rất nhiều.

    Một số các nghệ sỹ đã nổi lên vào thời điểm này như Don Redman (saxophone), Bix Beiderbecke (trumpet), Fletcher Henderson (band leader), Jelly Roll Morton (piano/composer), và Kid Ory (trombone/composer).

    Một nghệ sỹ đã trở nên chín chắn và được mọi người thán phục vào thời kỳ này là Louis “Satchmo” Armstrong (trumpet). Armstrong đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nhạc Jazz, vì vậy nhiều người gọi ông là “cha đẻ” của Jazz. Vào thời của Armstrong, các nhạc sỹ gọi ông là “Pops” như là dấu hiệu của sự kính trọng.
    Armstrong là nghệ sỹ solo lớn đầu tiên trong lịch sử nhạc Jazz và những nốt nhạc phiêu du của ông đánh dấu một bước ngoặt trong Jazz với việc xuất hiện những khúc solo ngẫu hứng mà trước đây là của một nhóm nhạc sỹ. Satchmo cũng là người đầu tiên đã định lại nhịp điệu của Jazz bằng cách bỏ tính cứng nhắc trong Ragtime, áp dụng nhịp 8 nốt du dương, và làm cho người nghe cảm tưởng những nốt nhạc của ông luôn đi sau nhịp của bản nhạc. Tất cả những thay đổi này khiến người nghe có cảm giác thư giãn và được gọi về sau là Jazz swing.

    Armstrong mang đến một cách nghĩ mới, âm nhạc của ông được dựa trên một cấu trúc chặt chẽ và không phải chỉ là một nét tô điểm thêm cho bản nhạc mà trái lại là một giai điệu riêng dựa trên các hợp âm đã có sẵn(khái niệm âm nhạc này vẫn còn được áp dụng cho các khúc ngẫu hứng hiện nay).
    Bên cạnh tiếng trumpet đầy cảm xúc của mình, Armstrong có một cách hát ảnh hưởng rất nhiều đến các ca sỹ hát Jazz. Ông đã phổ biến một lối hát Jazz không thành lời (scat). Trong lối hát này, các ca sỹ hát ngẫu hứng các âm tiết thay cho các từ.

  8. #8
    Jun
    Guest

    Mặc định

    CHƯƠNG 7: BIG BAND SWING (1932-1945)


    Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1929 đã kéo theo sự khủng hoảng nền kinh tế mà bây giờ được gọi là Great Depression. Sau những bước nhảy vọt về kinh tế và xã hội vào đầu những năm 1920, Mỹ đã chững lại, kéo theo 25% dân số trong tuổi đi làm thất nghiệp cộng với một số lượng lớn người dưới tuổi làm việc. Chúng ta đã thấy sự ảnh hưởng của kinh tế ở trong các giai đoạn trước và dường như đây cũng không phải là một ngoại lệ.

    Trong những năm đầu tiên của thập niên 30, thu nhập của người dân bị giảm xuống một cách trầm trọng, nhiều câu lạc bộ nhỏ đã phải phá sản vì không còn đủ kinh phí để tiếp tục. Những nhà kinh doanh chợt nhận ra rằng, khi biểu diễn ở các câu lạc bộ lớn, lãi suất bình quân trên đầu người có thể giảm những tổng số lãi lại cao hơn rất nhiềụ Và các câu lạc bộ lớn đã ra đời, các ban nhạc cũng dần dần mở rộng cường độ các nhạc cụ của mình. Bằng việc này, một dòng nhạc Jazz lại được ra đời với cái tên Big Band Swing và nhanh chóng được phổ biến rộng rãị

    Trước khi Big Band Swing thực sự được phát triển, một dòng nhạc phụ, Pre-Swing, được biết tới như một sự chuyển tiếp vào những năm 1930. Khi các band sử dụng các nhạc cụ lớn hơn, âm thanh đã thay đổị Chicago Dixieland chỉ sử dụng 4 nhạc công bộ kèn hơi thì giờ đây Pre-Swing đã sử dụng từ 7-8 nhạc công. Bộ kèn hơi được nhanh chóng chia thành các phần nhỏ hơn, nhạc cụ hơi làm bằng gỗ (woodwind) bao gồm saxophone và clarinet, kèn đồng(brass) như trumpet và trombonẹ Với sự mở rộng này việc sáng tác cũng trở nên khó hơn và các nhạc sỹ đã phải thay đổi quan niệm của mình khi sáng tác.
    Fletcher Henderson và Don Redman là hai nghệ sỹ đầu tiên thích ứng với cách sáng tác nàỵ Henderson đã giải quyết vấn đề này bằng cách sử dụng woodwind, brass, và phần cầm nhịp song song với việc sử dụng các nhạc cụ solo riêng biệt. Nền móng do ông tạo ra vẫn còn được sử dụng cho tới ngày naỵ

    Swing được phổ biến trong dân chúng Mỹ và cả toàn thế giới một cách rộng rãi đáng ngạc nhiên. Cả những người trưởng thành lẫn thanh niên đều yêu thích thứ nhạc nàỵ Các chuẩn mực về nhạc cụ cũng đã được hình thành trong thời điểm này và đã được sử dụng cho tới tận ngày hôm naỵ Nhạc cụ bao gồm phần saxophone(woodwind) gồm 5 nhạc cụ : hai alto, hai tenor, và một baritone; 4 kèn trumpet;4 trombone;và phần nhịp điệu bao gồm piano, guitar, đàn bass dây, và bộ gõ. Phần trumpet và trombone được gọi là bộ kèn đồng(brass). Chúng ta có thể không tưởng tượng là ban nhạc lớn nhất thời đấy đã có từ 30-40 ngườị Mặc dù nói rằng những nhạc cụ trên là “chuẩn” tuy vậy các ban nhạc vẫn tìm tòi để tạo ra những âm thanh của riêng mình. Đồng thời các ban nhạc lớn cũng cố gắng để tạo ra chuẩn mực riêng cho mình, ví dụ, Glenn Miller sử dụng clarinet để làm lead cho phần woodwind của mình, còn Woody Herman sử dụng 3 tenor và một baritone thay cho phần saxophone nói chung.
    Vào thời đó, dancing đã bắt đầu phổ biến và các ban nhạc lớn thường chơi để phục vụ dancing. Những điệu nhảy giật gân(jitterbug) đã phát triển trong thời kỳ swing này, tuy vậy, các ban nhạc lớn cũng rất thành thạo trong việc chơi các bản ballad đệm cho các điệu nhảy slow.
    Dancing và nghe các big swing band chơi nhạc là một lối thoát cho những người Mỹ chán nản thời thế lúc đó. Từ những thị trấn nhỏ cho đến những sảnh lớn đều có thể tụ tập tới 5000 người nhảy múạ Trong khi dancing, ngoài những người đang đam mê với các điệu nhảy của mình là những đám đông đứng sát sàn biểu diễn để nghe như những buổi biểu diễn Rock hoành tráng ngày naỵ
    Nền công nghiệp thu âm đã phát triển mạnh vào thời kỳ này và có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của swing. Để vừa vặn mới phần thời gian của đĩăkhoảng 2½ phút tới 3 phút), các band thường thu âm các bản nhạc đã được rút gọn lại và thành công trong các buổi diễn. Những chiếc đĩa này được nghe ở khắp mọi nơi, thậm chí là ở các máy hát tự động(juke-box) đặt ở khắp nơi trên đất Mỹ. Dân chúng Mỹ giờ đây đã có thể tham dự các buổi live-show của các ban nhạc mà họ hâm mộ hoặc nghe những bài hát mới nhất qua đĩạ
    Rất nhiều các ban nhạc nổi tiếng được mời ghi âm cho nhạc nền của film ở Holywood và Holywood cũng thường sử dụng các ban nhạc này để quảng cáo và làm cho các bộ film của mình thêm phần nổi tiếng.

    Một trong những band nhạc nổi tiếng nhất lúc bấy giờ là “King of Swing”, Benny Goodman (clarinet). Tiếng kèn của Gooodman đã là một chuẩn mực để các nhạc công lúc đó phải ngưỡng mộ và học tập theo ông. Song song với tiếng kèn tuyệt vời và khả năng lãnh đạo ban nhạc hoàn hảo, Goodmann đã góp phần phá vỡ hàng rào phân biệt chủng tộc trong lĩnh vực giải trí trên toàn thế giớị Bằng cách thuê những nghệ sỹ da đen tài năng như Lionel Hampton(vibraphone), Teđy Wilson(piano), cộng với việc không biểu diễn nếu không có đủ các thành viên của ban nhạc, Gooodman đã bắt buộc chính phủ phải phá vỡ hàng rào phân biệt chủng tộc của mình.

    Chúng ta hãy dừng lại với Gooodman ở một lời bình luận của tạp chí “T.V.guide” 15 tháng 3 năm 1986, “Goodman là một nghệ sỹ clarinet vĩ đại hơn bất cứ nghệ sỹ clarinet nàọ Có lẽ ông đã dành thời gian để trau chuốt tiếng kèn của mình gấp 15 lần toàn bộ ban nhạc của ông cộng lại …”
    Glenn Miller cũng là một nghệ sỹ trombone nổi tiếng lúc đó. Ban nhạc “In the Mood” của ông được coi là một trong những ban nhạc lớn nhất vào thời đó. Rất tiếc, Miller cũng như bao nghệ sỹ khác đã gia nhập quân đội chiến đấu vào những năm Thế chiến thứ II và đã hy sinh ở chiến trận.
    Còn rất nhiều các nghệ sỹ quan trọng đầy sáng tạo khác trong thời điểm này mà chúng ta chưa nhắc tới như William "Count" Basie (piano); Harry James (trumpet); Duke Ellington (piano/composer); Billie Holiday (vocal); Ella Fitzgerald (vocal); Woody Herman (clarinet/saxophone); Tommy Dorsey (trombone); Jimmy Dorsey (saxophone); Coleman Hawkins (saxophone); Lester Young (saxophone); và Artie Shaw (clarinet).
    Sự bắt đầu của cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ II cũng là điểm kết thúc của thời đại Big Swing Band. Xăng dầu và cao su để sản xuất lốp bị hạn chế vô cùng và các ban nhạc rất khó khăn trong việc di chuyển. Rất nhiều các nhạc công gia nhập quân đội, và các ban nhạc mất dần đi những tài năng của mình. Người Mỹ yêu thích những bản nhạc swing, nhưng Jazz đã đi bước tiếp theo trong sự phát triển của mình, BOP.

  9. #9
    Jun
    Guest

    Mặc định

    Chương 8 : BOP (1945-1950)

    Bop jazz(đôi khi được gọi là Be-bop hay Re-bop) là một cuộc cách mạng nghệ thuật so với loại nhạc đã sinh ra mình. Trong suốt thời đại của swing, các ban nhạc khá lớn và không phải không có những hạn chế của mình. Các nhạc công chơi bè khá gò bó nếu không ban nhạc sẽ chỉ phát ra những âm thanh lộn xộn. Tuy vậy, các nhạc công Bop đã thay đổi điều này bằng một cuộc cách mạng.

    Thế chiến thứ II đang quyết liệt và thế giới là một hành tinh đầy lo âu và xáo động. Nghệ thuật, vào thời điểm này phản ảnh chân thực xã hội và Bop phản ảnh những gì xảy ra trên thế giới. Bằng những ý tưởng loé lên trong đầu, một phong cách soạn phối âm giai điệu mới đã ra đời, một khái niệm tự do mới về nhịp điệu được hình thành và đã sẵn sàng đối đầu với swing để mở rộng Jazz.

    Các ban nhạc Jazz lớn thường sử dụng nhiều nhạc công, tuy nhiên Bop đã sử dụng phần nhịp điệu(piano,bass,bộ gõ…) giống hệt như Dixieland và thêm hai đến ba kèn hơi. Do các nhạc công của Bop muốn được chơi tự do hơn Swing, nhạc của họ được viết ra không cứng nhắc và phức tạp như Swing. Thông thường một ca khúc được soạn 8 nhịp, lặp lại, sau đó lại 8 nhịp tiếp theo, rồi lại 8 nhịp ban đầu theo cấu trúc AABA. Thông thường 32 nhịp đầu tiên không thay đổi và phần sau đó là do sự ngẫu hứng của các nhạc công. Bop được kết thúc bằng cách quay lại 32 nhịp đầu tiên. Bằng cách mở rộng giới hạn của giai điệu và hoà âm, thậm chí là các hợp âm được thay đổi thường xuyên trong mỗi lần biểu diễn, Bop đã mang lại một thứ nhạc mới mẻ.

    Phần nhịp điệu cũng đã thay đổi rất nhiều trong Bop. Trong thời của Swing, phần này dùng để gắn kết cả ban nhạc lại với nhau, nhưng với Bop mỗi nhạc công có một nhiệm vụ khác nhau và có thể chơi solo với nhạc cụ của mình. Bass dây trở thành người cầm nhịp và làm nền tảng cho toàn bộ hoà âm của bản nhạc. Bộ gõ cũng đã phong phú hơn nhiều với trống bass và chũm choẹ, snare drum để thêm những dấu nhấn. Bop đã được xây dựng trên quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, phản bác hoàn toàn lại người nghe lúc đó. Nếu mọi người thích thì tốt, không thích cũng tốt. Ban nhạc Bop thường mặc giống nhau, khác hẳn với cách trang điểm lúc đó. Cùng với Bop, từ “hợp thời” (hip và hipster) đã được nói tới thường xuyên.

    Hai người cần phải nhắc tới trong thời điểm này là Charlie "Bird" Parker (saxophone/composer) và Dizzy Gillespie (trumpet/composer). Cả hai nghệ sĩ đều có đóng góp rất lớn trong việc phát triển nghệ thuật ngẫu hứng và kỹ thuật chơi nhạc Jazz.
    Bop là một cuộc cách mạng đối với Swing, nhưng chưa hết, Cool lại là cả một cuộc cách mạng đối với Bop.

  10. #10
    Jun
    Guest

    Mặc định

    CHƯƠNG 9: COOL (1950-1955)

    Sau Thế chiến lần thứ II, rất nhiều các nhạc sỹ bị ép buộc phục vụ trong quân đội giờ đây đã có đủ điều kiện vào các trường Đại học theo một chương trình lần đầu tiên xuất hiện của chính phủ Mỹ, G.I.Bill. Cùng lễ tốt nghiệp ra trường của mình, các nhạc sỹ này đã mang những thành tố mới đến với Jazz. Cool Jazz đối lập hẳn với thứ nhạc trước nó, Bop. Nếu như Bop nhanh và thay đổi bất thường, Cool lại rất đằm, giản dị, thoải mái(laid-back), và êm dịu. Bop Jazz có thể ví như những màu tươi sáng như đỏ và xanh, trong khi Cool Jazz là những màu nhạt ví dụ xanh nhạt.

    Những ảnh hưởng của nhạc cổ điển có thể thấy rõ qua một số nhạc cụ vào thời kỳ này. Một số các nhạc cụ giao hưởng như oboe, bassoon(kèn fagôt), sáo French, và các loại sáo khác đã tham gia vào buổi trình diễn Jazz. Cool chỉ có một điểm chung với Bop, đó là để nghe chứ không phải để nhảy.
    Với sự phát triển trong công nghệ thu âm, giờ đây các ca sỹ đã có thể ghi những bài dài hơn(trước là từ 2½ tới 3 phút), do vậy, các nhạc sỹ đã tự do hơn trong việc sáng tác và nhất là những đoạn ngẫu hứng của mình. Độ dài của cả bản nhạc và đoạn ngẫu hứng đã được co giãn hơn nhiều. Giới hạn về số khuông nhạc dần bị phá bỏ và đoạn solo của các nghệ sỹ thường kết thúc khi họ cảm thấy đấy là điểm kết thúc.

    Một trong những nhạc công nổi tiếng nhất của thời đó, Dave Brubeck (pianist/composer), đã nói về cuộc đời mình như sau:
    “…Trước đây mọi người luôn nói về tôi “ Có lẽ anh ta có một dòng máu mang màu đen chảy trong người”. Tôi đã ở trường đại học, làm việc ở những nơi như Cool Corner ở Stockon, California. Tôi thường là người da trắng duy nhất ở trong câu lạc bộ. Không ai ở trường đại học có thể hiểu tại sao tôi lại làm việc ở đó…

    …Tôi có ảnh trên trang nhất của Time năm 1954, rất nhiều người nghĩ là sự nghiệp của tôi bắt đầu với album Time out, nhưng tôi không bao giờ có thể quên được những năm đầu tiên quan trọng đến mức nào. khi nhóm tứ tấu [Dave Brubeck Quarrtet] đầu tiên thành lập…

    …Tôi là người da trắng và đã biểu diễn khắp mọi nơi… Rất nhiều câu lạc bộ đã ngăn đôi với người da đen biểu diễn một bên và người da trắng ở một bên. Cũng không mất nhiều thời gian lắm để tấm màn đó có thể được xoá bỏ, tuy vậy tôi không chơi cho bất kỳ một câu lạc bộ nào khi vẫn còn phân biệt như thế…

    …Giống như Ellington, Louis Armstrong, và Beethoven, những lời phê phán cũng làm tôi khó chịu. Tuy vậy, tôi đã chơi cùng với một nhóm đông các nghệ sỹ cũng bị phê phán, và khi họ chơi hết mình, thật là khó tưởng. Những lời chỉ trích đôi khi cũng tốt… ”
    Một số các nghệ sĩ lớn cần phải kể đến trong thời kỳ này như : Miles Davis (trumpet); Gerry Mulligan (baritone saxophone); Stan Getz (Tenor Sax); Gil Evans (arranger); George Shering (piano); Paul Desmond (alto sax) [thành viên nhóm tứ tấu Dave Brubeck ]; Clark Terry (Fluegal Horn/ trumpet); Lee Konitz (alto sax), và John Coltrane (alto, tenor sax cũng là một nhạc sỹ tiên phong rất quan trọng).
    Dưới đây là một đoạn báo do Micheal Bourne viết để nói về nghệ sĩ nhạc Jazz, Gerry Mulligan :

    “Mulligan nói “Khi tôi là một đứa trẻ, thế giới của tôi đã tràn ngập âm nhạc từ chiếc radio. Tôi yêu các ban nhạc này. Tôi yêu Jazz, yêu nhạc cổ điển, tất cả những gì tôi nghe được”

    Vậy thì lúc nào anh ta biết rằng anh ta là một nhạc sỹ ??? “Dường như trong tôi đã có một ước muốn ngay từ nhỏ rằng tôi sẽ có một ban nhạc, tôi sẽ viết cho ban nhạc đó, sẽ chơi nhạc. Cho dù 100 năm, 1000 năm nữa niềm đam mê được viết những dòng nhạc sẽ không thay đổi…Tôi thực sự muốn vào trường học nhạc và học sáng tác nhưng tôi không có một cơ hội nào. Gia đình tôi nghĩ rằng tôi thật điên rồ, “Nó chỉ nghĩ linh tinh và đến ngày nào đó nó sẽ kiếm được một ý nghĩ tử tế hơn”. Nhưng không, không bao giờ tôi thay đổi. Đối với tôi âm nhạc là tất cả.
    Vào cuối những năm 1940, Mulligan đã trở nên nổi tiếng với vai trò nhạc công chơi baritonre lẫn nhà soạn nhạc. Miles Davids đã nói rằng vào lúc đó Cool đã ra đời.
    Gia nhập vào một ban nhạc gồm có 9 thành viên, một sự thay đổi lớn đã xảy ra. “ Tôi gia nhập vào một ban nhạc nhỏ vì tất cả các bạn tôi đều gia nhập vào các ban nhạc nhỏ. Đã hết thời của các ban nhạc lớn rồi.

    Với thuế “nghệ thuật” của chính phủ, Hiệp hội Âm nhạc đình công, sự thay đổi trong ban nhạc, một số ra đi, Mulligan đau xót nhìn ban nhạc yêu mến của mình tan rã dần dần.

    Gerry Mullian đã không còn trẻ nữa, 61 tuổi [vào năm 1988] và ông biết rằng bọn trẻ giờ đây không còn chăm chú lắng nghe radio và mơ ước có một ban nhạc của riêng mình nữa “Nếu không có sự nhiệt tình, bạn không thể làm được gì, nhất là âm nhạc, đó chỉ còn là một bãi rác mà thôi…”

    Vào cuối thập kỷ 50, Jazz đã tiến đến giới hạn của các loại nhạc phổ thông và một loại nhạc mới, Rock ‘n’ Roll đã dần trở thành món ăn âm nhạc yêu thích của người dân Mỹ. Jazz tiến vào những vùng sâu hơn mà âm nhạc phổ thông dừng bước. Jazz đã thành một thứ nghệ thuật thực sự, của riêng người Mỹ, không chỉ thành công ở Mỹ mà còn là một mảng nổi bật trong bức tranh âm nhạc của toàn thế giới.

+ Trả lời chủ đề
Trang 1/5 123 ... CuốiCuối

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Rock đây ! có ai thích rock thì vô em xem mặt cái !
    Gửi bởi nhocrockfan trong mục Rock
    Trả lời: 35
    Bài cuối: 07-03-2012, 10:42 PM
  2. Herbie Hancock - Wayne Shorter và Đêm nhạc Jazz trong mơ!
    Gửi bởi ot_khong_cay trong mục Có thể bạn chưa biết
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 28-11-2005, 01:56 AM
  3. Trả lời: 11
    Bài cuối: 13-05-2004, 05:53 PM
  4. Những sáng tạo quái gở của nhạc Rock
    Gửi bởi LaraC trong mục Jazz - Soul - Other
    Trả lời: 23
    Bài cuối: 02-01-2004, 12:47 PM
  5. tìm hiểu về rock
    Gửi bởi GRYFFINDOR trong mục Jazz - Soul - Other
    Trả lời: 11
    Bài cuối: 12-03-2003, 02:06 PM

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình


About svBK.VN

    Bách Khoa Forum - Diễn đàn thảo luận chung của sinh viên ĐH Bách Khoa Hà Nội. Nơi giao lưu giữa sinh viên - cựu sinh viên - giảng viên của trường.

Follow us on

Twitter Facebook youtube